Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 3

PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

3.1. Thực trạng pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động

thương mại ở Việt Nam

3.1.1. Về điều kiện kinh doanh thực phẩm

Đối với các chủ thể muốn tham gia kinh doanh thực phẩm, pháp luật đặt

ra những yêu cầu bắt buộc phải đáp ứng, đó là những quy định về điều kiện

kinh doanh. Pháp luật về đầu tư, kinh doanh hiện hành của Việt Nam quy

định kinh doanh thực phẩm là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Đó

là những ngành nghề mà luật pháp đặt ra các yêu cầu mà các chủ thể phải đáp

ứng khi kinh doanh. Điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới hai hình thức:

(1) Giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (giấy phép

kinh doanh có thể mang nhiều tên khác nhau như: giấy chứng nhận đủ điều

kiện kinh doanh, giấy phép hoạt động...); (2) Các điều kiện quy định về tiêu

chuẩn chuyên môn kỹ thuật, công nghệ, vệ sinh mơi trường, vệ sinh an tồn

thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an tồn giao

thơng và quy định về các u cầu khác đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt

là điều kiện kinh doanh không cần giấy phép).

Kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ

Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Y tế là ngành

nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện được quy định tại Danh mục ngành nghề

đầu tư, kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo theo Luật số

03/2016/QH14 ngày 22/11/2016 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về

Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư. Như

vậy, các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện kinh doanh thực phẩm kể từ khi

có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm đáp ứng các điều



kiện đó trong suốt q trình hoạt động kinh doanh (khoản 8 Điều 7 Nghị định

số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp).

Để được thực hiện quyền kinh doanh thực phẩm, các tổ chức, cá nhân phải

đáp ứng toàn bộ những điều kiện mà pháp luật quy định đối với một cơ sở

kinh doanh thực phẩm. Điều này được khẳng định tại khoản 1, Điều 3, Nghị

định số 67/2016/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về điều kiện sản xuất, kinh

doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế, về

nguyên tắc áp dụng pháp luật, đó là “tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện được

quy định tại Nghị định này được sản xuất, kinh doanh thực phẩm”. Hiện nay,

đối tượng kinh doanh thực phẩm được chia làm 2 nhóm: nhóm 1, nhóm các cơ

sở kinh doanh phải cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP; nhóm 2,

nhóm các cơ sở không phải cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP

gồm: cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, bán rong thực phẩm và cơ sở kinh

doanh thực phẩm bao gói sẵn khơng u cầu điều kiện bảo quản đặc biệt theo

quy định. Đối với các cơ sở kinh doanh thực phẩm thuộc nhóm 1, điều kiện

cần và đủ để kinh doanh đó là phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

(đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh, các giấy tờ có giá trị pháp lý

tương đương) và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng

nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP. Các cơ sở này sẽ bị mất quyền kinh doanh

thực phẩm khi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP hết hạn hoặc bị thu

hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện bảo đảm ATTP. Đối với các cơ sở

thuộc nhóm 2, điều kiện để kinh doanh thực phẩm là phải đáp ứng được các

yêu cầu để bảo đảm ATTP trong kinh doanh được các Bộ quản lý chuyên

ngành quy định. Ví dụ, đối với các cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ thuộc

thẩm quyền quản lý chuyên ngành về ATTP của Bộ Công Thương, phải đáp

ứng các yêu cầu sau: (1) Có đủ điều kiện ATTP phù hợp với từng loại hình

kinh doan thực phẩm được quy định tại Mục 8, Chương VI, Nghị định số



77/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ; (2) Thực hiện ký cam kết

với cơ quan nhà nước có thẩm quyền do UBND cấp tỉnh phân cấp quản lý về

ATTP trên địa bàn.

Việc quy định về điều kiện kinh doanh thực phẩm như vậy được xem là

việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựng rào cản nhằm hạn chế những cơ

sở chưa đủ năng lực bảo đảm ATTP tham gia vào chuỗi cung ứng thực phẩm

trên thị trường, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

3.1.2. Về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm

Bảo đảm ATTP là mục tiêu của công tác quản lý ATTP, để thực hiện

mục tiêu này trong hoạt động thương mại thực phẩm, việc đặt ra các yêu cầu

đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại nhằm phòng ngừa, ngăn

chặn các nguy cơ gây mất an toàn đối với thực phẩm là điều hết sức quan

trọng. Các điều kiện bảo đảm ATTP trong hoạt động thương mại là những

yêu cầu bắt buộc phải thực hiện đối với các chủ thể thực hiện hoạt thương mại

hàng thực phẩm.

Đối với các chủ thể hoạt động thương mại hàng thực phẩm, pháp luật

ATTP quy định các điều kiện bảo đảm ATTP trong suốt hoạt động của mình.

Khi nhà nước đã xác định rõ „„kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều

kiện‟‟ (khoản 2, Điều 3, Luật An tồn thực phẩm 2010) thì việc đặt ra các yêu

cầu mà các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng nhằm bảo

đảm ATTP là tất yếu. Đó là những quy chuẩn kỹ thuật và các quy định khác

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm bảo đảm ATTP trong các

hoạt động có liên quan đến kinh doanh thực phẩm.

Tuân thủ các quy định pháp luật về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm

trong hoạt động thương mại là việc tổ chức, cá nhân thực hiện mua bán thực

phẩm và cung ứng dịch vụ liên quan đến thực phẩm đáp ứng đầy đủ các yêu

cầu của pháp luật nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những mối nguy về ATTP có



thể xảy ra trong quá trình này. Đây là nghĩa vụ bắt buộc của các tổ chức, cá

nhân. Điểm a, khoản 2, Điều 8 Luật ATTP năm 2010 quy định nghĩa vụ của

tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm là phải „„tuân thủ các điều kiện bảo

đảm an toàn đối với thực phẩm trong quá trình kinh doanh và chịu trách

nhiệm về an tồn thực phẩm do mình kinh doanh”. Như vậy, việc đáp ứng các

điều kiện bảo đảm ATTP là bắt buộc của tổ chức, cá nhân trong hoạt động

thương mại. Nghĩa vụ này cũng là nghĩa vụ của doanh nghiệp được quy định

trong pháp luật về Doanh nghiệp. Khoản 5, Điều 8, Luật Doanh nghiệp năm

2014, quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ “bảo đảm và chịu trách nhiệm về

chất lượng hàng hóa, dịch vụ theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu

chuẩn đã đăng ký hoặc công bố”. Đáp ứng đầy đủ các điều kiện để bảo đảm

ATTP trong hoạt động thương mại còn thể hiện trách nhiệm của các tổ chức,

cá nhân kinh doanh thực phẩm đối với người tiêu dùng, cộng đồng và xã hội.

Do hàng hóa thực phẩm là loại hàng hóa đa dạng về sản phẩm, đặc tính,

thành phần,... Mỗi một sản phẩm, một khâu trong q trình lưu thơng thực

phẩm phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể, riêng biệt để bảo đảm thực phẩm

được an toàn. Tuy nhiên, để bảo đảm ATTP, trước khi đáp ứng những yêu cầu

(điều kiện) mang tính đặc thù đối với từng loại sản phẩm, từng quá trình, các

tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm cần phải đáp ứng đầy đủ những điều

kiện bảo đảm ATTP cơ bản do pháp luật quy định. Đó là những điều kiện

chung bảo đảm ATTP trong hoạt động thương mại.

a) Quy định về điều kiện chung bảo đảm ATTP trong hoạt động

thương mại

Những điều kiện chung nhằm bảo đảm ATTP trong hoạt động thương

mại bao gồm các quy định pháp lý về điều kiện tối thiểu mà bất kỳ tổ chức, cá

nhân liên quan phải đáp ứng. Theo đó, các cơ sở này phải bảo đảm các điều

kiện sau: điều kiện đối với cơ sở kinh doanh thực phẩm, điều kiện về trang



thiết bị phục vụ kinh doanh, điều kiện đối với người thực hiện quá trình kinh

doanh thực phẩm, điều kiện về bảo quản thực phẩm và điều kiện về vận

chuyển thực phẩm.

* Điều kiện bảo đảm ATTP đối với cơ sở (nơi kinh doanh)

Những điều kiện phải đáp ứng về cơ sở vật chất là các yêu cầu về: diện

tích mặt bằng, kết cấu, vật liệu xây dựng nhà xưởng, kiến trúc khu vực kinh

doanh, các điều kiện về môi trường,… nhằm bảo đảm cho thực phẩm được an

tồn trong suốt q trình kinh doanh. Điều kiện này được quy định tại Điều

19, Luật An toàn thực phẩm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy

định này. Hiện nay, Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Công Thương và Bộ Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp

luật quy định về điều kiện bảo đảm ATTP đối với cơ sở kinh doanh, đó là:

Thơng tư số 15/2012/TT-BYT ngày 12/09/2012 quy định về điều kiện chung

bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm (sau đây gọi là

Thông tư số 15/2012/TT-BYT); Nghị định số 67/2016/NĐ-CP ngày

01/07/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực

phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế; Nghị định số

77/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy

định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc

tế, hóa chất, vật liệu nổ cơng nghiệp, phân bón, kinh doanh khí, kinh doanh

thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Cơng Thương. Theo đó,

các tổ chức, cá nhân căn cứ vào mặt hàng, lĩnh vực kinh doanh của mình thuộc

quản lý chuyên ngành của Bộ nào để đáp ứng các điều kiện về cơ sở kinh

doanh. Tuy nhiên, về cơ bản, các nơi diễn ra hoạt động kinh doanh thực phẩm

phải đáp ứng các yêu tại Điều 19, Luật ATTP 2010 và Điều 5, Thơng tư

15/2012/TT-BYT, đó là các yêu: về diện tích kinh doanh; về khu vực kinh

doanh; về thiết kế nhà xưởng phục vụ kinh doanh; về kết cấu và xây dựng;

về vệ sinh môi trường; về



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×