Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong đó có chương XII về BHXH. Đi kèm với Bộ luật lao động là nghị định

số 12/CP ngày 26/1/1995 điều chỉnh BHXH đối với NLĐ với nội dung cơ

bản đổi mới thể hiện trên các mặt:

- BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng có hưởng, đối tượng tham gia

BHXH bao gồm cả NLĐ (NLĐ) làm công ăn lương trong các doanh nghiệp

cơ quan, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế. Điều này tạo sự bình đẳng

giữa những NLĐ làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau.

- Đã hình thành được quỹ BHXH trên cơ sở đóng góp của 3 bên:

NSDLĐ đóng 15%, NLĐ đóng 5% và sự bảo hộ của Nhà nước, quỹ BHXH

được thành lập độc lập với NSNN. Với sự cải cách này, BHXH ở Việt Nam

đã đảm bảo thực hiện nguyên tắc có đóng có hưởng, dần dần xóa bỏ bao cấp

từ Nhà nước về BHXH.

- Tổ chức thực hiện chế độ BHXH, với 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai

nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.

- Về tổ chức quản lý: Hệ thống BHXH Việt Nam được hình thành từ

Trung ương đến cấp địa phương và thống nhất đi vào hoạt động từ

01/10/1995.

Cũng vào thời gian đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/CP vào

ngày 16/2/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam với những chức năng,

nhiệm vụ quyền hạn tổ chức, thực hiện chính sách và quản lý quỹ BHXH.

Từ đây, quỹ BHXH Việt Nam được quản lý thống nhất trong cả nước.

Trong những năm tiếp theo, Chính phủ còn ban hành thêm rất nhiều

nghị định trong đó đưa ra những điều chỉnh trong chính sách BHXH ngày

càng phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới. Đặc

biệt, năm 2006, Luật BHXH được ban hành kèm theo Nghị định

152/2006/NĐ-CP đánh dấu bước ngoặc lớn cho BHXH Việt Nam. Tiếp nối

Luật BHXH 2006 là các thông tư, nghị quyết, nghị định được ban hành, đưa

ra những chính sách mới, những cải cách mới, bổ trợ cho những thiếu sót

hay bất cập của Luật BHXH đã ra đời trước đó.

Nhìn chung: Việc cải cách BHXH là phù hợp với tình hình thực tế nước

ta khi mà xu hướng của Đảng và Nhà nước ta là tiến hành thực hiện mở rộng

chính sách BHXH đến mọi người dân, từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho

NLĐ ở các thành phần kinh tế tham gia BHXH. Có thể thấy trong giai đoạn

này:



+ Đối tượng tham gia BHXH từng bước được mở rộng: Thông qua

bảng số liệu dưới đây cho thấy được hoạt động của chính sách BHXH ở

nước ta trong thời gian vừa qua :

Bảng 1: Tình hình tham gia BHXH từ năm 1995-2008.

Số người tham gia Lượng tăng giảm tuyệt

Năm



BHXH



đối liên hồn (Nghìn



1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007



(Nghìn người)

2.276

3.222

3.560

3.755

3.959

4.276

4.476

4.845

5.387

5.820

6.228

6.751

8172



người)

….

946

338

195

204

317

200

369

542

433

408

523

1421



2008



8527



355



Tốc độ tăng trưởng

liên hồn (%)

…..

41,56

10,49

5,48

5,43

8,01

4,68

8,24

11,19

8,04

7,01

8,4

21,05

4,34



(Nguồn: BHXH Việt Nam )

Qua số liệu bảng 1, cho thấy: Mặc dù việc thực hiện chính sách BHXH

ở nước ta ngày một có hiệu quả thể hiện ở số người tham gia BHXH không

ngừng tăng lên theo từng năm nhưng tốc độ tăng trưởng liên hồn lại tăng

giảm khơng đều. Có những năm số lượng người tham gia tăng lên rất cao:

như năm 2007 cao hơn cả với số người tham gia BHXH tăng 1421 nghìn

người tương ứng với 21,05%, năm 1996 số người tham gia BHXH tăng so

với năm 1995 là 41,56% tương ứng 946 nghìn người. Nhưng lại có những

năm số lượng người tham gia BHXH tăng lên rất ít như: năm 1998 tốc độ

tăng trưởng là 5,48% tương ứng 195 nghìn người về số tuyệt đối, năm 2001

tốc độ tăng trưởng của số người tham gia BHXH là 4,68% tương ứng là 200

nghìn người.

Như vậy, năm 1995 có khoảng 2.276 nghìn người tham gia BHXH thì

đến năm 2008 số người tham gia BHXH tăng lên hơn 8527 nghìn người.

Nếu tính trong cả 14 năm qua số người tham gia BHXH đã tăng lên là 6251

nghìn người.



(Nguồn: Tổng hợp từ BHXH VN)

Việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH ở nước ta ngày một mở

rộng đến NLĐ ở các thành phần kinh tế khác nhau. Số lượng người tham gia

BHXH ngày một tăng cho thấy được sự nhận thức của NLĐ về BHXH đã

được nâng lên rất nhiều; đồng thời cũng thể hiện chính sách của Đảng và

Nhà nước ngày càng quan tâm, chăm lo và đáp ứng nhu cầu của người dân

khi tham gia. Điều này càng thể hiện rõ hơn khi mà nền kinh tế nước ta đang

trong xu hướng cổ phần hóa các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

theo định hướng Xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.

+ Tách bạch hoạt động của sự nghiệp thu chi quản lý quỹ BHXH ra khỏi

chức năng quản lý Nhà nước. Quỹ BHXH được hạch toán độc lập trên cơ sở

và nguyên tắc của cân bằng thu chi nhằm: Đảm bảo sự công bằng và bình

đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ BHXH cho mọi NLĐ.

+ Quỹ BHXH tập trung thống nhất độc lập với NSNN thực hiện theo cơ

chế tự quản của 3 bên tham gia NLĐ, NSDLĐ và sự bù thiếu của Nhà nước

là phù hợp với tình hình thực tế ở nước ta từ đó tạo điều kiện cho sự chỉ đạo

kịp thời của Chính phủ được tập trung, kịp thời. Đồng thời trở thành nguồn

quỹ dự phòng rất quan trọng giúp Nhà nước đầu tư phát triển kinh tế, xã hội.

Tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho NLĐ và thực hiện điều tiết xã hội trong

lĩnh vực BHXH.

+ Hệ thống BHXH Việt Nam được quản lý tập trung thống nhất từ Trung

ương đến địa phương nhằm chun mơn hố việc tổ chức thực hiện các



chính sách BHXH. Hệ thống tổ chức mới của BHXH Việt Nam đã đi vào nề

nếp với tổ chức bao gồm ba cấp:

- Cấp Trung ương là BHXH Việt Nam.

- Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) trực

thuộc BHXH Việt Nam.

- Cấp quận huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện)

là BHXH huyện, thị xã, thị trấn, quận, thành phố trực thuộc trung ương.

Có thể nói, mơ hình tổ chức thống nhất quản lý các chế độ BHXH về

một đầu mối là phù hợp với tình hình thực tế nước ta, giảm bớt phiền hà cho

cho người sử dụng lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ có điều kiện

tham gia đầy đủ và nhanh chóng vào hệ thống BHXH. Đây cũng là một

thành công bước đầu trong công cuộc đổi mới BHXH ở nước ta theo cơ chế

của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được các nước trên

thế giới, trong khu vực và tổ chức lao động quốc tế - ILO đánh giá là hoạt

động có hiệu quả.

II. Thực trạng của công tác thu BHXH ở Việt Nam từ năm 1995 đến

nay

1. Kết quả công tác thu bảo hiểm xã hội từ năm 1995 đến năm 2008:

Một số kết quả của công tác thu là việc không ngừng tăng lên của nguồn

tài chính BHXH, quỹ BHXH được tập trung thống nhất, hạch toán độc lập

với ngân sách Nhà nước vào một đầu mối do BHXH Việt Nam trực tiếp

quản lý và từng bước độc lập với Ngân sách Nhà nước. Số thu BHXH của

quỹ ngày một tăng lên, năm sau cao hơn năm trước đồng thời cũng giảm

được nguồn chi. Theo tính tốn đến năm 2020 cơ bản ngân sách Nhà nước

khơng phải bao cấp, vì cán bộ, cơng chức, NLĐ đã tham gia đóng góp xây

dựng quỹ BHXH.

Về tình hình triển khai kế hoạch thực hiện số thu đóng BHXH cũng

được cơ quan BHXH quan tâm, chú trọng. Dưới đây là bảng số liệu thống kê

tình hình thực hiện kế hoạch thu của cơ quan BHXH qua các năm.

Bảng 2- Tình hình thực hiện kế hoạch thu BHXH từ 1995-2008

Năm



Kế hoạch thu

(Tỷ đồng)



Kết quả thực hiện

(Tỷ đồng)



Tỷ lệ hồn

thành

(%)



6 tháng cuối

năm1995



….



788,486



….



1996



2.197,235



2.569,733



116,95



1997



3.014,229



3.514,361



116,59



1998



3.815,190



3.898,496



102,18



1999



4.100,795



4.186,055



102,08



2000



5.100,355



5.198,222



101,92



2001



6.200,000



6.348,185



102,39



2002



6.420,455



6.963,023



108,45



2003



10.382,697



11.488,350



106,49



2004



11.662,352



12.929,000



108,61



2005



13.570,893



14.491,000



106,78



2006



18,385,910



19.000,000



103,34



2007



28,357,000



28.991,000



102,23



2008



37.311,000



38.057,000



101,99



(Nguồn Bảo hiểm xã hội Việt Nam)

Thơng qua bảng 2 cho thấy, số tiền BHXH Việt Nam dự toán thu tăng

dần qua các năm và kết quả thực hiện của công tác thu BHXH của cơ quan

BHXH Việt Nam từ năm 1996 đến nay luôn vuợt chỉ tiêu so với kế hoạch đề

ra. Điều này cho thấy trách nhiệm, sự nỗ lực quyết tâm phấn đấu của ban thu

BHXH nói chung và cán bộ chuyên thu của ngành BHXH Việt Nam nói

riêng ngày một tăng, ln tận tình với cơng việc nhằm đảm bảo cho nguồn

quỹ BHXH được tăng trưởng. Đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng và

Nhà nước, các cơ quan ban ngành chức năng liên quan đã phối hợp với cơ

quan BHXH Việt Nam và tạo điều kiện để cán bộ chuyên thu của cơ quan

BHXH hoàn thành tốt kế hoạch đã đề ra.

Dưới đây là bảng số liệu thống kê tình hình thu BHXH Việt Nam từ 6

tháng cuối năm 1995 đến năm hết năm 2008.

Bảng 3: Tình hình thu BHXH Việt Nam từ 6 tháng cuối năm 1995

đến hết năm 2008

Chỉ tiêu

Năm



Số thu BHXH

(Tỷ đồng)



Lượng tăng

(giảm) tuyệt đối liên

hoàn

(Tỷ đồng)



6 tháng cuối năm1995



788,486



….



….



1996



2.569,733



…..



….



1997



3.514,361



944,628



36,76



Tốc độ tăng

(giảm) liên hoàn

(%)



1998



3.898,496



384,135



10,93



1999



4.186,055



287,559



7,38



2000



5.198,222



1.012,167



24,18



2001



6.348,185



1.149,963



22,12



2002



6.963,023



614,838



9,69



2003



11.488,350



4.525,327



64,99



2004



12.929,000



1.440,650



12,54



2005



14.491,000



1.562,000



12,08



2006



19.000,000



4.509,000



31,12



2007



28.991,000



9.991,000



52,58



2008



38.057,000



9.066,000



31,27



(Nguồn BHXH Việt Nam)

Như vậy, kết quả thu BHXH từ 6 tháng cuối năm 1995 đến hết năm

2008, BHXH Việt Nam đã thu được 148.082,911 tỷ đồng đây là một số tiền

khơng nhỏ đã góp phần đảm bảo cho quỹ BHXH Việt Nam thực hiện tốt các

chế độ cho NLĐ nằm trong chính sách BHXH của nước ta trong thời gian

qua và là cơ sở tạo tiền đề vững chắc cho công việc thực thi chính sách

BHXH trong thời gian tới.



(Nguồn : Tổng hợp từ BHXH VN)

Theo số liệu bảng 3 và hình 2 cho thấy, mặc dù những năm qua số thu

BHXH năm sau cao hơn năm trước nhưng lượng tăng (giảm) tuyệt đối và

tốc độ tăng trưởng liên hồn lại tăng khơng đều, có những năm tốc độ tăng

trưởng tăng lên rất cao như: năm 1997 số thu tăng cao so với năm 1996 là

944,628 tỷ đồng tương ứng tăng 36,76%, năm 2000 số thu BHXH tăng so

với năm 1999 là 1.012,167 tỷ đồng tương ứng tăng 24,18%, năm 2001 tốc

độ tăng trưởng là 22,12% tương ứng với số thu tăng so với năm 2000 là

1.149,963 tỷ đồng, năm 2003 tốc độ tăng trưởng là 64,99%tương ứng với số

thu tăng so với năm 2002 là 4.525,327 tỷ đồng. Nhưng bên cạnh đó có

những năm số thu tăng không cao làm cho tốc độ tăng trưởng thấp như năm

1999 tốc độ tăng trưởng là 7,38% tương ứng với số thu tăng so với năm

1998 là 287,559 tỷ đồng, năm 2002 tốc độ tăng trưởng là 9,69% tương ứng

với số thu tăng so với năm 2001 là 614,838 tỷ đồng.

Nhìn chung, cơng tác thu BHXH qua những năm này đã đạt được những

kết quả rất tốt ln hồn thành trên 100% kế hoạch hàng năm đề ra. Trong

đó có những năm ban thu BHXH Việt Nam đạt tỷ lệ hoàn thành về số thu so

với kế hoạch đề ra rất cao như: năm 1996 tỷ lệ hoàn thành là 116,95%, năm

1997 tỷ lệ hoàn thành số thu BHXH là 116,59%, năm 2002 tỷ lệ hoàn thành

về kế hoạch thu BHXH là 108,45%, năm 2004 tỷ lệ hồn thành kế hoạch thu

BHXH là 108,61%. Qua đó cho thấy, công tác thu BHXH đã được quan tâm

và chú trọng hơn nhằm đảm bảo cho nguồn quỹ BHXH tránh được những



thất thu, thất thoát đáng tiếc xảy ra. Do vậy mà tổng thu BHXH liên tục tăng

qua các năm, với số thu năm sau cao hơn năm trước, đây cũng thể hiện rõ số

người tham gia BHXH từ năm 1995 đến năm 2006 luôn tăng lên, điều này

cũng nói nên chính sách của Đảng và Nhà nước đã và đang đi đúng hướng

và mục tiêu chính sách BHXH đã và đang được mở rộng đến với NLĐ.

2.Những tồn tại trong công tác thu BHXH:

Kết quả thu BHXH hàng năm có tăng lên, nhất là sau khi Luật BHXH

bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01/01/2007. Cho đến cuối năm 2008, tổng thu

BHXH là 38057 tỷ đồng, đó là 1 con số đáng chi nhận. Tuy nhiên, trong thời

gian vừa qua, thực tế còn một số tồn tại bất cập vẫn chưa giải quyết được,

nổi lên là vấn đề các doanh nghiệp chậm, nợ đóng BHXH, nhất là khi tình

hình kinh tế có nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp thiếu việc làm, khơng

có khả năng thanh tốn tiền lương, đóng BHXH và trả tiền trợ cấp mất việc

làm, thơi việc cho người lao động. Do đó ngày càng có nhiều doanh nghiệp

nợ BHXH, và người lao động có nguy cơ trắng tay khi mất việc làm.



Tại Hội thảo đánh giá 2 năm thực hiện Luật BHXH ngày 5/3/2009 vừa

qua, lãnh đạo Vụ BHXH cho biết, trong 2 năm 2007 và 2008, tổng số tiền nợ

đóng BHXH là gần 4000 tỷ đồng. Cụ thể trong năm 2007, tổng số tiền nợ

đóng BHXH là 1734 tỷ đồng (chiếm 7,7% tổng số phải thu theo chỉ tiêu

được giao và năm 2008 là 2000 tỷ đồng (chiếm 7% tổng số phải thu theo chỉ



tiêu được giao). Trong đó, số tiền nợ đóng cả 2 năm tập trung chủ yếu ở khu

vực doanh nghiệp, với doanh nghiệp ngồi quốc doanh chiếm 35%, doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 33% tổng số tiền chậm đóng, nợ

đóng BHXH.

Thực tế các doanh nghiệp khơng đóng BHXH dưới nhiều hình thức như

khơng đóng tiền BHXH cho NLĐ, thu tiền BHXH của NLĐ nhưng khơng

đóng, khơng đúng thời gian quy định... Thậm chí số tiền ấy lên đến hàng tỷ

đồng, kéo dài nhiều năm, cơ quan quản lý nhà nước đã khởi kiện, thanh tra,

xử phạt, khởi kiện ra tòa nhưng rồi cũng khơng giải quyết được dứt điểm

làm ảnh hưởng đến quyền hưởng lợi BHXH của NLĐ. Chỉ riêng trên địa bàn

Hà Nội, tính đến hết tháng 5/2008, có 166 đơn vị nợ tiền BHXH, BHYT cho

NLĐ, với số tiền lên đến 126,6 tỷ đồng (đơn vị nợ ít nhất cũng từ 200 triệu

đồng trở lên).

Còn tại TP HCM - nơi tập trung số lượng doanh nghiệp và NLĐ lớn nhất

nước cũng là điển hình về tình trạng nhiều chủ doanh nghiệp chây ỳ đóng

BHXH cho NLĐ. Theo thống kê ngày 17/9/2008 của Phòng kiểm tra thuộc

cơ quan BHXH thành phố, hiện có 74 DN đang nợ BHXH với tổng số tiền

hơn 57 tỷ đồng. Có thể điểm mặt một số DN nợ lớn như: Công ty TNHH

giày Anjin (nợ hơn 6,2 tỷ đồng), Công ty CP may Sài Gòn 2 (nợ hơn 6,2 tỷ

đồng), Cơng ty TNHH AMW Việt Nam (nợ 2,74 tỷ đồng), Công ty TNHH

may Dục Quân (nợ gần 2,3 tỷ đồng), Công ty TNHH IIshin Womo (nợ gần

1,8 tỷ đồng), Công ty TNHH Ga Eun Vina (nợ hơn 1,7 tỷ đồng), Công ty

TNHH Global cybersoft Việt Nam (nợ hơn 1,3 tỷ đồng). Điều đáng chú ý

chính là thái độ bất hợp tác của các doanh nghiệp, chẳng hạn Công ty TNHH

giày Anjin và Công ty TNHH đồ chơi quốc tế Lucky Việt Nam đều khơng

chấp nhận hòa giải. Riêng Cơng ty TNHH Vina Haeng Woon Industry vắng

mặt trong phiên hòa giải sáng 22/9/2008. Còn Cơng ty Kwangnam (phường

9, quận Phú Nhuận), tháng 6/2008 vừa qua, TAND quận Phú Nhuận tuyên

buộc Công ty Kwangnam phải trả một lần số tiền nợ hơn 7 tỷ đồng cho



BHXH thành phố. Thời hạn cuối cùng để thi hành án là ngày 19/9/2008. Thế

nhưng, thời hạn cuối cùng đã trôi qua mà Công ty Kwangnam vẫn không

chịu trả nợ.

Có thể nói, tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH diễn ra khá phổ biến ở

tất cả các tỉnh thành. Với những “con nợ khó đòi”, thêm vào đó là không đủ

nhân lực để tiến hành kiểm tra, xử lý vi phạm chưa thực sự thỏa đáng, khơng

đủ tính răng đe dẫn đến thực tế là nợ mẹ chồng nợ con, nợ năm cũ chưa giải

quyết được đã phát sinh thêm nợ mới. Trong khi đó, khả năng “đòi được nợ”

từ phía doanh nghiệp của BHXH ở các tỉnh thành rất hạn chế và số doanh

nghiệp chịu móc hầu bao để trả nợ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chính vì vậy,

cần có những giải pháp thực sự hợp lý trong tình hình mới từ phía Nhà nước,

BHXH cùng các cơ quan ban ngành liên quan để giải quyết tình trạng nợ

đóng, chậm đóng BHXH để bảo vệ lợi ích của người lao động và cũng là

bảo đảm phúc lợi xã hội.



CHƯƠNG III - MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ GIẢI PHÁP NHẰM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

Ở VIỆT NAM

Đứng trước tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH ngày càng phổ biến

như hiện nay Chính phủ và Cơ quan BHXH cần phối hợp để đưa ra các giải

pháp mang tính đồng bộ và thích hợp để đảm bảo nguồn quỹ chi trả cho các

chính sách BHXH. Cụ thế là:

1. Các giải pháp từ phía chính phủ:

 Nhà nước nên áp dụng việc thu nộp BHXH thông qua thu nộp thuế

từ các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động:

Nhà nước nên áp dụng và cho phép cơ quan BHXH Việt Nam phối hợp

với ban thu thuế Nhà nước yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh trong và

ngoài quốc doanh ngoài việc đăng ký kinh doanh phải đăng ký mã số thuế và

số người lao động, đồng thời khi có sự thay đổi về số lượng lao động phải

thông báo cho cơ quan BHXH biết, cơ quan này sẽ lập danh sách chi tiết gửi

ban thu thuế Nhà nước có trách nhiệm thu nộp. Hàng tháng, hàng quý và

cuối năm các doanh nghiệp phải đóng thuế cho cơ quan thuế Nhà nước bao

gồm cả số tiền đóng quỹ BHXH cho người sử dụng lao động và người lao

động thì cơ quan thuế mới chấp nhận việc thu nộp này. Cách làm trên sẽ

tránh được việc nợ cũng như trốn đóng BHXH bởi khơng nộp thuế doang

nghiệp sẽ bị coi là vi pham pháp luật của Nhà nước và luật kinh doanh.

 Tăng cường các biện pháp chế tài xử phạt đối với các trường hợp

vi phạm nghĩa vụ thu nộp BHXH cho người lao động:

Ngày 16/08/2007, Chính phủ đã ra Nghị định 135/2007/NĐ-CP Quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH tuy nhiên mức phạt cao

nhất chỉ mới dừng lại ở 20 triệu đồng trong khi có những doanh nghiệp nợ

tiền đóng BHXH lên tới hàng tỷ đồng, họ sẵn sàng chịu phạt để chiếm đoạt

số quỹ đóng đó nhằm quay vòng vốn. Do vậy, Chính phủ cÇn giao cho



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×