Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

III. VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

-Sự tác động của ngoại thương đến phát triển lực lượng sản xuất được thể hiện qua các

chun mơn hóa sản xuất và phân công lao động xã hội. Phân cơng lao động xã hội càng

cao, chun mơn hóa càng sâu sắc, cũng có nghĩa là lực lượng sản xuất càng phát triển.

Ngoại thương với quy luật chi phối là lợi thế cạnh tranh đã hướng các hoạt động sản

xuất đi vào chuyên sâu trong việc sản xuất ra các hàng hóa, dịch vụ. Các sản phẩm có lợi

thế cạnh tranh cao nhất sẽ được các nước tập trung sản xuất, với các sản phẩm bất lợi họ

sẵn sang nhập khẩu từ các nước khác và dành việc sản xuất chúng cho những nước có

điều kiện thuận lợi hơn. Sự phân công lao động quốc tế tư đâu nảy sinh và không ngừng

tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hiện đại.

Như đã đề cập, phân công lao động quốc tế là điều kiện tiên quyết để phát triển ngoại

thương. Điều này đã đẩy nhanh q trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất đang diễn ra

đồng bộ ở tất cả các quốc gia và hầu hết các lĩnh vực khác nhau của quan hệ kinh tế quốc

tế. Thông qua cầu nối thương mại quốc tế, các nước dù ở trình độ phát triển khác nhau

đều có thể thực hiện sự hợp tác, phân cơng lao động quốc tế chặt chẽ theo hướng chun

mơn hóa ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh về cùng một sản

phẩm hay nhiều loại sản phẩm, nhiều chi tiết sản phẩm khác nhau… từ đó, các nghành,

lĩnh vực sản xuất của từng nước không ngừng được cơ cấu lại theo yêu cầu của chun

mơn hóa và dần tới một cơ cấu ngày càng hiện đại.

-Với vấn đề hợp tác quốc tế về đầu tư và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, ngoại

thương cũng có quan hệ chặt chẽ, là yếu tố chi phối quan hệ hợp tác này. Thông thường,

bất kỳ một nước nào trước khi quyết định cần hợp tác về đầu tư với ai, trong lĩnh vực

kinh doanh nào đều phải căn cứ vào mục tiêu đặt ra trước đó, trong đó có xuất khẩu và

nhập khẩu là một mục tiêu rất quan trọng thường được các bên đối tác đầu tư đặc biệt

quan tâm. Qúa trình này chỉ thường diễn ra một chiều từ các nước phát triển sang các

nước kém phát triển và đang phát triển. Những nghành và lĩnh vực nào trong nước được

đầu tư nước ngoài chú ý sẽ ngày càng phát triển theo hướng HĐH và không ngừng

chuyển dịch trong cơ cấu của nền kinh tế.

Đối với hợp tác quốc tế về khoa học-công nghệ, như đã biết, đó là các kinh doanh

chun mơn hóa và hợp tác hóa ở tầm quốc tế trong lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu khoa

học và trao đổi cơng nghệ. Có nhiều phương thức, con đường khác nhau để thực hiện

họat động kinh tế đối ngoại, trong đó thông qua ngoại thương với các hoạt động xuấtnhập khẩu là một trong những phương thức, con đường mang lại hiệu quả cao trong việc

chuyển giao giữa các nước với nhau về các kết quả, thành tựu phát triển khoa học-cơng

nghệ. Có thể nói sự tác động của khoa học-cơng nghệ có tác động trực tiếp và thể hiện rõ

nét nhất trong việc cấu trúc lại nền kinh tế của một nước theo hướng CNH, HĐH.



2. Nâng cao hiệu quả của nền kinh tế mở qua việc cải thiện cán cân thanh toán quốc

tế, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, và mở rộng các quan hệ kinh tế đối

ngoại.

Cán cân thanh toán quốc tế là bản quyết tốn tổng hợp tồn bộ các mối quan hệ kinh tế

đối ngoại của một nước. Cấu thành các cân thanh tốn quốc tế bao gồm nhiều bộ phận,

trong đó cán cân ngoại thương (hay còn gọi à cán cân mậu dịch hay cán cân hữu hình) là

một bộ phận cấu thành quá trình nhất. Trong cán cân ngoại thương thì cán cân thanh tốn

vãng lai (do cán cân dịch vụ và cán cân chuyển tiền đơn phương hợp thành) lại giữ vai trò

quan trọng nhất. Sự dư thừa hay thiếu hụt của nó có tác động trực tiếp đến cung-cầu

ngoại tệ trên thị trường ngoại hối của một nước, nghĩa là trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ giá

của các ngoại tệ so với đồng nội tệ của nước đó. Như vậy, phát triển hoạt động ngoại

thương góp phần cải thiện cán cân thanh tốn quốc tế, thơng qua đó, nó điều tiết đến tỷ

giá, lạm phát và vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô của một đất nước.

Song song với sự phát triển của hoạt động ngoại thương hữu hình, các hoạt động ngoại

thương vơ hình cũng khơng ngừng gia tăng, sôi động như: Du lịch quốc tế, GTVT quốc

tế, thông tin liên lạc quốc tế, bảo hiểm quốc tế, dịch vụ kiều hối… Các hoạt động này

không chỉ làm tăng hiệu quả của hoạt động ngoại thương mà nó còn có những tác động

tích cực thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại khác phát triển. Các hoạt động kinh tế

đối ngoại khác, nếu đạt được hiệu quả tốt, đến lượt mình lại tác động tích cực trở lại để

ngoại thương tiếp tục phát triển tốt hơn và do đó sẽ tiến tới mục tiêu là tất cả các hoạt

động kinh tế đối ngoại đều đạt được hiệu quả ngày càng cao hơn trở thành động lực trực

tiếp cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh.

3. Góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống thực tế cho các

tầng lớp dân cư.

Đây là những tác động tích cực tất yếu của ngoại thương đến phát triển kinh tế mỗi

quốc gia. Rõ ràng, thông qua ngoại thương, các nước khơng chỉ có lợi về mặt ngoại tệ thu

được qua hoạt động xuất-nhập khẩu mà quan trọng hơn là phát triển sản xuất trong nước,

tạo việc làm cho người lao động. Trong phát triển kinh tế, thất nghiệp bao giờ cũng là

một vấn đề bức xúc đối với mỗi quốc gia. Thất nghiệp gia tăng sẽ tạo ra sức ép lớn không

chỉ về mặt kinh tế mà cả mặt chính trị, ổn định xã hội. Bài tốn thất nghiệp ln được

chính phủ các nước quan tâm tìm lời giải. Qua hoạt động ngoại thương, phần nào đã tháo

gỡ được khó khăn này với việc phát triển kinh doanh trong nước phục vụ xuất khẩu, phát

triển các nghành nghề liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư quốc tế… Từ chỗ việc làm

được giải quyết, thu nhập thực tế và mức sống của dân cư được nâng cao, sẽ tạo ra các

khối vững chắc cho nền kinh tế phát triển trên cả hai phương diện, kinh tế và xã hội.

Tóm lại qua phần này, chúng ta đã đi sâu vào tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản cho

quá trình hình thành, phát triển ngoại thương, những chiến lược được đúc rút từ kinh



nghiệm thực tiễn từ các nước và thấy được vai trò của nó đối với tăng trưởng, phát triển

kinh tế.



PHẦN II.

THỰC TRẠNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

I. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM TRƯỚC

NĂM 1986

-Thời bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn mà hầu hết sinh

hoạt kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ

nghĩa cộng sản. Theo đó thì kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ nhường chỗ cho kinh tế do nhà

nước chỉ huy. Mặc dù kinh tế do nhà nước chỉ huy đã tồn tại ở miền bắc dưới chế độ Việt

Nam dân chủ cộng hòa từ trước năm 1975, song thời kì bao cấp thường được dùng để chỉ

sinh hoạt kinh tế cả nước việt nam ở giai đoạn đầu năm 1976 đến cuối năm 1986 trên

toàn quốc tức là trước thời kỳ đổi mới.

-Trong nền kinh tế kế hoạch thương mại tư nhân bị loại bỏ, hàng hóa được phân phối

theo chế độ tem phiếu do nhà nước nắm toàn bộ quyền điều hành, hạn chế thủ tiêu việc

mua bán trên thị trường hoặc vận chuyển tự do hàng hóa từ địa phương này sang địa

phương khác. Nhà nước có quyền phân phối hàng hóa, hạn chế trao đổi bằng tiền mặt.

Chế độ hộ khẩu được thiết lập trong thời kì này để phân phối lương thực, thực phẩm theo

đầu người, tiêu biểu nhất là số gạo ấn định số lượng và mặt hàng được phép mua. Trong

nền kinh tế như vậy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu cũng phải mang bản sắc của

nền kinh tế kế hoạch hóa tập chung tức là Việt Nam tiến hành xuất khẩu những sản phẩm

hàng hóa mà mình có chứ khơng phải xuất những gì mà thị trường thế giới đòi hỏi. Với

phương thức hoạt động xuất nhập khẩu như vậy không nhất thiết cần phải có chiến lược

phát triển thương mại quốc tế. Điều đó đã tạo ra tính ỷ lại, thiếu chủ động , thiếu năng

động sáng tạo trong hoạt động kinh doanh. Hậu quả doanh nghiệp Việt Nam phải chịu

đựng những tổn thất to lớn trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Hàng của

Việt Nam trong thời kì này khơng đủ cạnh tranh trên thị trường thế giới về chất lượng

mẫu mã kiểu dáng. Đông Âu sụp đổ vào cuỗi 1980 đầu 1990 Việt Nam bị mất hầu hết

những thị trường truyền thống buộc chúng ta phải làm lại từ đầu.

*. Từ năm 1975 đến 1986

-Đất nước thống nhất, Việt Nam có điều kiện và khả năng khai thác một cách triệt để

các thế mạnh, các tiềm năng còn tiềm ẩn để phát triển kinh tế để từ đó có điều kiện để



đẩy mạnh sản xuất, du lịch, các dịch vụ thu ngoại tệ, mở rộng các hợp tác kinh tế, khoa

học kĩ thuật với các nước, thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài để phục vụ cho quá trình

phát triển kinh tế của mình. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi thì chúng ta cũng có

những khó khăn rất lớn và những thách thức mới chúng tác động rất mạnh đến q trình

phát triển kinh tế nói chung với ngoại thương nói riêng. Khó khăn đầu tiên là trình độ

phát triển kinh tế của ta quá thấp cơ sở vật chất kỹ thuật kém, nghèo nàn , lạc hậu, kinh tế

hàng hóa chưa phát triển, nền kinh tế bị lệ thuộc nhiều vào nước ngồi , chưa có tích lũy

từ nội bộ nền kinh tế. Đất nước chúng ta phải trải qua một thời gian dài chiến tranh liên

miên nó vừa tàn phá nền kinh tế, tàn phá cơ sở hạ tầng, vừa làm chậm quá trình phát triển

đất nước làm cho chúng ta tụt hậu rất xa so với các nước trên thế giới. Sau khi Việt Nam

hoàn toàn thống nhất đại hội đảng lần thứ 4 đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội

của Việt Nam là phấn đấu hoàn thành về cơ bản quá trình đưa kinh tế nước ta từ sản xuất

nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong khoảng thời gian 20 năm và chủ trương đẩy

mạnh công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển cơng nghiệp một cách hợp lí trên cơ sở phát

triển nơng nghiệp và cơng nghiệp nhẹ . Từ quan điểm chiến lược này chính sách kinh tế

đối ngoại của Việt Nam nhìn chung vẫn dựa chủ yếu vào sự hợp tác với các nước trong

hệ thống xã hội chủ nghĩa mở rộng và tăng cường hợp tác tồn diện với Liên Xơ và phát

triển hợp tác với các nước trong hội đồng tương trợ kkinh tế theo hướng liên kết kinh tế

xã hội chủ nghĩa…. Đồng thời mở rộng thích đáng quan hệ kinh tế với các nước ngoài hệ

thống xã hội chủ nghĩa . Toàn dân ra sức tăng xuất khẩu để nhập khẩu. Chúng ta đã có

bước chuyển biến mới là mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực 2 là những nước

thuộc hẹ thống tư bản chủ nghĩa những nước đang phát triển hoặc những vùng lãnh thổ

có nền kinh tế phát triển cao. Chúng ta đã kí nhiều hiệp định buôn bán song phương mới

nâng tổng số bạn hàng có quan hệ với ta lên hơn 100 nước trong năm 1985 tạo điều kiện

để đến năm 1985 kim nghạch xuất khẩu đạt 2555,9 triệu đô la tăng gấp 2 lần so với năm

1975 và có tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 8% một năm.

- Tháng 9/1977 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của liên hợp quốc, liên hợp

quốc đã kêu gọi các thành viên của tổ chức này giúp dỡ Việt Nam nhờ vậy Việt Nam đã

nhận được từ các quỹ trong hệ thống phát triển của LHQ khoản vốn ODA khơng hồn lại

là 500 triệu USD. Nhờ có khoản vay hết sức quý báu này trong điều kiện chúng ta bị bao

vây cấm vận của các thế lực thù địch chúng ta đã sử dụng nó để thể hiện một số chương

trình hợp tác viện trợ và đào tạo giúp chúng ta có thể tiếp cận được với tri thức và công

nghệ hiện đại, tiên tiến, đào tạo một cách cơ bản đội ngũ cán bộ khoa học và quản lí

-Trong giai đoạn 1975-1986, nguyên tắc làm nền tảng cho việc hình thành cơ chế quản lí

và tổ chức hoạt động ngoại thương là nhà nước độc quyền về ngoại thương với nội dung

chủ yếu:

+Các hoạt động ngoại thương đều được kế hoạch hóa với một hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh

chặt chẽ và được chỉ đạo tập trung từ trung ương .



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×