Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 4

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

4.1. Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao

hiệu quả pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở

Việt Nam

Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, ATTP khơng còn

là vấn đề của riêng mỗi khu vực, mỗi quốc gia. Hoạt động xây dựng chính

sách, phát triển kinh tế, xã hội, nguy cơ dịch bệnh của mỗi nước đều có thể

ảnh hưởng đến nhiều nước khác và phải tuân thủ các quy ước quốc tế. Theo

đó, các rào cản thương mại sẽ dần được dỡ bỏ thay bằng sự công nhận, thừa

nhận lẫn nhau. Như vậy, để quản lý được thị trường thực phẩm, bảo đảm

ATTP trong hoạt động thương mại cũng như phát triển được các sản phẩm

thực phẩm trong nước thì đòi hỏi phải thay đổi tư duy, cách tiếp cận quản lý

ATTP trong hoạt động thương mại. Nếu không thay đổi cách tiếp cận, chúng

ta sẽ liên tục phải đặt hệ thống ở tình trạng báo động, khi mà liên tục phải giải

quyết các “sự cố khẩn cấp”. Bởi vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về

ATTP trong hoạt động thương mại cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:

(1) Tổng kết kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc pháp luật hiện hành về an

toàn thực phẩm.

Việc xây dựng và hồn thiện pháp luật về ATTP nói chung và pháp luật

về ATTP trong hoạt động thương mại nói riêng phải dựa trên đánh giá từ thực

tiễn thi hành pháp luật về ATTP hiện hành để nắm được những ưu, nhược

điểm và rút kinh nghiệm nhằm loại bỏ, sửa đổi những quy định lạc hậu, bất

cập, đồng thời kế thừa và bổ sung những quy định đúng đắn, tiến bộ hơn, khả

thi hơn và khoa học hơn.



(2) Pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại cần được hoàn thiện

theo hướng nâng cao trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, mọi tổ chức,

cá nhân trong công tác bảo đảm ATTP trong hoạt động thương mại.

Nhằm tránh tình trạng có quá nhiều cơ quan quản lý trong chuỗi cung

cấp thực phẩm dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, gây khó

khăn trong cơng tác quản lý ATTP trong hoạt động thương mại. Pháp luật

ATTP nói chung và pháp luật ATTP trong hoạt động thương mại nói riêng

cần phải xây dựng theo hướng phân định rõ và nâng cao trách nhiệm cho từng

ngành, từng cấp, từng cá nhân, tổ chức trong xã hội. Theo thông lệ chung của

các nước trên thế giới và điều kiện xã hội Việt Nam, thì ngành y tế là ngành

cần phải giữ vai trò chính trong cơng tác bảo đảm ATTP trong hoạt động

thương mại.

(3) Pháp luật về ATTP cần phải được hoàn thiện theo hướng đổi mới

phương thức quản lý đối với sản phẩm thực phẩm, chuỗi sản xuất, chế biến,

phân phối và tiêu dùng thực phẩm phù hợp với pháp luật quốc tế về ATTP và

đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận từ “quản lý sản phẩm” sang “quản lý

quá trình”. Chúng ta đã thực hiện mơ hình quản lý cắt ngang “chuỗi thực

phẩm” thành nhiều cơng đoạn và kiểm sốt sản phẩm của từng cơng đoạn đó

thơng qua việc ban hành các tiêu chuẩn “cho phép”. Theo cách này, chúng ta

sẽ luôn bị rơi vào tình trạng “thiếu tiêu chuẩn” bởi vì có quá nhiều loại thực

phẩm và các loại thực phẩm mới vẫn luôn được sáng tạo ra. Việc kiểm tra các

sản phẩm cuối cùng sẽ tốn kém rất nhiều nhân lực, và luôn đưa nhà quản lý

vào thế bị động (chỉ phát hiện ra sản phẩm vi phạm khi đã muộn: ví dụ như

trường hợp sữa nhiễm melamine, chỉ phát hiện ra khi hàng loạt trẻ em nhập

viện do sử dụng sản phẩm, hay việc rượu nhiễm metanol ở Việt Nam chỉ được

phát hiện khi hàng loạt bệnh nhân ngộ độc/tử vong...). Việc chuyển đổi sang



phương thức “quản lý quá trình” sẽ giúp chúng ta chuyển đổi từ thế “bị động”

thành “chủ động” loại trừ hoặc giảm thiểu đến mức có thể chấp nhận được

các yếu tố nguy cơ ra khỏi “chuỗi thực phẩm” ngay từ khi nó có thể hình

thành bảo đảm an toàn tuyệt đối cho sản phẩm cuối. Theo đó, thay việc chứng

nhận sản phẩm chúng ta chuyển sang “chứng nhận quy trình” như là: quy

trình ni trồng; quy trình sản xuất, chế biến; quy trình bảo quản, phân phối...

Thay việc ban hành các tiêu chuẩn cho phép cho từng sản phẩm, sẽ ban hành

các hành vi, giới hạn cấm vi phạm.

(4) Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về ATTP trong hoạt

động thương mại phải hướng đến mục tiêu là nhằm bảo vệ sức khỏe của

người tiêu dùng.

Mục tiêu quan trọng nhất của hệ thống pháp luật về ATTP trong hoạt

động thương mại là phải tạo ra một khung pháp lý đầy đủ và hiểu quả cho

việc bảo đảm ATTP trong hoạt động thương mại hàng thực phẩm trên thị

trường. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về lĩnh vực này còn phải tạo

thuận lợi cho việc phát triển thị trường hàng thực phẩm của Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, bảo đảm ATTP trong khâu phân phối và lưu thông

hàng thực phẩm là khâu quan trọng bởi thông qua khâu này, thực phẩm đến

với người tiêu dùng để sử dụng. Các biện pháp bảo đảm ATTP trong hoạt

động thương mại có thể được xem là “thành trì” bảo vệ sức khỏe của người

tiêu dùng. Bên cạnh đó, việc bảo đảm ATTP còn có ý nghĩa rất lớn khi chúng

ta là nước xuất khẩu hàng nông sản và thủy sản.

(5) Xây dựng một hệ thống các quy định pháp luật về ATTP trong hoạt

động thương mại thống nhất trong tất cả các ngành, các lĩnh vực có liên quan.

Pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại phải là tiền đề, trung

tâm và là cơ sở để xây dựng các quy định có liên quan trong hoạt động

thương mại hàng thực phẩm. Đây là yêu cầu hết sức cần thiết bởi bảo đảm



ATTP là một trong những chính sách lớn và quan trọng của nước ta hiện nay

nhằm bảo đảm sức khỏe nhân dân và phát triển thể chất, giống nòn con người

Viêt Nam.

Một hệ thống các quy định về ATTP tốt, toàn diện được xây dựng phù

hợp với điều kiện phát triển của kinh tế - xã hội đất nước, với những mục tiêu

cụ thể được xác định rõ ràng sẽ là cơ sở và định hướng cho việc xây dựng và

ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật, là tiền đề nhằm tạo

ra sự tương thích, phù hợp và thống nhất giữa các quy định liên quan đến vấn

đề ATTP trong các quy định pháp luật chuyên ngành khác. Và đó cũng chính

là cơ sở để tạo nên sự thống nhất cho toàn bộ hệ thống pháp luật về ATTP.

(6) Xây dựng và hoàn thiện là nhằm tạo ra hệ thống các quy định pháp

luật về ATTP trong hoạt động thương mại đồng bộ, tiên tiến và có tính khoa

học cao.

Pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại là một bộ phận và là cấu

thành rất quan trọng trong hệ thống pháp luật ATTP. Vấn đề đặt ra là phải xây

dựng và hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về ATTP trong hoạt động

thương mại phù hợp với nội dung của chính sách ATTP nói chung. Nhằm

thực thi chính sách ATTP, Luật ATTP của Việt Nam đã được xây dựng và

ban hành.

Thực tiễn sau 7 năm thực thi cho thấy, Luật ATTP năm 2010 về cơ bản

là tiến bộ và phù hợp với chính sách ATTP. Cho đến nay Luật ATTP đã phát

huy được tốt vai trò trong việc bảo đảm ATTP trong đời sống xã hội. Tuy

nhiên, điều đó khơng có nghĩa Luật ATTP là hồn hảo. Một trong những u

cầu và đòi hỏi tất yếu hiện nay là phải tiến hành sửa đổi, bổ sung luật này bởi

những nguyên nhân chủ quan và khách quan sau: Một là, quá trình thực thi đã

gặp phải nhiều khó khăn, một phần do chính sự bất cập và thiếu sót trong các

quy định cụ thể của Luật ATTP. Hai là, bản thân pháp luật ATTP trong hoạt



động thương mại cũng có nhiều bất cập, mâu thuẫn. Cụ thể là sự mâu thuẫn

và bất cập giữa những quy định của Luật ATTP và các quy định trong các văn

bản hướng dẫn thi hành. Hay nói cách khác, bản thân hệ thống pháp luật

ATTP đã thiếu tính đồng bộ và thống nhất. Ba là, so với thời kỳ mới ban

hành, hiện nay điều kiện kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi vì vậy việc sửa

đổi, bổ sung là cần thiết nhằm đáp ứng những đòi hỏi và xu thế phát triển mới

của kinh tế - xã hội, bảo đảm ATTP trong bối cảnh mới. Bốn là, trong những

năm gần đây nhiều pháp luật chuyên ngành có xu hướng thốt ly khỏi pháp

luật ATTP để xây dựng các quy định riêng liên quan đến vấn đề ATTP. Hiện

tượng này giống như việc trăm hoa đua nở nhưng khơng về một hướng. Chính

vì vậy đã xuất hiện ngày càng nhiều những mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí

là những lỗ hổng và khoảng cách pháp lý giữa pháp luật ATTP với pháp luật

chuyên ngành.

(7) Việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định liên quan đến

ATTP trong hoạt động thương mại trong pháp luật chuyên ngành khác theo

hướng lấy các quy định của pháp luật ATTP làm trung tâm.

Có thể khẳng định xu hướng thốt ly khỏi pháp luật ATTP để xây dựng

những quy định riêng về ATTP trong pháp luật chuyên ngành là bởi trong q

trình xây dựng pháp luật chun ngành đã khơng hướng tới chính sách về

ATTP chung và chưa vì mục tiêu chung trong việc kiểm soát ATTP trong

hoạt động thương mại. Nếu không giải quyết được hiện tượng này và nếu

pháp luật về ATTP khơng thể hiện được vai trò là trung tâm để quy tụ các

pháp luật chuyên ngành đi về một hướng thì trong tương lai khơng xa cơng

cuộc bảo đảm ATTP của nhà nước ta sẽ khó đạt được mục tiêu đặt ra bởi các

quy định mang tính tản mạn, mâu thuẫn và khác biệt về hành vi, về hình thức

và mức độ xử lý, xung đột và giằng xét về mặt thẩm quyền.



Những yêu cầu đặt ra trên để hoàn thiện pháp luật về ATTP trong hoạt

động thương mại phải được thực hiện một cách thống nhất, phải trên cơ sở

một quan điểm chỉ đạo và định hướng thông suốt nhằm tránh trường hợp bị

lái theo những định hướng lợi ích khác nhau.

4.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm

trong hoạt động thương mại ở Việt Nam

4.2.1. Rà soát pháp luật hiện hành có liên quan đến an tồn thực

phẩm trong hoạt động thương mại

Thực tiễn cho thấy sau 07 năm thực thi, đến nay Luật ATTP năm 2010

đã phát huy được tốt vai trò trong việc bảo đảm ATTP nói chung và ATTP

trong hoạt động thương mại nói riêng, tạo khung khổ pháp lý quan trọng cho

hoạt động kiểm soát và bảo đảm ATTP. Tuy nhiên, quá trình thực thi Luật

ATTP cũng gặp phải nhiều khó khăn, một phần do có sự mâu thuẫn, chồng

chéo và thậm chí là những lỗ hổng và khoảng cách pháp lý so với pháp luật

chuyên ngành trong các lĩnh vực cụ thể như: quảng cáo, bảo vệ người tiêu

dùng, đầu tư, chất lượng sản phẩm hàng hóa,…

Bên cạnh đó, cùng với xu thế phát triển của kinh tế - xã hội, thời gian

qua nhiều luật chuyên ngành đã được xây dựng và ban hành hoặc được sửa

đổi, bổ sung, thay thế để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Trong quá trình

ban hành mới và sửa đổi, bổ sung có nhiều quy định liên quan đến ATTP

đã được đưa vào pháp luật chuyên ngành để phù hợp với đặc thù của từng

ngành, lĩnh vực cụ thể. Ngồi ra, có một số các quy định của pháp luật

chuyên ngành khác lại không phù hợp và gây khó khăn khi thực thi chính

sách pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại.

Để bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật cũng như là tính hệ

thống, đồng bộ trong việc thực thi pháp luật về ATTP trong hoạt động

thương mại, việc rà soát, đánh giá sự tương thích, phù hợp hay mâu thuẫn,



chồng chéo giữa các quy định của pháp luật về ATTP cũng như các quy

định của pháp luật chuyên ngành khác so với pháp luật về ATTP cần phải

được các cơ quan chức năng thực hiện.

Nội dung rà soát cần tập trung vào các vấn đề sau:

- Rà soát các quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP,

theo đó phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng ngành trên nguyên tắc

một việc chỉ do một cơ quan chủ trì thực hiện, đối với những cơng việc đòi

hỏi phải có sự phối hợp thì phải được rõ ràng, cụ thể một cơ quan chủ trì,

chịu trách nhiệm chính, khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong

quản lý, điều hành. Việc quy định phân công quản lý nhà nước trong lĩnh

vực ATTP hiện được giao cho 03 Bộ (Y tế, Nông nghiệp và phát triển nông

thôn, Công thương). Về lý thuyết, đây là tư duy quản lý tiến bộ, xuất phát

từ lợi ích của đối tượng chịu sự quản lý thay vì lợi ích của chủ thể quản lý.

Tuy nhiên, trên thực tế quy định về phân công trách nhiệm quản lý Nhà

nước về ATTP như trên vẫn chưa hồn tồn khắc phục được tình trạng

chồng chéo. Chính vì thế, việc tiếp tục nghiên cứu, rà soát quy định của

pháp luật để tìm ra hướng khắc phục là cơng việc cần thiết. Thêm vào đó,

cần nghiên cứu, thống nhất nguyên tắc quản lý nhà nước đối với ATTP

giữa các đạo luật khác nhau (hiện nay, Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa

quy định ngun tắc phân cơng trách nhiệm quản lý nhà nước đối với

ATTP là theo quá trình trong khi đó Luật An tồn thực phẩm quy định

ngun tắc quản lý theo nhóm ngành hàng). Các quy định này đã tạo ra sự

chồng chéo về quản lý tại các cửa khẩu và tạo ra nhiều cửa trong quản lý

sau công bố hợp quy, công bố phù hợp quy định về ATTP. Vì vậy, cần

nghiên cứu, sửa đổi Luật An toàn thực phẩm và Luật Chất lượng sản phẩm

hàng hóa để đảm thống nhất của hệ thống pháp luật. [51]



- Rà soát và bổ sung quy chế quản lý nhập khẩu hoá chất, thuốc

BVTV, các phụ gia thực phẩm, các loại thực phẩm không bảo đảm vệ sinh,

chống di nhập các loại sinh vật lạ lây lan mầm bệnh, làm biến đổi gen. Loại

bỏ những điểm chồng chéo giữa các văn bản của các bộ ngành khác nhau,

những quy định khơng/ít có tính khả thi.

- Rà sốt lại các quy định về điều kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh

doanh thực phẩm tươi sống và chế biến, quy định về điều kiện vệ sinh

ATTP đối với thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu nhằm tiêu thụ

tại Việt Nam, các quy định về ghi nhãn chi tiết đối với thực phẩm bao gói

sẵn để có những bổ sung, điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế và tiêu

chuẩn quốc tế. Trước hết ban hành các quy định cụ thể đối với từng loại

hình dịch vụ kinh doanh ăn uống, chợ và siêu thị có kinh doanh hàng thực

phầm. Xây dựng quy trình ghi nhãn rộng rãi và chặt chẽ hơn.

- Rà soát lại các quy định và tiêu chuẩn về chất lượng của hàng thực

phẩm xuất khẩu để hoàn thiện chúng theo hướng đáp ứng các tiêu chuẩn

quốc tế, tiêu chuẩn của các quốc gia nhập khẩu.

4.2.2. Hoàn thiện các quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm

- Sửa đổi Điều 22, Luật ATTP theo hướng đơn giản hóa các yêu cầu về

điều kiện bảo đảm ATTP đối với các cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ.

Việc quy định các điều kiện bảo đảm ATTP đối với các cơ sở kinh doanh

thực phẩm nhỏ lẻ chặt chẽ như quy định tại Điều 22, Luật ATTP là thiếu tính

khả thi bởi với khả năng kinh tế và đặc thù kinh doanh của các cơ sở kinh

doanh thực phẩm nhỏ lẻ ở nước ta hiện nay hầu như khơng có cơ sở đáp ứng

đầy đủ các yêu cầu đó.

- Sửa đổi khoản 2, 3, Điều 7, Luật Đầu tư năm 2014 quy định về ngành

nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cho phù hợp với các quy định của Luật

ATTP.



Tại khoản 2, Điều 7, Luật Đầu tư 2014 quy định “Danh mục ngành, nghề

đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục 4 của Luật này.

Khoản 3, Điều 7, luật này quy định “Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với

ngành, nghề quy định tại khoản 2 Điều này được quy định tại các luật, pháp

lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về

điều kiện đầu tư kinh doanh”. Trong khi đó, tại khoản 2, Điều 19, Luật ATTP

2010 quy định “Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc

gia và quy định cụ thể về điều kiện bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất,

kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý”. Việc giao

cho 3 Bộ ban hành các quy định về điều kiện bảo đảm ATTP đối với các cơ

sở kinh doanh thực phẩm như tại khoản 2, điều 19, Luật ATTP có nghĩa là các

Bộ này được quyền ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh hàng thực

phẩm thuộc thẩm quyền phân công quản lý của mình. Bên cạnh đó, các quy

định khác liên quan đến ATTP cũng quy định điều kiện kỹ thuật sản xuất kinh

doanh nông sản, thủy sản do các Bộ chuyên ngành ban hành. Như vậy, quy

định tại khoản 2, 3, Điều 7, Luật Đầu tư 2014, đã mẫu thuẫn với các quy định

của Luật ATTP, cần phải sửa đổi cho phù hợp, bảo đảm tính thống nhất của

hệ thống pháp luật Việt Nam.

- Sửa đổi Nghị định số 66/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính Phủ

quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống

cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm

theo hướng bãi bỏ những quy định tại Chương VII của Nghị định này và tích

hợp vào một văn bản pháp luật quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

ATTP. Các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thực phẩm tại Chương



VII của Nghị định 66/2012/NĐ-CP là không cần thiết, chưa phân biệt rõ điều

kiện đầu tư kinh doanh thực phẩm và điều kiện bảo đảm ATTP và thiếu sự

thống nhất trong quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thực phẩm giữa 03

Bộ Y tế, Nông nghiệp, Công thương.

- Sửa đổi khoản 13, 14, Điều 5, Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày

12/9/2012 Quy định về điều kiện chung bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản

xuất, kinh doanh thực phẩm theo hướng bãi bỏ quy định về yêu cầu có đủ

nước sạch theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN) về nước sạch số

02:2009/BYT cho khu vệ sinh và để vệ sinh trang thiết bị dụng cụ.

Việc quy định như vậy là thiếu tính thực tiễn bởi rất khó thực hiện trên

thực tế kinh doanh thực phẩm. Thực tiễn kinh doanh thực phẩm của các cơ sở

ở nước ta cho thấy, đa số các cơ sở kinh doanh thực phẩm tại các địa phương

có quy mơ nhỏ lẻ, kinh doanh cá thể, doanh thu thấp, điều kiện kinh tế chủ

yếu thấp và trung bình nên để kiểm nghiệm đầy đủ các chỉ tiêu về nước sạch

như quy định trên là rất khó thực hiện.

- Sửa đổi Thông tư số 30/2012/TT-BYT ngày 5/12/2012 quy định điều

kiện ATTP đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn

đường phố theo hướng bổ sung các quy định về lưu mẫu và biểu mẫu về sổ

kiểm thực 3 bước đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống.

Tại khoản 5, Điều 3 và khoản 7, Điều 4, Thông tư này có quy định về về

lưu mẫu thức ăn và ghi chép sổ kiểm thực 3 bước đối với cơ sở kinh doanh dịch

vụ ăn uống. Tuy nhiên, không ban hành quy định lưu mẫu (khi nào thực hiện

lưu mẫu, lượng mẫu lưu bao nhiêu, thông tin về mẫu như thế nào) và cũng

không ban hành biểu mẫu sổ kiểm thực 3 bước để thống nhất để triển khai và

áp dụng.

Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ những quy định cụ thể trên, các

cơ quan chức năng cần nghiên cứu bổ sung một số quy định về điều kiện bảo

đảm ATTP mang tính đặc thù trong hoạt động thương mại hàng thực phẩm như:



- Xây dựng và ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh, phương

tiện vận chuyển, cơng nghệ bảo quản đối với từng nhóm thực phẩm có nguy

cơ cao được bán phổ biến trên các chợ như thịt, cá, sữa, rau quả, mắm,...

- Nghiên cứu xây dựng và ban hành các tiêu chí về văn minh thương mại

trong kinh doanh thực phẩm. Trên cơ sở đó kiểm tra khả năng đáp ứng của

các cơ sở kinh doanh thực phẩm để cấp gấy chứng nhận. Giấy chứng nhận

này là một hình thức quảng bá hình ảnh của các cơ sở kinh doanh thực phẩm

(Chẳng hạn như cửa hàng rau sạch, chè khơng có dư lượng độc tố, thịt chăn

ni theo quy trình sạch…).

- Bổ sung thêm quy định về chứng minh nguồn gốc của hàng hóa thực

phẩm bán trên chợ như: giấy tờ chứng minh thịt gia xúc, gia cầm từ nơi giết

mổ đạt tiêu chuẩn ATTP; rau, củ, quả từ nơi sản xuất an toàn,...

4.2.3. Hoàn thiện các quy định về quảng cáo, ghi nhãn hàng hóa

thực phẩm

Các quy định pháp luật về quảng cáo, ghi nhãn đối với hàng hóa thực

phẩm hiện hành đã tạo ra được khung pháp lý quan trọng trong việc quản

lý hoạt động quảng cáo, ghi nhãn đối với thực phẩm, góp phần bảo đảm

ATTP trong hoạt động thương mại thời gian qua. Tuy nhiên, vẫn tồn tại

một số quy định bị chồng chéo, mẫu thuẫn hoặc thiếu khả thi khi áp dụng

trên thực tế, cần phải sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm tính thống nhất và

thực tiễn.

- Sửa đổi Thông tư 75/2011/TT-BNNPTNT ngày 31/10/2011 quy định

về đăng ký và xác nhận quảng cáo thực phẩm nông, lâm, thủy sản theo

hướng bãi bỏ và thay thế bằng Thông tư khác quy định về quảng cáo thực

phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Hiện nay, một số quy định tại Thông tư này không phù hợp với Luật

Quảng cáo và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×