Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

VÀ CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.Bảo hiểm xã hội là gì?

Trong cuộc sống, con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải

thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần, hay nói một cách

khác mỗi con người đều phải lao động để nuôi sống bản thân và tồn tại trong

xã hội. Nhưng trên thực tế không phải lúc nào cuộc sống và lao động cũng

đều thuận lợi, có thu nhập thường xuyên và mọi điều kiện sinh sống bình

thường, có rất nhiều trường hợp gặp khó khăn, bất lợi phát sinh làm cho

người ta bị giảm hoặc mất thu nhập như bất ngờ bị ốm đau, tai nạn lao động,

mắc các bệnh do nghề nghiệp gây nên hoặc không còn khả năng lao động

khi tuổi già.

Trong những trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động nói trên,

các nhu cầu cấp thiết của cuộc sống con người không vì thế mà mất đi.

Ngược lại còn đòi hỏi tăng lên, thậm chí xuất hiện thêm nhu cầu mới như

ốm đau cần được chữa bệnh, tai nạn lao động cần có người phục vụ... Bởi

vậy, muốn tồn tại con người và xã hội cần phải tìm ra những biện pháp để

khắc phục và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ,

đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng; đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự

cứu trợ của Nhà nước v.v...

Rõ ràng, đó là những cách hồn tồn thụ động và khơng chắc chắn.

Trong hồn cảnh đó, BHXH ra đời để giải quyết các vấn đề trên. BHXH ra

đời, được xem như là một hệ thống các hoạt động mang tính xã hội nhằm

đảm bảo đời sống cho người lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế,

ổn định trật tự xã hội nói chung.

2.Đối tượng tham gia BHXH:

*NLĐ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao

gồm:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn,

hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

- Cán bộ, công chức, viên chức;

- Cơng nhân quốc phòng, cơng nhân cơng an;

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ

quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân;

người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân,

công an nhân dân;

- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ cơng an

nhân dân phục vụ có thời hạn;



- Người làm việc có thời hạn ở nước ngồi mà trước đó đã đóng bảo

hiểm xã hội bắt buộc.

* NSDLĐ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà

nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức

chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc

tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh

doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và

trả cơng cho NLĐ.

3. Vai trò, chức năng của BHXH:

3.1.Chức năng:

- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham

gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.

- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người

tham gia BHXH.

- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất

nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.

- Gắn bó lợi ích giữa người lao động (NLĐ) với người sử dụng lao

động (NSDLĐ) vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương,

tiền công, thời gian lao động...Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ

được điều hồ và giải quyết.

3.2.Vai trò:

a.Đối với người lao động và người sử dụng lao động đóng BHXH

* Đối với người lao động:

Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro ln ln rình rập, đe doạ

cuộc sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội. Phòng

ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã

hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH.

- BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình họ.

- Ngồi việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo được tâm lý an

tâm, tin tưởng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho NLĐ.

Với ý nghĩa trên, quỹ BHXH bắt buộc được quy định tại mục 1

chương VI Luật BHXH từ điều 88 đến điều 97 đã quy định rất cụ thể. Chẳng

hạn như, hàng tháng NLĐ đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền cơng vào quỹ

hưu trí và tử tuất; từ 2010 trở đi, cứ 2 năm 1 lần đóng thêm 1% cho đến khi

đạt mức đóng là 8%.



* Đối với người sử dụng lao động đóng BHXH

Đóng BHXH cũng là để phục vụ lợi ích của NSDLĐ vì nó góp phần

duy trì sự ổn định trong lao động. NSDLĐ trả lương cho NLĐ để đáp ứng

nhu cầu của NLĐ khi làm việc cho NSDLĐ, nhưng cả khi họ khơng còn đủ

sức để làm việc vẫn được hưởng lương. Chính là thơng qua cơ chế BHXH

mà sự chuyển giao tiền lương giữa hai hồn cảnh đó được thực hiện.

Khi những NLĐ khơng may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ

quan BHXH chi trả. Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được

ổn định hơn. Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát

triển kinh tế thị trường.

Luật BHXH 2006 cũng quy định, hàng tháng NSDLĐ đóng trên quỹ

tiền lương, tiền cơng đóng BHXH của NLĐ với mức 3% vào quỹ ốm đau và

thai sản; trong đó NSDLĐ giữ lại 2% để trả kịp thời cho NLĐ đủ điều kiện

hưởng chế độ ốm đau, thai sản và thực hiện quyết toán hàng quý với tổ chức

BHXH; 1% vào quỹ TNLD-BNN; 11%vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ năm

2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi mức đóng là 14%.

b.Đối với nền kinh tế - xã hội

- BHXH cho NLĐ đối với nhà nước là giảm bớt gánh nặng xã hội cho

việc chăm sóc NLĐ khi họ gặp rủi ro.

- Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ, mối

quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được

trong quan hệ của BHXH. Tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện trên giác độ

khác nhau. NLĐ tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính

mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. NSDLĐ

tham gia BHXH là để tăng cường tình đồn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho

NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên

trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của

BHXH.

- BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội, là một công cụ để nâng

cao điều kiện sống cho NLĐ. Trên giác độ kinh tế, BHXH là một công cụ

phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết

này NLĐ được thực hiện bình đẳng khơng phân biệt các tầng lớp trong xã

hội.

- Khi tham gia BHXH cho NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm,

gắn bó tận tình của NLĐ trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị

trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận



động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất

lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường.

- Quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất

lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng

trưởng, phảt triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho NLĐ.

- BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng

mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thơng qua hệ thống

phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động.

II.Cơng tác thu BHXH

1.Vai trò của cơng tác thu BHXH

Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một công

quỹ độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả

các chế độ BHXH cho NLĐ. Vì thế cơng tác thu BHXH ngày càng trở thành

khâu quan trọng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện

chính sách BHXH.

- Cơng tác thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của

ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung

thống nhất.

- Để chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì cơng tác thu BHXH

có vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập cùng thực hiện

chính sách BHXH: Bởi đây là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất

trong quá trình tạo lập quỹ BHXH. Đồng thời đây cũng là một khâu bắt buộc

đối với người tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ của mình

- Cơng tác thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ BHXH được tập trung về

một mối, vừa đóng vai trò như một cơng cụ thanh tra, kiểm tra số lượng

người tham gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng

địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc.

- Hoạt động của công tác thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp

đến cơng tác chi và q trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai.

2. Phân cấp thu BHXH:

Sơ đồ phân cấp BHXH ở Việt Nam



BHXH Việt Nam

BHXH tỉnh 1

BHXH

huyện a



BHXH tỉnh 2

BHXH

huyện b



BHXH

huyện x



BHXH

huyện y



Hệ thống cơ quan bảo hiểm xã hội của Việt Nam được phân thành 3

cấp từ trung ương đến địa phương đó là cấp Nhà nước, cấp tỉnh và cấp

huyện. Mỗi cấp khác nhau lại có nhiệm vụ riêng nhằm giúp cho cơng tác thu

bảo hiểm được dễ dàng và hiệu quả hơn. Cụ thể là :

Cơ quan BHXH cấp huyện sẽ thu bảo hiểm xã hội của các đối tượng

bảo hiểm thuộc địa bàn mình quản lý. Định kỳ cơ quan này sẽ phải chuyển

khoản vào ngày 10, 25 hàng tháng và sau khi kết thúc thời gian làm việc vào

ngày cuối cùng của năm sẽ phải chuyển toàn bộ số thu cho cơ quan bảo hiểm

xã hội cấp tỉnh.

Cơ quan BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là

BHXH tỉnh) có trách nhiệm thu bảo hiểm xã hội của các đơn vị do Trung

ương quản lý và các tổ chức mà BHXH không đủ điều kiện thu. BHXH tỉnh

sẽ phải chuyển số thu BHXH lên BHXH Việt Nam định kỳ hàng tháng vào

ngày 10, 20 và ngày cuối cùng của tháng.

BHXH Việt Nam là một tổ chức sự nghiệp đặc thù, tổ chức thực hiện

các chế độ BHXH hoạt động vì mục đích nhân đạo xã hội, khơng vì mục tiêu

lợi nhuận. BHXH Việt Nam chịu trách nhiệm tổng hợp, phân loại đối tượng

tham gia BHXH, hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thu BHXH, cấp sổ

BHXH và thẩm định số thu BHXH trên phạm vi toàn quốc. Định kỳ 15

ngày, BHXH Việt Nam có trách nhiệm chuyển tồn bộ số thu về tài khoản

tiền gửi, quỹ BHXH mở tại kho bạc Nhà nước.

3.Các phương pháp thu BHXH:

3.1. Phương pháp trực tiếp:

Theo phương pháp này cán bộ chuyên trách của cơ quan BHXH sẽ

trực tiếp thu đóng góp BHXH từ người tham gia BHXH. Phương thức này

thường áp dụng với người lao động làm việc tự do tự nguyện tham gia



BHXH. Với hình thức này thì người lao động sẽ thanh toán bằng tiền mặt,

bằng séc hay chuyển khoản ngân hàng.

3.2. Phương pháp gián tiếp:

Đây là phương pháp phổ biến ở Việt Nam, thông qua hệ thồng các đại

lý thu BHXH- hầu hết là chủ sự dụng lao động, ngồi ra còn có các bưu

điện, ngân hàng, các cơ quan tổ chức đoàn thể quần chúng, cấp huyện, xã

phường…(gọi chung là đơn vị thu BHXH). Theo Luật bảo hiểm có quy định

hàng tháng người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng BHXH và

trích tiền lương của tổng số người lao động để cùng một lúc vào quỹ BHXH.

Đơn vị thu BHXH thường áp dụng quy trình thu như sau:

Đăng ký tham gia BHXH lần đầu - đây là khâu đầu tiên trong quy

trình thu và được thực hiện định kỳ hàng năm ở tất cả các cơ quan BHXH

các cấp. Đồng thời định kỳ hàng tháng sẽ thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm

của mình.

Hàng tháng nếu có sự biến động so với danh sách đã đăng ký tham

gia BHXH, đơn vị quản lý đối tượng lập danh sách điều chỉnh theo cơ quan

BHXH để kịp thời điều chỉnh, xử lý.

Hàng quý hoặc định kỳ theo hợp động đã ký kết, cơ quan BHXH và

đơn vị quản lý đối tượng tiến hành đối chiếu số lượng nộp BHXH và lập

biên bản theo nguyên tắc ưu tiên tính đủ mức đóng BHXH bắt buộc, để xác

định số tiền còn phải nộp trong quý.

Trước ngày 30/11 hàng năm, các cơ quan đơn vị quản lý đối tượng có

trách nhiệm lập “danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH” để

đăng ký tham gia BHXH của năm kế tiếp cho đối tượng với cơ quan BHXH

được phân công quản lý.

CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CƠNG TÁC THU PHÍ

BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

I.Khái quát chính sách BHXH tại Việt Nam:

Thời điểm trước năm 1995 tất cả mọi người tham gia bảo hiểm xã hội

đều khơng phải đóng bất kỳ một khoản phí nào. Vì vậy nguồn thu quỹ

BHXH lúc này được lấy từ quỹ lương của doanh nghiệp và chủ yếu là từ

ngân sách Nhà nước. Năm 1995 đánh dấu thời kì phát triển mới về sự nghiệp

BHXH với việc ngày 01/01/1995 Bộ luật lao động có hiệu lực thi hành,



trong đó có chương XII về BHXH. Đi kèm với Bộ luật lao động là nghị định

số 12/CP ngày 26/1/1995 điều chỉnh BHXH đối với NLĐ với nội dung cơ

bản đổi mới thể hiện trên các mặt:

- BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng có hưởng, đối tượng tham gia

BHXH bao gồm cả NLĐ (NLĐ) làm công ăn lương trong các doanh nghiệp

cơ quan, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế. Điều này tạo sự bình đẳng

giữa những NLĐ làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau.

- Đã hình thành được quỹ BHXH trên cơ sở đóng góp của 3 bên:

NSDLĐ đóng 15%, NLĐ đóng 5% và sự bảo hộ của Nhà nước, quỹ BHXH

được thành lập độc lập với NSNN. Với sự cải cách này, BHXH ở Việt Nam

đã đảm bảo thực hiện nguyên tắc có đóng có hưởng, dần dần xóa bỏ bao cấp

từ Nhà nước về BHXH.

- Tổ chức thực hiện chế độ BHXH, với 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai

nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.

- Về tổ chức quản lý: Hệ thống BHXH Việt Nam được hình thành từ

Trung ương đến cấp địa phương và thống nhất đi vào hoạt động từ

01/10/1995.

Cũng vào thời gian đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/CP vào

ngày 16/2/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam với những chức năng,

nhiệm vụ quyền hạn tổ chức, thực hiện chính sách và quản lý quỹ BHXH.

Từ đây, quỹ BHXH Việt Nam được quản lý thống nhất trong cả nước.

Trong những năm tiếp theo, Chính phủ còn ban hành thêm rất nhiều

nghị định trong đó đưa ra những điều chỉnh trong chính sách BHXH ngày

càng phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới. Đặc

biệt, năm 2006, Luật BHXH được ban hành kèm theo Nghị định

152/2006/NĐ-CP đánh dấu bước ngoặc lớn cho BHXH Việt Nam. Tiếp nối

Luật BHXH 2006 là các thông tư, nghị quyết, nghị định được ban hành, đưa

ra những chính sách mới, những cải cách mới, bổ trợ cho những thiếu sót

hay bất cập của Luật BHXH đã ra đời trước đó.

Nhìn chung: Việc cải cách BHXH là phù hợp với tình hình thực tế nước

ta khi mà xu hướng của Đảng và Nhà nước ta là tiến hành thực hiện mở rộng

chính sách BHXH đến mọi người dân, từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho

NLĐ ở các thành phần kinh tế tham gia BHXH. Có thể thấy trong giai đoạn

này:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×