Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b) Quy định về ghi nhãn thực phẩm

b) Quy định về ghi nhãn thực phẩm

Tải bản đầy đủ - 0trang

(nếu có); thơng tin bắt buộc trên nhãn bao gồm định lượng, ngày sản xuất,

thông tin cảnh báo, hạn sử dụng và mã số, mã vạch…

Với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà trên nhãn chưa thể hiện hoặc

thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng Tiếng Việt thì phải có nhãn

phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng Tiếng Việt và giữ nguyên nhãn

gốc của hàng hóa. Nhãn phụ cũng được sử dụng với hàng hóa khơng xuất

khẩu được hoặc bị trả lại, đưa ra lưu thơng trên thị trường, đồng thời, phải có

dòng chữ in đậm “Được sản xuất tại Việt Nam”.

Đối với các thực phẩm bao gói sẵn, ngồi tn thủ các quy định về ghi

nhãn hàng hóa, nội dung bắt buộc khi ghi nhãn đó là: Thơng tin trên nhãn

phải đúng bản chất sản phẩm, trung thực, chính xác, rõ ràng, khơng gây hiểu

lầm cho người sử dụng; Tên sản phẩm phải là cỡ chữ lớn nhất, rõ nhất và tối

thiểu gấp 3 lần cỡ chữ khác trên nhãn; Khi chuyển dịch nhãn phải bảo đảm

không sai lệch nội dung so với nhãn gốc.

Theo quy định của pháp luật, “Hạn sử dụng an toàn” bắt buộc phải ghi

“Hạn sử dụng”, hoặc “Sử dụng đến ngày” đối với thực phẩm chức năng, thực

phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực

phẩm tăng cường vi chất và những thực phẩm dễ có khả năng bị hư hỏng do

vi sinh vật.

Hạn sử dụng an toàn đối với các thực phẩm khác có thể ghi “Sử dụng tốt

nhất trước ngày” phù hợp với loại sản phẩm thực phẩm. Đối với thực phẩm

ghi “Hạn sử dụng” hoặc “Sử dụng đến ngày” thì khơng được phép bán ra thị

trường khi đã quá thời hạn này. Đối với thực phẩm ghi “Sử dụng tốt nhất

trước ngày” thì sau thời điểm này thực phẩm vẫn được phép bán trên thị

trường nếu nhà sản xuất chứng minh được thực phẩm đó an tồn với cơ quan

nhà nước có thẩm quyền và phải ghi hạn sử dụng rõ ràng theo một trong hai

hình thức “Hạn sử dụng”, hoặc “Sử dụng đến ngày”.



Chỉ nhà sản xuất thực phẩm mới được kéo dài hạn sử dụng cho sản phẩm

thực phẩm của mình và hạn sử dụng kéo dài tối đa chỉ bằng hạn sử dụng đã

quy định lần đầu tiên.

Với việc quy định cụ thể và chặt chẽ về ghi nhãn hàng hóa đối với hàng

thực phẩm như trên pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại đã góp

phần bảo đảm quyền được cung cấp thơng tin của người tiêu dùng.

3.1.4. Về trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Quản lý nhà nước (QLNN) về ATTP thuộc trách nhiệm của nhiều cơ

quan khác nhau trong bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam. Luật ATTP

2010 đã chuyển hoạt động quản lý về ATTP sang cơ chế quản lý theo nhóm

sản phẩm. Đây là chính sách quan trọng của Luật ATTP, theo đó phân công

trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP được xác định theo hướng quản lý

theo nhóm sản phẩm thay vì quản lý theo phân khúc sản xuất, kinh doanh

thực phẩm với hi vọng khắc phục sự chồng chéo trong quản lý nhà nước về

ATTP của các Bộ, ngành trong lĩnh vực quản lý nhà nước về ATTP. Một

phần của nội dung chính sách này là tư tưởng giảm số Bộ tham gia QLNN về

ATTP từ 8 Bộ (theo Pháp lệnh Vệ sinh an tồn thực phẩm năm 2003) xuống

còn 3 Bộ là Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công

Thương. [52]

Theo quy định của Luật ATTP năm 2010 (tại Điều 62, 63, 64) trách

nhiệm quản lý ATTP được phân công cho Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn và Bộ Cơng thương. Theo đó, Bộ Y tế quản lý ATTP trong

suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu,

nhập khẩu, kinh doanh đối với phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực

phẩm, nước uống đóng chai, nước khống thiên nhiên, thực phẩm chức năng

và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ; Quản lý ATTP đối với

dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong q trình sản xuất, chế



biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; Thanh

tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình

sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được

phân công quản lý. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý ATTP

đối với sản xuất ban đầu nông, lâm, thủy sản, muối; Quản lý ATTP trong suốt

quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển,

xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ

thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả và sản phẩm rau, củ, quả,

trứng và các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản

phẩm từ mật ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm

khác theo quy định của Chính phủ; Quản lý ATTP đối với dụng cụ, vật liệu

bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh

thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý. Bộ Công Thương quản lý

ATTP trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất

khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sữa

chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến bột và tinh bột và các thực phẩm

khác theo quy định của Chính phủ; Quản lý ATTP đối với dụng cụ, vật liệu

bao gói, chứa đựng thực phẩm trong q trình sản xuất, chế biến, kinh doanh

thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

Với quy định về trách nhiệm quản lý ATTP như trên, pháp luật đã phân

định khá rõ trách nhiệm quản lý ATTP của từng Bộ đối với mỗi nhóm sản

phẩm thuộc quản lý chun ngành của mình.

3.1.5. Về trách nhiệm pháp lý đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm

pháp luật về an toàn thực phẩm

Một trong những nguyên tắc của quản lý ATTP là bảo đảm an toàn thực

phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực

phẩm (khoản 1, Điều 3, Luật ATTP năm 2010). Như vậy, các tổ chức, cá



nhân kinh doanh thực phẩm phải tự mình thực hiện những biện pháp, cách

thức cần thiết để bảo đảm thực phẩm đến với người tiêu dùng được bảo đảm.

Tuy nhiên với sự phát triển của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế

quốc tế, khơng ít các cơ sở kinh doanh thực phẩm vì chạy theo lợi nhuận mà

phớt lờ đạo đức kinh doanh đã không thực hiện những quy định pháp luật về

ATTP dẫn đến tình trạng sản phẩm thực phẩm họ cung cấp ra thị trường bị

mất an toàn, gây thiệt hạn cho người tiêu dùng và xã hội. Vì vậy, trong bối

cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì việc bảo đảm ATTP là nhiệm vụ không chỉ

giới hạn trong phạm vi của một địa phương, một quốc gia hay một vùng lãnh

thổ mà còn mang tính tồn cầu. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các

nước, bên cạnh việc quy định nghĩa vụ đối với người kinh doanh thực phẩm

bằng việc xây dựng các quy định về điều kiện bảo đảm ATTP trong kinh

doanh thì một trong những yếu tố để người kinh doanh tự giác thực hiện trách

nhiệm của mình đó chính là xây dựng hệ thống các chế tài xử lý đối với các

chủ thể có hành vi vi phạm các quy định pháp luật đó.

Chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về ATTP được hiểu là

những hậu quả pháp lý bất lợi do pháp luật quy định để áp dụng đối với các

chủ thể có những hành vi vi phạm pháp luật về ATTP. Theo Luật ATTP năm

2010, chế tài xử lý đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về ATTP

gồm: chế tài hành chính, chế tài hình sự và các biện pháp khắc phục (khoản 1,

Điều 6, Luật ATTP năm 2010).

Chế tài hành chính: chế tài hành chính thường là chế tài được áp dụng

nhiều nhất trong thực tiễn. Ở Việt Nam, vấn đề xử xý vi phạm hành chính đối

với hành vi vi phạm pháp luật về ATTP nói chung được quy định ở nhiều văn

bản khác nhau. Khi chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về ATTP, tùy theo

mức độ, tính chất khác nhau xử lý theo quy định tại Nghị định 178/2013/NĐCP ngày 14/11/2013 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính



về an tồn thực phẩm. Theo đó, các hình thức xử phạt được quy định là “cảnh

cáo”, “phạt tiền”. Đối với hình thức phạt tiền, mức phạt tối thiểu đối với 01

hành vi vi phạm 300.000 đồng, tối đa là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200

triệu đồng đối với tổ chức. Ngoài ra, đối với hành vi ghi nhãn không đủ các

nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa là thực phẩm, Nghị định 80/2013/NĐCP ngày 19/07/2013 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa, chủ

thể sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền thấp nhất là 200 nghìn đồng, cao nhất là

15 triệu đồng (tuỳ thuộc vào giá trị hàng hoá bị vi phạm) (Điều 25). Riêng đối

với các hành vi vi phạm về quảng cáo thực phẩm, chế tài xử phạt được quy

định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau nên mức xử phạt áp dụng là

khác nhau. Theo khoản 5 Điều 51 Nghị định 158/2013/NĐ-CP của Chính

Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao,

du lịch và quảng cáo, hành vi quảng cáo gian dối sản phẩm sẽ bị phạt tiền

từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng. Trong khi đó, theo quy định tại Khoản

2 Điều 33 Nghị định 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014 của Chính phủ quy

định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

cạnh tranh sẽ bị phạt tiền từ 80 triệu đồng đến 140 triệu đồng.

Chế tài hình sự: Chế tài hình sự được áp dụng để xử phạt những hành vi

vi phạm gây nguy hiểm cho xã hội, có dấu hiệu tội phạm. Bộ luật Hình sự

năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cụ thể hóa tội danh và những hình phạt

được áp dụng đối với những cá nhân có hành vi xâm hại đến lợi ích xã hội

liên quan đến vấn đề ATTP như: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192),

mức phạt cao nhất là 15 năm tù; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực,

thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193) mức phạt cao nhất là 20 năm tù;

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn ni, phân bón,

thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 195) mức

phạt là 3 năm; Tội



quảng cáo gian dối (Điều 197) phạt cao nhất đến 05 năm.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả: Các chủ thể vi phạm pháp

luật về ATTP, tùy tính chất và mức độ khác nhau, ngồi việc bị xử phạt hành

chính, xử lý hình sự còn có thể bị áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục hậu

quả do hành vi vi phạm phạm gây ra đối với xã hội như: Buộc đưa ra khỏi

lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá,

vật phẩm, phương tiện; Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức

khỏe con người, vật ni, cây trồng và mơi trường..; Buộc cải chính thông tin

sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hố, bao

bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; Buộc thu hồi sản phẩm, hàng

hóa khơng bảo đảm chất lượng (điểm d, đ, e, g và h Khoản 1 Điều 28 của

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012). Đồng thời, các chủ thể vi phạm

còn bị áp dụng những biện pháp sau: Buộc thực hiện kiểm tra vệ sinh thú y

đối với sản phẩm động vật trên cạn chưa qua kiểm tra vệ sinh thú y trước khi

sản xuất, chế biến thực phẩm; Buộc chuyển đổi mục đích sử dụng hàng hóa vi

phạm; Buộc hủy bỏ kết quả kiểm nghiệm được thực hiện từ mẫu thực phẩm bị

đánh tráo hoặc giả mạo hoặc phiếu kết quả kiểm nghiệm được cấp sai quy

định; Buộc tiêu hủy giấy tờ giả; Buộc chịu mọi chi phí cho việc xử lý ngộ độc

thực phẩm, khám, điều trị người bị ngộ độc thực phẩm trong trường hợp xảy

ra ngộ độc thực phẩm (khoản 3, Điều 3 Nghị định 178/2013/NĐ-CP ngày

14/11/2013 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an

tồn thực phẩm). Các biện pháp khắc phục hậu quả mà pháp luật quy định

như trên nhằm loại bỏ mối nguy gây mất an tồn thực phẩm mà các chủ thể có

thể tiếp tục gây ra.

Việc đặt ra các chế tài về hành chính, hình sự cũng như các biện pháp

khắc phục hậu quả của Nhà nước như trên là nhằm ngăn chăn, trừng trị và răn

đe đối với những hành vi vi pham pháp luật về ATTP trong hoạt động thương



mại của các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm. Tuy nhiên, thực tiễn áp

dụng vẫn tồn tại một số khó khăn, bất cập.

3.1.6. Đánh giá thực trạng pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt

động thương mại ở Việt Nam

a) Những thành tựu đạt được

Pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại của Việt Nam trong thời

gian qua đã đạt được một số thành tựu nhất định, là cơ sở pháp lý cho các

quan hệ xã hội phát sinh trong q trình lưu thơng, phân phối và xuất nhập

khẩu hàng thực phẩm ở Việt Nam. Một số điểm tích cực của pháp luật về

ATTP trong hoạt động thương mại có thể kể đến là:

(1) Các văn bản pháp luật về ATTP nói chung và về ATTP trong hoạt

động thương mại nói riêng thời gian qua đã được ban hành khá đầy đủ, từng

bước đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về ATTP và và cải thiện vấn đề

ATTP trong đời sống xã hội. Theo số liệu thống kê của Quốc Hội, trong giai

đoạn 2011- 2016, các cơ quan trung ương của Việt Nam đã ban hành 158 văn

bản quy phạm pháp luật, địa phương đã ban hành 1.253 văn bản quản lý

(trong đó có 669 văn bản quy phạm pháp luật) về ATTP.[41] Nội dung các

văn bản pháp luật ban hành, về cơ bản đã thể chế hóa được các chủ trương,

đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo vệ sức khỏe người

dân và bảo đảm ATTP; nội luật hóa các điều ước, hiệp định quốc tế mà Việt

Nam ký kết tham gia, khá thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện

hành; các quy định hướng dẫn đã bám sát văn bản gốc, phục vụ hiệu quả cho

công tác quản lý. Các quy định pháp luật ATTP được ban hành đúng thẩm

quyền, bám sát yêu cầu của QLNN về ATTP, bảo đảm tính khả thi, tạo mơi

trường kinh doanh tốt cho hoạt động kinh doanh thực phẩm.

(2) Các quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh thực phẩm được quy

định khá cụ thể và toàn diện. Nội dung của các quy định về điều kiện bảo đảm



ATTP trong kinh doanh khá tồn diện. Các nhóm điều kiện cần thiết đều được

quy định như: điều kiện về cơ sở kinh doanh, điều kiện về trang thiết bị dụng

cụ, điều kiện về con người thực hiện kinh doanh. Ngoài ra, pháp luật còn quy

định cụ thể điều kiện bảo đảm ATTP trong lưu thông hàng thực phẩm như:

điều kiện về vận chuyển thực phẩm, điều kiện bảo quản thực phẩm,... Ngoài

việc quy định điều kiện chung, bắt buộc đối với tất cả các cơ sở kinh doanh

thực phẩm, pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại còn quy định

những điều kiện riêng đối với từng sản phẩm và từng quá trình như: điều kiện

để kinh doanh thực phẩm tươi sống, kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến,

điều kiện kinh doanh thức ăn đường phố,... Bên cạnh đó, theo sự phân công

và phân cấp quản lý, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Bộ

Công Thương đã ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh đối với từng

sản phẩm thực phẩm cụ thể.

Việc quy định chi tiết từng điều kiện bảo đảm ATTP đối với việc kinh

doanh từng sản phẩm thực phẩm đã tạo thuận lợi trong việc quản lý nhà nước

về ATTP đối với các cơ quan quản lý nhà nước về ATTP như: hoạt động cấp

giấy chứng nhận đủ điều kiện về ATTP cho các cơ sở kinh doanh, hoạt động

thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về ATTP trong hoạt động thương mại,...

Ngồi ra nó còn tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh

thực phẩm trong việc chủ động đáp ứng các yêu cầu nhằm bảo đảm ATTP của

cơ sở mình.

(3) Hoạt động quảng cáo thực phẩm được pháp luật quy định chặt chẽ,

chi tiết và cụ thể góp phần bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thực phẩm.

Thực tế, trong thời gian trước đây, việc quảng cáo gian dối đối với thực phẩm,

nhất là thực phẩm chức năng đã gây ra không ít tác hại cho người tiêu dùng.

Do đó, việc quản lý chặt chẽ nội dung quảng cáo đối với thực phẩm là hết sức

quan trọng và cần thiết. Bên cạnh đó, các phương tiện quảng cáo cũng phát



triển khơng ngừng, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số tạo ra

các phương tiện quảng cáo nhanh và có sức lan tỏa lớn, gây ra những thách

thức cho các cơ quan quản lý về quảng cáo. Sự phát triển của cơng nghệ đã

hình thành các cách thức quảng cáo mới, gây nhiều trở ngại trong việc kiểm

soát nội dung, đó là quảng cáo trên google adsense, trên faebook, fanpage,...

Chính vì vậy, việc quy định về kiểm duyệt nội dung quảng cáo trước quảng

cáo như hiện này là hết sức cần thiết. Viêc quản lý hoạt động quảng cáo thực

phẩm không thể thực hiện bằng hậu kiểm bởi khi thực hiện xử lý vi phạm thì

hậu quả của hành vi quảng cáo đó đã xảy ra và có thể là rất nghiêm trọng.

(4) Quy định về ghi nhãn thực phẩm được quy định, chặt chẽ nhằm bảo

đảm quyền lợi tối đa của người tiêu dùng.Theo quy định của pháp luật, nhãn

thực phẩm phải thể hiện đầy đủ các thông tin như: tên thực phẩm, tên, địa chỉ

thương nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa thực phẩm, định lượng thực phẩm,

thành phần cấu tạo, chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, ngày sản xuất, hạn sử dụng

và thời hạn sử dụng, hướng dẫn bảo quản sử dụng, suất xứ thực phẩm, ngôn

ngữ,... Với việc quy định chi tiết và chặt chẽ như vậy, các quy định của pháp

luật về ghi nhãn hàng hóa thực phẩm đã tạo điều kiện bảo đảm quyền lợi cho

người tiêu dùng. Qua các thông tin trên nhãn sản phẩm thực phẩm, người tiêu

dùng có thể nhận biết và lựa chọn sản phẩm thực phẩm theo đúng mong muốn

của mình.

(5) Các quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP đã có một

bước tiến vượt bậc trong việc phân công cụ thể cho từng bộ, ngành đối với

hoạt động quản lý ATTP trên thị trường. Với việc giao trách nhiệm cho 3 Bộ

chính chịu hồn toàn trách nhiệm trong quản lý nhà nước về ATTP cho các

sản phẩm thực thẩm thuộc ngành mình quản lý đã bảo đảm được tính xun

suốt tất cả q trình từ sản xuất, chế biến và lưu thông trên thị trường đến tay

người tiêu dùng là an toàn cho sức khỏe và tính mạng. Trước khi Luật ATTP



năm 2010 có hiệu lực, việc quản lý ATTP được phân chia theo từng công

đoạn: Bộ NN&PTNN quản lý khâu sản xuất, Bộ Công Thương khâu lưu

thông, Bộ Y tế khâu chế biến, tuy nhiên Luật ATTP năm 2010 ra đời đã

chuyển đổi quản lý nhà nước về ATTP theo chuỗi sản phẩm và nhóm ngành

hàng, thơng suốt từ khâu trồng trọt, chế biến, lưu thông, phân phối. Luật

ATTP năm 2010 với việc giao cho 03 Bộ gồm, Bộ NN&PTNT, Bộ Y tế và

Bộ Cơng Thương đã hình thành hệ thống tổ chức quản lý ATTP từ trung ương

tời tỉnh, huyện và xã/phường/thị trấn. Xây dựng hệ thống tổ chức quản lý nhà

nước về ATTP theo chuỗi, và giúp kiểm soát ATTP tại nơi phát sinh ra mối

nguy [52]. Bên cạnh đó, việc chỉ rõ trách nhiệm của mỗi Bộ trong xây dựng,

ban hành và quản lý bộ quy chuẩn ATTP riêng cho các cơ sở kinh doanh các

sản phẩm thuộc sự quản lý của mỗi Bộ. Mặt khác cũng chỉ ra được trách

nhiệm của các Bộ đối với một sản phẩm thực phẩm cụ thể khi phát hiện vi

phạm về ATTP và dễ dàng quy trách nhiệm cụ thể khi có sự cố xảy ra. Quy

định như hiện nay làm tăng trách nhiệm của từng Bộ trong quản lý, kiểm tra

và xử lý vi phạm pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại.

(6) Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về ATTP được các cơ quan,

có thẩm quyền tích cực ban hành, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản

xuất, kinh doanh thực phẩm cũng như phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về

ATTP trong thời gian gần đây. Số lượng tiêu chuẩn, quy chuẩn cho kinh

doanh thực phẩm tăng cao trong giai đoạn 2011-2016 so với giai đoạn trước.

Các tiêu chuẩn và quy chuẩn này đã đáp ứng được yêu cầu của quốc tế. Theo

đánh giá của Ngân hàng thế giới thì hệ thống các tiêu chuẩn và quy chuẩn

cũng như các quy định về ATTP ở Việt Nam là khơng mâu thuẫn với WTO. Ít

có bằng chứng là các tiêu chuẩn đó được sử dụng như cơng cụ bảo hộ.

Với những quy định hiện có, pháp luật về ATTP trong hoạt động thương

mại ở Việt Nam đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ATTP trong hoạt



động thương mại thời gian gần đây. Điều kiện ATTP ở các cơ sở sản xuất,

kinh doanh thực phẩm được cải thiện hơn trước đây. Chất lượng của thực

phẩm xuất khẩu, nhập khẩu và lưu thông trên thị trường nội địa được kiểm

soát tốt hơn. Số lượng các cơ sở kinh doanh thực phẩm an toàn như chợ, cửa

hàng, siêu thị kinh doanh thực phẩm tăng dần theo từng năm.

b) Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân

* Bất cập, hạn chế

Hệ thống các quy định pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại

của Việt Nam trong thời gian qua đã đáp ứng phần nào cho công tác quản lý

nhà nước về ATTP trong hoạt động thương mại, tạo dựng môi trường kinh

doanh thuận lợi cho hoạt động kinh doanh thực phẩm, tuy nhiên, hệ thống

pháp luật này còn một số tồn tại, hạn chế sau:

(1) Các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về ATTP ban hành chậm

dẫn đến tình trạng khó khăn khi áp dụng trên thực tiễn.

Luật ATTP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 nhưng đến

25/4/2012 mới ban hành Nghị định 38/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành

một số điều của Luật ATTP; đến năm 2014 mới ban hành Thông tư liên tịch

số 13/2014/TTLT/BYT-BNNPTNT-BCT về phân công, phối hợp trong

QLNN về ATTP. Sự chậm trễ này tạo nên những khoảng trống trong việc áp

dụng pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại.

(2) Các quy định pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại của

Việt Nam chưa được hệ thống hóa.

Hiện nay, có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ATTP

nói chung, tuy nhiên việc hệ thống hóa các văn bản này chưa được thực hiện

dẫn đến áp dụng trên thực tiễn hết sức khó khăn. Cùng một vấn đề nhưng quá

nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Ví dụ, về sản xuất, kinh doanh

sữa chế biến dạng lỏng phải áp dụng không dưới 25 văn bản QPPL, trong đó



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b) Quy định về ghi nhãn thực phẩm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×