Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b) Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân

b) Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân

Tải bản đầy đủ - 0trang

06 Luật, 06 Nghị định, 13 thông tư hướng dẫn, liên quan đến 09 thủ tục hành

chính, 05 cơ quan QLNN chưa kể đến các lĩnh vực khác như xử lý vi phạm

hành chính, quản lý thị trường, mơi trường…[41]

(3) Hiện vẫn còn nhiều quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật

về ATTP trong hoạt động thương mại thiếu tính khả thi.

Các quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm đối với các cơ sở kinh

doanh thực phẩm nhỏ lẻ và thực phẩm tươi sống trong Luật ATTP 2010 là

chồng chéo và không cần thiết. Trong khi Điều 54 của Luật ATTTP năm

2010 quy định về “truy xuất nguồn gốc thực phẩm đối với thực phẩm không

an tồn” thì tại điểm b, khoản 2 Điều 8, khoản 2 Điều 11, điểm h, khoản 1,

Điều 22 lại cũng quy định về trách nhiệm truy xuất nguồn gốc đối với thực

phẩm khơng an tồn. Việc có nhiều quy định về cùng một vấn đề như vậy là

không cần thiết và gây khó khăn khi áp dụng trên thực tiễn.

Quy định về điều kiện kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ tại Điều 22 Luật

ATTP là chưa bảo đảm tính khả thi. Việc quy định các điều kiện đối với các cơ

sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ tại Điều 22, Luật ATTP 2010 là không thể thực

hiện được trên thực tế. Thực tiễn kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ ở nước ta hiện

nay, việc quy định về tiêu chuẩn có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ

kinh doanh thực phẩm và quy định về khám sức khỏe định kỳ và tập huấn

kiến thức về ATTP đối với người kinh doanh thực phẩm là khơng thể bởi tính

chất của kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ là không tập trung, quy mơ nhỏ và có

thể là khơng thường xun. Bên cạnh đó, hiện nay nước ta có rất nhiều điểm

kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ và ắt hẳn là không đủ lực lượng để kiểm tra,

giám sát các cơ sở kinh doanh này.

Quy định về kiểm tra thực phẩm nhập khẩu đổi với tất cả lô hàng nhập

khẩu (điểm b khoản 1 Điều 38, Luật ATTP 2010) là chưa phù hợp với thực

tế. Trên thực tiễn, hàng năm nước ta nhập khẩu hàng trăm nghìn tấn thực phẩm,

việc quy



định bất kỳ lô hàng nhập khẩu nào cũng phải được thông báo kết quả xác nhận

thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu của cơ quan kiểm tra là khó thực hiện.

(4) Một số các quy định pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại

hiện nay bị chồng chéo, mâu thuẫn dẫn đến thiếu tính đồng bộ, thống nhất

và gây nhiều khó khăn cho các chủ thể kinh doanh thực phẩm.

Cụ thể, quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh (khoản 2 và 3, Điều 7

Luật Đầu tư) chưa phù hợp với các quy định đã ban hành có liên quan đến kinh

doanh thực phẩm. Tại khoản 2, 3, Điều 7 Luật Đầu tư quy định“2. Danh mục

ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục 4

của Luật này; 3. Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề quy định

tại khoản 2 Điều này được quy định tại các Luật, Pháp lệnh, Nghị định và

điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bộ,

cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan,

tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư

kinh doanh”. Trong khi Bộ Nông nghiệp, Y tế lại ban hành những quy định

về điều kiện kỹ thuật kinh doanh nông sản, thủy sản.

(5) Mặc dù việc phân công về trách nhiệm của các cơ quan đã được xác

định rõ ràng, nhưng vẫn có sự chồng chéo cũng như một số vấn đề đang bị bỏ

trống. Trên thực tế hoạt động vẫn có sự đùn đẩy trách nhiệm và thiếu sự phối

hợp giữa các cơ quan quản lý nên hiệu quả công quản lý ATTP trong hoạt

động thương mại là chưa cao.

Trách nhiệm quản lý ATTP của các bộ đối với từng nhóm sản phẩm

được quy định tại các Điều 62, 63, 64 và được phân công cụ thể trong các văn

bản dưới luật. Tuy nhiên, các quy định này còn chưa phù hợp trong quản lý

các sản phẩm “giao thoa” giữa các bộ hoặc giữa các bộ và địa phương.



Theo pháp luật ATTP, cùng một mặt hàng thực phẩm, nhưng thực phẩm

nguyên liệu do Bộ NN&PTNT quản lý, thực phẩm chế biến thuộc trách nhiệm

của Bộ Công thương nhưng trên thực tế sản xuất thì có nhiều mặt hàng được

sản xuất theo chuỗi khép kín hoặc sản xuất nhiều mặt hàng thuộc lĩnh vực

quản lý của nhiều bộ. Ví dụ, đối với sản phẩm sữa thì sửa nguyên liệu do Bộ

NN&PTNT quản lý, thực phẩm chế biến do Bộ Công Thương quản lý còn

thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng do Bộ Y tế quản lý.

Hiện nay, còn tồn tại một số quy định chưa rõ ràng như quy định đối với

cơ sở sản xuất, kinh doanh nhiều sản phẩm khác nhau mà thuộc thẩm quyền

quản lý của 2 bộ trở lên, trong đó có kinh doanh dịch vụ ăn uống thì khó xác

định trách nhiệm quản lý (vì quản lý dịch vụ ăn uống được phân công cho

UBND các cấp khoản 2 Điểu 65, Luật ATTP 2010).

Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm

muốn xin giấy phép quảng cáo thì phải xin được 02 con dấu xác nhận, một

của ngành y tế xác nhận nội dung quảng cáo và một con dấu của ngành Văn

hóa, Thể thao và Du lịch xác nhận mẫu mã, hình thức quảng cáo, thẩm chí

phải xin cấp phép từ cả phía ngành Cơng Thương xác nhận sản phẩm được

phép lưu thông trên thị trường. Chỉ với một nội dung nhưng doanh nghiệp mất

rất nhiều thời gian, công sức để thực hiện, ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ

bán hàng và hiểu quả kinh doanh.[52]

Các quy định về phân công quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh, sản

xuất ban đầu nhỏ lẻ; quản lý sản phẩm hỗn hợp thuộc lĩnh vực quản lý của 3

ngành Y tế, NN&PTNT và Công thương trong các văn bản dưới luật thì theo

thống kê sơ bộ còn có 37 văn bản có mặt mâu thuẫn, khơng phù hợp với điều

kiện thực tế, cần sửa đổi, bổ sung. Quy định về quản lý ATTP đối với các

chợ, siêu thị, quy định về điều kiện kinh doanh các sản phẩm truyền thống,

sản xuất thủ công như: miến, bún, phở khô, rượu chưa cụ thể, thiếu các văn

bản hướng dẫn cần thiết.



(6) Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về ATTP còn thiếu, gây khó khăn cho

công tác quản lý ATTP trong hoạt động thương mại cũng như hoạt động kinh

doanh thực phẩm của các chủ thể.

Với số lượng hàng hóa thực phẩm lưu thơng trên thị trường lên tới hàng

chục nghìn chủng loại, trong đó có sản phẩm nơng sản tươi sống, thực phẩm

chức năng, hàng nghìn sản phẩm thực phẩm truyền thống, là đặc sản vùng/miền

thì việc ban hành TCVN, QCVN, QCKT địa phương về thực phẩm là công cụ

kỹ thuật để quản lý ATTP trong thời gian qua là chậm và còn thiếu. Hiện nay,

liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng thực phẩm, chúng ta mới ban hành

được 16 quy chuẩn, chưa thể đáp ứng đươc yêu cầu thực tế. Một số quy chuẩn

kỹ thuật còn chưa rõ ràng, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng như quy chuẩn kỹ

thuật về sữa chế biến dạng lỏng.

Nói tóm lại, ở cấp Quốc gia còn thiếu các văn bản chiến lược tổng thể và

tiếp cận quản lý chất lượng và ATTP theo chuỗi, trong đó có phân cơng tách biết

các cơ quan quản lý chất lượng và quản lý ATTP để đạt hiệu quả phòng ngừa

hơn là chống. Các văn bản chưa tách biệt rõ 02 nguyên tắc quản lý ATTP đang

được áp dụng trên thế giới: “sàng lọc” là yếu tố thực hiện bắt buộc dạng

HACCP theo Luật ATTP và “khuyến khích” là yếu tố tự nguyện quản lý theo

dạng thực hành nơng nghiệp tốt - GAP. Chưa có lộ trình cụ thể thực hiện

HACCP bắt buộc với những chuỗi có nguy cơ gây mất ATTP cao.

Các tiêu chuẩn, quy chuẫn kỹ thuật chưa được rà sốt tồn diện và chậm

cập nhật so với tình hình mất ATTP. Còn nhiều tiêu chuẩn chưa hài hòa với quy

định quốc tế (CODEX, JECFA). Hệ thống quy chuẩn về điều điều kiện kinh

doanh thực phẩm. Tiến độ chuyển đổi tiêu chuẩn thành quy chuẩn còn chậm.

Số lượng văn bản về lĩnh vực ATTP nói chung được ban hành nhiều nhưng

phạm vi và mức độ điều chỉnh còn chồng chéo, hay có lỗ hỗng, vẫn chưa đáp

ứng được yêu cầu của thực kinh doanh, đặc biệt là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ,

cơ sở không thuộc diện đăng ký kinh doanh, còn thiếu cơ bản do chưa hình

thành



được tiếp cận quản lý phù hợp. Các văn bản QPPL quản lý ATTP chưa đồng bộ

và chưa tương đồng giữa các nhóm ngành hàng, một số ngành hàng chưa có đủ

hệ thống văn bản quản lý trên tồn bộ chuỗi sản xuất. Một số văn bản còn trùng

lắp nhiều cơ quan quản lý trên một đối tượng gây nên hiện tượng thiếu trách

nhiệm giải trình. Các văn bản có tuổi thọ văn bản ngắn và khả năng áp dụng

thấp.

Các văn bản hiện nay chỉ tập trung vào quản lý nhà nước về ATTP, còn

thiếu chính sách thúc đẩy sự tham gia của các thể chế thị trường và xã hội dân

sự vào cùng quản lý ATTP với nhà nước để đạt hiệu quả cao hơn. [56,Tr116118]

*Nguyên nhân tồn tại, hạn chế

Những hạn chế, bất cập nêu trên của hệ thống các quy định pháp luật

về ATTP trong hoạt động thương mại xuất phát từ nhiều nguyên nhân, tuy nhiên

có thể xác định do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, năng lực đội ngũ soạn thảo văn bản QPPL về ATTP nói chung

và ATTP trong hoạt động thương mại nói riêng còn hạn chế. Bên cạnh đó, lực

lượng thẩm định các văn bản QPPL về ATTP nói chung khơng có chun

mơn sâu về ATTP. Bảo đảm ATTP nói chung và ATTP trong hoạt động thương

mại nói riêng là vấn đề hết sức phức tạp bởi tính chuyên ngành sâu và tính đa

ngành rộng của nó. Để xây dựng được những quy định pháp luật ATTP mang

tính khoa học và thực tiễn cao, đòi hỏi đội ngũ làm cơng tác soạn thảo khơng

chỉ có kiến thức về xây dựng pháp luật mà còn phải có sự hiểu biết sâu sắc

về ATTP học. Theo một số chuyên gia về ATTP thì chính Luật ATTP đã làm

chững lại cơng tác bảo đảm ATTP . “Luật đã không thể làm nền tảng cho sản

xuất kinh doanh thực phẩm và là niềm tin cho người tiêu dùng”. “Luật ATTP

có 28 định nghĩa thì 26 định nghĩa khơng chuẩn, bao gồm cả định nghĩa về

ngộ độc thực phẩm; ngôn ngữ luẩn quẩn, lủng củng, khơng có tính thực tiễn

và hội nhập... vừa thừa lại vừa thiếu” [84]. Điều này chỉ có thể lý giải bởi

nguyên nhân năng lực của đội ngũ soạn thảo Luật còn yếu kém.



Thứ hai, cơng tác phối hợp trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật

về ATTP trong hoạt động thương mại chưa chặt chẽ và thường xuyên.

Sự hợp tác, phối hợp giữa các Bộ trong công tác xây dựng văn bản quy

phạm pháp luật còn chưa được quan tâm đúng mức, văn bản ban hành còn

chậm, nhiều vấn đề “xung đột” né tránh, không quy định cụ thể nên việc thực

hiện pháp luật còn gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, có tình trạng cục bộ về lợi

ích nên một số quy định khơng bảo đảm tính khách quan, gây chồng chéo, cản

trở cho hoạt động, kinh doanh thực phẩm.

Thứ ba, công tác nghiên cứu khoa học phục vụ xây dựng pháp luật

pháp luật về ATTP nói chung và pháp luật về ATTP trong hoạt động thương

mại nói riêng còn hạn chế.

Hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm xây dựng luận cứ lý luận và thực

tiễn làm cơ sở cho việc xây dựng pháp luật về ATTP có ý nghĩa quan trọng. Tuy

nhiên, trong những năm qua, chúng ta đang xem nhẹ hoạt động này dẫn đến tình

trạng một số quy định pháp luật về ATTP nói chung và ATTP trong hoạt động

thương mại nói riêng khi ban hành thiếu tính thống nhất và thực tiễn.

Thứ tư, do truyền thống, thói quen sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng

của kinh tế - xã hội Việt Nam.

Do tính chất phức tạp của vấn đề ATTP trong hoạt động thương mại và đặc

điểm về sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội Việt Nam nên khó có thể

xây dựng được một hệ thống các quy định pháp luật về ATTP trong hoạt động

thương mại đáp ứng được yêu cầu.

3.2. Thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động

thương mại ở Việt Nam

3.2.1. Tình hình an toàn thực phẩm ở Việt Nam

Với việc phải sử dụng các loại thực phẩm khơng an tồn, một số người

tiêu dùng Việt Nam đã phải trả giá đắt bằng chính sức khoẻ, thậm chí cả tính



mạng của mình do bị ngộ độc thực phẩm (NĐTP) và các căn bệnh do thực

phẩm khơng an tồn gây ra như lỗng xương, suy giảm trí nhớ và thối hóa

xương khớp, ung thư... Tuy nhiên, hiện nay người tiêu dùng nước ta đang

phải sử dụng những thực phẩm thiết yếu hàng ngày thiếu an toàn như rau, cá,

thịt, nước tương,...

Theo thống kê của Bộ Y tế, trong giai đoạn 2011-2016, toàn quốc đã ghi

nhận 1.007 vụ NĐTP với 30.395 người mắc và 164 người chết. Trung bình có

167,8 vụ/năm với 5.065,8 người mắc/năm và 27,3 người chết do NĐTP/năm.

So với trung bình giai đoạn 2006-2010, giảm 22 vụ (11,6%), giảm 1.567

người mắc (23,6%), giảm 25 người chết (47,5%). Nguyên nhân gây NĐTP

chủ yếu do vi sinh vật (chiếm 40,2%), tiếp đến nguyên nhân do độc tố tự

nhiên chiếm 27,9%, do hoá chất chiếm 4,3% và còn 268 vụ khơng xác định

được ngun nhân gây ngộ độc (chiếm tỷ lệ 26,6%).[12]

Tình hình NĐTP trong giai đoạn này đang thay đổi theo chiều hướng

tăng về số vụ lẫn số người mắc. Trong những năm gần đây, tỷ lệ NĐTP trong

các cơ sở cung cấp thức ăn sẵn gia tăng. Nếu như ở những năm 2012, 2013, tỷ

lệ NĐTP do các cơ sở cung cấp thức ăn sẵn chiếm khoảng 33,3%, thì trong 3

năm gần đây (2014, 2015 và 2016), tỷ lệ NĐTP trong các cơ sở cung cấp thức

ăn sẵn tăng cao. Trong năm 2015 có 6 vụ NĐTP thì đã có đến 4 vụ do cơ sở

cung cấp thức ăn sẵn gây ra; còn trong 4 tháng đầu năm 2016 có 5 vụ NĐTP

thì 3 vụ là do các cơ sở cung cấp thức ăn sẵn gây ra.[12]

Điển hình một số vụ NĐTP cuối năm 2015 và đầu năm 2016 đã làm

nhiều người phải nhập viện, gây tâm lý bất an và ảnh hưởng đến đời sống của

nhân dân: Ngày 25/11/2015, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra vụ NĐTP tại

Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (địa chỉ tại khu

KT Vũng Áng, huyện Kỳ Anh) làm 89 công nhân mắc và phải nhập viện do

thức ăn chế biến sẵn từ các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống bên ngồi khu



cơng nghiệp; Ngày 25/12/2015, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có thơng tin

nhiều cơng nhân tại Cơng ty TNHH MTV may mặc Huy Lan (địa chỉ tại

phường Tân Định, thị xã Bến Cát) khai báo có các biểu hiện buồn nôn, đau

bụng sau bữa ăn tối và phải nhập viện để theo dõi; Tối ngày 12/01/2016, bệnh

viện Đa khoa Phố Nối tỉnh Hưng Yên đã tiếp nhận và điều trị cho 34 cơng

nhân có biểu hiện bị NĐTP của Công ty TNHH Shinei Corona Việt Nam

(thuộc Khu công nghiệp Thăng Long 2, huyện Yên Mỹ); Ngày 10/3/2016, tại

trường tiểu học Trần Quang Khải (địa chỉ 68/29D Trần Quang Khải, phường

Tân Định, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh) xảy ra hàng chục học sinh có các

biểu hiện buồn nôn, nôn và đau bụng sau bữa ăn trưa và phải nhập viện khám

và điều trị NĐTP; Ngày 15/6/2016, trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã xảy ra vụ

NĐTP tại bếp ăn tập thể của Công ty may Unico Hàn Quốc (địa chỉ tại xã Âu

Lâu, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) làm nhiều công nhân mắc và phải

nhập viện điều trị.[12]

Có thể thấy số vụ NĐTP tập thể thường xuyên xảy ra, ở mức độ nghiêm

trọng và có xu hướng gia tăng tại bếp ăn nhà máy, liên hoan, bếp ăn trường

học, đám cưới...

Tuy nhiên, đây chỉ là thống kê về những vụ NĐTP khi người tiêu dùng

bị ngộ độc đưa vào các cơ sở y tế. Còn những vụ ngộ độc đơn lẻ người dân tự

xử lý, hay việc các chất độc từ thực phẩm ngấm dần dần vào cơ thể thì khơng

có thống kê nào có thể ra con số chính xác được.

Thực tế ở các chợ đầu mối phổ biến rau quả trái vụ như cải bắp, súp lơ…

chỉ có vào mùa đơng nhưng lại được bày bán rất nhiều ở mùa hè, thậm chí

còn xanh và tươi hơn nhiều so với rau quả chính vụ….Đó là những người sản

xuất đã sử dụng những loại thuốc kích thích tăng trưởng và các loại thuốc bảo

vệ thực vật có độ độc cao đã bị cấm sử dụng từ lâu.



Các thực phẩm từ gia súc, gia cầm như: lợn, bò, gà, vịt… những người

chăn ni cũng sử dụng những loại cám tăng trọng không rõ nguồn gốc để

kích thích tăng trưởng, thậm chí những người kinh doanh thực phẩm còn sử

dụng nhiều loại chất tẩy rửa thịt cá ôi thối để che mắt khách hàng…

Thống kê đến tháng 6/2016 cho thấy tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh

nông, lâm, thủy sản được kiểm tra đạt yêu cầu (Loại A/B) về điều kiện bảo

đảm ATTP đã tăng lên 79,76% (lũy kế năm 2015 là 78,3%). Tỷ lệ cơ sở sản

xuất kinh doanh nông, lâm, thủy sản xếp loại C được tái kiểm tra và nâng

hạng A, B là 35,84% (lũy kế năm 2015 là 34,43%).

Cơ quan giám sát ATTP sản phẩm nông lâm thủy sản tập trung giám sát

sản phẩm rủi ro cao, nhiều bức xúc như: thịt, rau, thuỷ sản nuôi. Kết quả giám

sát cho thấy tỷ lệ mẫu vi phạm có giảm, có chuyển biến nhưng kết quả khơng

đạt vẫn còn cao.

Cụ thể, kết quả 6 tháng đầu năm 2016 cho thấy: Rau có 4,2% vi phạm

trong đó thuốc bảo vệ thực vật chiếm 3,98% giảm so với đợt cao điểm hành

động về vệ sinh ATTP hồi tháng 10/2015-2/2016 (5,17%); thủy sản nuôi vi

phạm vệ sinh ATTP chiếm tỷ lệ 1,61% trong đó chỉ tiêu hóa chất, kháng sinh,

chất cấm (chiếm 1,41%, tăng so với cuối năm 2015 (1,14%). Đáng lưu ý, dù

đã giảm so với tháng cao điểm nhưng vẫn có tới 10,93% sản phẩm thịt kiểm

tra vi phạm vệ sinh ATTP, trong đó: Vi phạm vì chứa chất vi sinh là 9,7%

giảm so với đợt cao điểm (15,4%); có chứa hóa chất, kháng sinh, chất cấm,

kim loại nặng (chiếm 1,3%, giảm so với đợt cao điểm hành động về vệ sinh

ATTP (1,91%).[1]

Những thực phẩm bẩn này là tác nhân chính dẫn đến NĐTP và các căn

bệnh đặc biệt nguy hiểm từ tiêu chảy cấp đến ung thư. Việt Nam cũng là một

trong những nước có số lượng người mắc bệnh ung thư gia tăng mạnh. Theo

thống kê, năm 2000, tại Việt Nam chỉ có khoảng 69.000 ca mới mắc bệnh ung



thư, nhưng cho đến năm 2015 vừa qua, số ca mới mắc ung thư tăng lên hơn

gấp đơi, có đến xấp xỉ 150.000 ca. Ước tính đến năm 2020, số ca mắc mới

ung thư sẽ lên đến gần 200.000 ca, đồng nghĩa với việc Việt Nam có thể trở

thành một trong những quốc gia có tỷ lệ mắc ung thư cao nhất thế giới , tỷ lệ

người mắc ung thư do sử dụng thực phẩm “bẩn” gây ra chiếm tỷ lệ cao nhất

khoảng 35%, hút thuốc lá chiếm khoảng 30%, còn lại là yếu tố di truyền

khoảng 10% và một số nguyên nhân khác.[2]

3.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt

động thương mại ở Việt Nam

3.2.2.1. Thực trạng tuân thủ pháp luật về an toàn thực phẩm của các cơ

sở kinh doanh

- Tình hình tuân thủ pháp luật về ATTP của các cơ sở kinh doanh thực

phẩm trên thị trường nội địa.

Trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm, việc đáp ứng đầy đủ các điều

kiện nhằm bảo đảm ATTP được xem như là yếu tố quan trọng quyết định sự

sống còn chính các doanh nghiệp. Chính vì vậy, các cơ sở kinh doanh thực

phẩm đã chú trọng tuân thủ các yêu cầu về điều kiện bảo đảm ATTP.

Theo Báo cáo của Chính phủ, trong giai đoạn 2011-2016, đã có 232.735

cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc diện quản lý của ngành Y tế và

ngành Nông nghiệp đã đáp ứng các yêu cầu về điều kiện bảo đảm ATTP và

đã được các cơ quan chức năng của 02 ngành này cấp Giấy chứng nhận cơ sở

đủ điều kiện ATTP trên tổng số 289.192 cơ sở thuộc đối tượng phải cấp

(chiến 80,5%). Theo báo cáo của các địa phương, tỉ lệ các cơ sở được cấp

được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm ATTP ở các địa phương

khoảng 60%, trừ Hà Nội và TPHCM là trên 90% [12]. Số sản phẩm thực

phẩm được ngành Y tế cấp Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy và Giấy xác

nhận phù hợp quy định ATTP trong giai đoạn 2011-2016 là 152.109 sản



phẩm[12]. Số cơ sở thực hiện ký cam kết bảo đảm ATTP trong sản xuất, kinh

doanh với cơ quan quản lý là 106.252 cơ sở. Các cơ sở chế biến, kinh doanh

dịch vụ ăn uống đã có ý thức thực hiện những điều kiện bảo đảm ATTP, theo

báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh, thành phố, có 27.733 cơ sở thuộc quản lý

của ngành Y tế đã được cấp giấy chứng nhận đạt điều kiện ATTP trong tổng

số 52.392 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống thuộc đối tượng phải cấp (chiếm

52,9%). Đối với cơ sở thuộc diện không phải cấp Giấy chứng nhận, đã có

32.960 cơ sở thực hiện ký cam kết bảo đảm an tồn thực phẩm với cơ quan

quản lý có thẩm quyền.[12]

Về tình hình tuân thủ pháp luật về ATTP tại các chợ, trong thời gian gần

đây đã có những chuyển biến đáng mừng. Hiện nay có khoảng 3067/4736 chợ

đã quy hoạch khu vực bán thịt gia súc, gia cầm trong chợ (chiếm 64,76%);

505 chợ đang triển khai quy hoạch. Cả nước hiện có 157 chợ đầu mối nơng

lâm thủy sản (trong đó có 77 chợ nơng sản đa ngành, 30 chợ đầu mối rau quả,

12 chợ đầu mối lúa gạo và 38 chợ đầu mối thủy sản. Một số chợ đầu mối tại

thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng bước đầu có mơ hình xét nghiệm

ATTP lưu động bằng test nhanh và xe chuyên dùng tại các chợ đầu mối. Tuy

nhiên, xuất xứ hàng thực phẩm tại đa số các chợ đầu mối chưa được kiểm soát

chặt chẽ.[12]

Việc tuân thủ các quy định về bảo đảm ATTP tại các cơ sở phân phối

hiện đại là khá tốt. Tính đến cuối năm 2015, hiện cả nước có khoảng 967 siêu

thị và trung tâm thương mại, trong đó có trên 60% đơn vị kinh doanh trong

lĩnh vực thực phẩm. Các siêu thị, trung tâm thương mại kinh doanh trong lĩnh

vực thực phẩm đều đã được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP.

Hàng hóa thực phẩm được kinh doanh tại các siêu thị, trung tâm thương mại

hầu hết đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, được công bố hợp quy hoặc chứng

nhận bảo đảm ATTP của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b) Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×