Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM

VÀ PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM

TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

2.1. Khái quát về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

2.1.1. Khái niệm về an toàn thực phẩm

Từ khi con người bắt đầu xuất hiện trên trái đất đã cần đến thực phẩm để

duy trì sự sống. Ở mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ

khác nhau lại có những loại thực phẩm đặc trưng của mình. Tuy nhiên, thực

phẩm hay còn gọi theo cách thông thường là thức ăn là bất kỳ thứ gì mà con

người có thể ăn uống được. Thực phẩm bao gồm 3 nhóm chính là chất đạm,

chất béo, và tinh bột. Trước đây, nguồn thực phẩm chủ yếu là do con người

săn bắt, hái lượm được. Khi con người biết trồng trọt, chăn ni thì nhiều loại

thực phẩm khác nhau đã ra đời để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ thực phẩm ngày

càng lớn. Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển thì những thực phẩm tiện

lợi hơn như: thực phẩm ăn liền, thực phẩm đóng hộp, thực phẩm chức năng,…

được sử dụng rộng rãi bởi chúng rất tiện ích, nhanh gọn và dễ sử dụng.

An toàn thực phẩm (food safety) là một khái niệm khoa học có nội dung

rộng hơn khái niệm vệ sinh thực phẩm hay chất lượng thực phẩm nó được

hiểu như khả năng không gây nguy hại của thực phẩm đối với con người.

Nguyên nhân gây nguy hại đối với con người có thể là do các tác nhân vi sinh

vật, các chất hóa học hay các yếu tố vật lý. Khả năng gây nguy hại đến con

người khơng chỉ ở chính thực phẩm mà còn do q trình trước thu hoạch.

Theo nghĩa rộng hơn, ATTP còn được hiểu là khả năng cung cấp đầy đủ và

kịp thời về số lượng và chất lượng thực phẩm khi quốc gia gặp thiên tai hoặc

một lý do nào đó.



Trên thực tế, có nhiều khái niệm khác nhau về “an toàn thực phẩm”.

Theo pháp luật của Nhật Bản, khái niệm ATTP được hiểu là vệ sinh thực

phẩm và đươc giải thích như sau: “ATTP được hiểu là điều kiện vệ sinh liên

quan đến việc tiêu dùng thực phẩm của con người bao gồm thực phẩm, phụ

gia thực phẩm, dụng cụ chế biến và bao bì” (khoản 6, Điều 4, Luật vệ sinh

thực phẩm năm 1947, sửa đổi năm 2005 của Nhật Bản). Định nghĩa này có

nhắc tới việc tiêu dùng thực phẩm của con người nhưng vẫn chưa nêu rõ việc

bảo đảm an toàn sức khỏe cho con người khi tiêu dùng thực phẩm.

Theo định nghĩa của Tổ chức Lương thực - Nông nghiệp thế giới (FAO),

ATTP được định nghĩa “an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không

gây hại cho người tiêu dùng khi nó được chế biến hoặc/và dùng theo mục

đích sử dụng của nó”[62,Tr5]. Theo định nghĩa này, ATTP là hoạt động bảo

đảm cho thực phẩm không tác động xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng cả

khi chế biến và sử dụng. Định nghĩa tuy đã thể hiện tính khái quát hóa nhưng

chưa chỉ rõ được tác động của thực phẩm khơng an tồn đối với người tiêu

dùng, đó là gây hại gì cho người tiêu dùng: sức khỏe, hay tính mạng, tinh

thần,…?

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực - Nông

nghiệp thế giới (FAO) thì “An tồn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm

khơng gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm

không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp

chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị

bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng”[65, Tr3]. Đây là khái niệm

khá đầy đủ, tuy nhiên tính khái qt hóa chưa cao.

Theo trang Từ điển bách khoa toàn thực mở vi.wikipedia.org, khái niệm

ATTP được đồng nhất với khái niệm vệ sinh an tồn thực phẩm. Theo đó “Vệ

sinh an tồn thực phẩm hay an toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là một



môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực

phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực

phẩm gây ra…. Hiểu theo nghĩa rộng, vệ sinh an toàn thực phẩm là toàn bộ

những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc bảo đảm vệ sinh đối với thực phẩm

nhằm bảo đảm cho sức khỏe của người tiêu dùng”[85]. Theo cách hiểu này,

ATTP được đánh đồng với vệ sinh an toàn thực phẩm và được xem như là

một môn khoa học để giải quyết những vấn đề liên quan đến thực phẩm nhằm

bảo đảm thực phẩm không gây ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng.

Theo cách hiểu trực tiếp và cơ bản nhất, ATTP là việc khơng để thực

phẩm có ảnh hưởng, gậy hại lên sức khỏe con người. Theo giải thích tại Luật

an tồn thực phẩm năm 2010, “an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực

phẩm khơng gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”. (khoản 1, Điều 2,

Luật ATTP năm 2010) Đây là khái niệm khá khái quát khi nó chứa đựng đầy

đủ những nội dung cốt lõi của vấn đề về ATTP. Theo khái niệm này, ATTP

được hiểu là việc thực hiện những cách thức, biện pháp để bảo đảm thực

phẩm khơng gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người. Trong luận án,

“an toàn thực phẩm” được định nghĩa là việc bảo đảm để thực phẩm không

gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người, định nghĩa này đồng nhất với

khái niệm về an toàn thực phẩm trong Luật ATTP năm 2010.

Để biết thực phẩm có an tồn hay khơng, cần dựa vào một cơ sở hiểu

biết có tính khoa học, cho phép trả lời đâu là an tồn, đâu là nguy hại, bởi vì

các chất độc có thể tích tụ trong cơ thể thời gian dài, ảnh hưởng đến sức khỏe

một cách thầm lặng trước khi phát bệnh.

Bảo đảm ATTP có nghĩa là những hành động của con người nhằm ngăn

chặn các mối nguy, hạn chế và xử lý hậu quả do thực phẩm khơng an tồn gây

ra đối với con người, động thực vật. Cụ thể là: phòng ngừa các mối nguy về

an tồn và vệ sinh thực phẩm; kiểm tra, kiểm soát, xử lý các trường hợp vi



phạm về VSATTP; và can thiệp để loại trừ hậu quả do thực phẩm gây nên đối

với con người, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội.

Như vậy, mục đích trực tiếp của việc bảo đảm ATTP là bảo vệ sức khỏe

người tiêu dùng. Tuy nhiên, vấn đề ATTP còn có ý nghĩa to lớn hơn đó là vấn

đề phát triển con người, vấn đề chất lượng cuộc sống, vấn đề công bằng xã

hội, vấn đề hội nhập quốc tế và văn hoá.

Trước hết, xét về bình diện xã hội, ATTP liên quan đến chất lượng lao

động của cả nền kinh tế hiện tại và tương lai, duy trì và phát triển nòi giống

của dân tộc. Thứ hai, trong bối cảnh hội nhập hiện nay ATTP ảnh hưởng đến

sức cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt là những nước đang phát triển mà

nguồn tích luỹ ban đầu dựa chủ yếu vào các nguồn lực tự nhiên. Các sản

phẩm nông nghiệp và thuỷ sản bảo đảm ATTP là lợi thế cạnh tranh của các

nước này trong thương mại quốc tế, làm tăng khả năng tiếp cận thị trường.

Thứ ba, bảo đảm ATTP còn có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường

thuận lợi thu hút ngoại lực như đầu tư trực tiếp nước ngoài, du lịch, nâng cao

hình ảnh quốc gia trong con mắt của người nước ngồi. Cuối cùng, ATTP còn

liên quan đến các yếu tố văn hoá - xã hội. Văn hoá ẩm thực của một vùng,

một nước là di sản vô cùng q giá góp phần cho phát triển.

2.1.2. An tồn thực phẩm trong hoạt động thương mại

Vấn đề ATTP được đề cập trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội,

trong đó có lĩnh vực thương mại. Vậy ATTP trong hoạt động thương mại là

gì? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “hoạt động

thương mại”.

Thương mại, tiếng Anh là Trade, vừa có ý nghĩa là kinh doanh, vừa có ý

nghĩa là trao đổi hàng hố, dịch vụ. Ngồi ra tiếng Anh còn dùng một thuật

ngữ nữa là Business hoặc Commerece với nghĩa là buôn bán hàng hoá, kinh

doanh hàng hoá hay là mậu dịch. Tiếng Pháp cũng có từ ngữ tương đương



Commerce (tương đương với Business, Trade của tiếng Anh) là sự buôn bán,

mậu dịch hàng hoá, dịch vụ. Tiếng La tinh, thương mại là Commercium vừa

có ý nghĩa là mua bán hàng hố, vừa có ý nghĩa là hoạt động kinh doanh. Như

vậy, khái niệm thương mại cần được hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên

thị trường, Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu là các hoạt

động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị

trường. Đó là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, đồng nghĩa với hoạt

động kinh doanh. “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất

cả các cơng đoạn của q trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm

hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (khoản 16,

Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2014). Hoạt động kinh doanh thực hiện trong

nhiều lĩnh vực: sản xuất, lưu thơng hàng hóa và dịch vụ.

Như vậy, hoạt động thương mại bao gồm không chỉ các hoạt động mua

bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà còn là các hoạt động đầu tư cho sản xuất

dưới các hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, được điều chỉnh

bằng Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật

Chứng khoán và các Luật chuyên ngành khác.

Theo nghĩa hẹp, Thương mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên

thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thơng hàng hố. Nếu hoạt động trao

đổi hàng hoá (kinh doanh hàng hoá) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người

ta gọi đó là ngoại thương (hoạt động xuất, nhập khẩu)

Theo Luật thương mại, “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục

đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến

thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1, Điều 3,

Luật Thương mại 2005). Hoạt động thương mại được định nghĩa theo Luật

Thương mại chỉ tập trung vào các hoạt động kinh doanh trong 2 khâu lưu

thông và dịch vụ, không bao hàm khâu đầu tư cho sản xuất.



Hai lĩnh vực chủ yếu của hoạt động thương mại là thương mại hàng hóa

và thương mại dịch vụ. Theo khoản 8, 9, Điều 3, Luật Thương mại 2005: mua

bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao

hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh tốn; bên

mua có nghĩa vụ thanh tốn cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng

hoá theo thỏa thuận; Cung ứng dịch vụ (Thương mại dịch vụ) là hoạt động

thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực

hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi

là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng

dịch vụ theo thỏa thuận.

Trên thực tế, thương mại có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức

khác nhau:

- Theo phạm vi hoạt động, có thương mại nội địa (nội thương), thương

mại quốc tế (ngoại thương), thương mại khu vực, thương mại thành phố, nông

thôn, thương mại nội bộ ngành…

- Theo đặc điểm và tính chất của sản phẩm trong q trình tái sản xuất xã

hội, có thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại hàng sản xuất,

thương mại hàng tiêu dùng…

- Theo các khâu trong quá trình lưu thơng, có thương mại bán bn,

thương mại bán lẻ.

- Theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào quá trình thương mại, có

thương mại tự do và thương mại có sự bảo hộ.

- Theo kỹ thuật giao dịch, có thương mại truyền thống và thương mại

điện tử.[18]

Theo pháp luật thương mại, hoạt động thương mại có các đặc điểm sau:

+ Về chủ thể: hoạt động thương mại là quan hệ giữa các thương nhân

hoặc ít nhất một bên là thương nhân, người thực hiện các hoạt động kinh



doanh thương mại có tính chất nghề nghiệp. Thương nhân bao gồm tổ chức

kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc

lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Điều 6, Luật thương mại).

Ngồi ra, tham gia vào các hoạt động thương mại còn có các cá nhân hoạt

động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh

doanh (Không phải là thương nhân theo Luật thương mại). Như vậy, chủ thể

của hoạt động thương mại thực phẩm là các tổ chức, các nhân tham gia vào

việc mua bán hàng hóa là thực phẩm và cung ứng ứng dịch vụ liên quan đến

thực phẩm như: vận chuyển, bảo quản, đóng gói,… thực phẩm

+ Về mục đích: Mục đích của người thực hiện hoạt động thương mại

là lợi nhuận

+ Về nội dung: 02 nhóm hoạt động cơ bản là mua bán hàng hoá và cung

ứng dịch vụ (thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ). Ngồi ra, các hình

thức đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng là những hoạt động thương mại.

Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, hình thức đầu tư này

khơng được đặt ra.

Việc xem xét thương mại theo nhiều góc độ trên tuy mang tính tương đối

nhưng có ý nghĩa trong việc xây dựng các chính sách thương mại nói chung,

chính sách về ATTP nói riêng, trong đó có việc xây dựng pháp luật về ATTP

trong hoạt động thương mại. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án này,

nghiên cứu sinh tiếp cận khái niệm thương mại theo nghĩa hẹp, theo đó, “hoạt

động thương mại là q trình mua bán hàng hố và cung ứng dịch vụ trên thị

trường”, là lĩnh vực phân phối và lưu thơng hàng hố và dịch vụ liên quan

đến thực phẩm.

Như vậy, có thể hiểu “hoạt động thương mại hàng thực phẩm là hoạt

động mua bán hàng hóa là thực phẩm và cung ứng các dịch vụ liên quan đến

thực phẩm trên thị trường”. Thuật ngữ “hoạt động kinh doanh thực phẩm”



trong luận án này được hiểu đồng nhất với khái niệm “hoạt động thương mại

hàng thực phẩm”, thuật nghữ “kinh doanh thực phẩm” được hiểu là việc thực

hiện hoạt động mua bán hàng hóa là thực phẩm và cung ứng dịch vụ liên quan

đến thực phẩm.

Như vậy, với cách hiểu về “an toàn thực phẩm” và “hoạt động thương

mai” như trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về ATTP trong hoạt động

thương mại như sau: An toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại là việc

bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người

trong hoạt động mua bán hàng hóa là thực phẩm và cung ứng dịch vụ liên

quan đến thực phẩm.

Hiểu một cách đơn giản, ATTP trong hoạt động thương mại là việc thực

hiện những biện pháp nhằm bảo đảm thực phẩm không gây hại đến sức khỏe

và tính mạng của người tiêu dùng trong một số hoặc tất cả các hoạt động:

buôn bán, giới thiệu, bảo quản, vận chuyển,...

2.2. Pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

2.2.1.Khái niệm pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương

mại

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan

hệ xã hội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và

được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.[14,Tr288]

Pháp luật được hiểu là tập hợp của những quy phạm hay quy tắc ứng xử

được nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực thi. Pháp luật trước

hết là những quy định do nhà nước ban hành, thông qua những thủ tục chặt

chẽ, tồn tại chủ yếu ở những văn bản pháp luật.[54]

Mục đích mà pháp luật ATTP hướng tới là bảo vệ sức khỏe, tính mạng

và những lợi ích khác của người tiêu dùng. Pháp luật ATTP điều chỉnh mối

quan hệ phát sinh trong chuỗi cung ứng thực phẩm gồm: trồng trọt/chăn nuôi,

thu hái/đánh bắt/khai thác, sơ chế/chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển,



giới thiệu, bn bán thực phẩm. Như vậy, pháp luật ATTP là một lĩnh vực

pháp luật chuyên ngành tập hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp

lý điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa chủ thể trong quá trình các

chủ thể trong chuỗi cung ứng thực phẩm.

Pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại là một bộ phận của pháp

luật ATTP, điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thương mại

thực phẩm. Như vậy, có thể hiểu, pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt

động thương mại là tập hợp những quy phạm do nhà nước ban hành nhằm

điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động

mua bán hàng hóa là thực phẩm và cung ứng dịch vụ liên quan đến thực

phẩm.

Pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại được xác định là tập hợp

các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Đó là

những quy tắc, chuẩn mực chung mang tính bắt buộc phải thi hành đối với tất

cả các tổ chức, cá nhân có liên quan, và được ban hành bởi các cơ quan nhà

nước có thẩm quyền. Nhà nước sử dụng những thiết chế của mình để bảo đảm

thực hiện nó trong đời sống xã hội. Khách thể của các quy phạm pháp luật

này là những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương mại thực phẩm.

Các quy phạm này điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong q trình thực

hiện mua bán hàng hóa và cung ứng dich vụ liên quan đến thực phẩm.

2.2.2. Nội dung pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động

thương mại

Pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại bao gồm

những nội dung chính sau:

(1)



Các quy phạm về điều kiện kinh doanh thực phẩm



Quyền tự do kinh doanh là một trong các quyền của quyền con người.

Điều 33 Hiến pháp 2013 “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những

ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Hiến pháp năm 2013 đã đặt đúng vị trí



quyền con người như là định chế cơ bản, bao gồm các quyền về chính trị,

kinh tế, văn hố, xã hội, phù hợp với mong muốn của nhân dân, đồng thời

tương thích với thế giới văn minh thời kỳ hội nhập, với các Công ước quốc tế

về quyền con người mà Việt Nam tham gia. Tuy nhiên, quyền tự do kinh

doanh khơng phải là tuyệt đối, nó cũng như nhiều quyền khác, phải tuân theo

nguyên tắc “quyền của cá nhân, tổ chức này không được gây phương hại đến

quyền của cá nhân, tổ chức khác” và vì vậy, trong một số trường hợp phải

được giới hạn. Việc giới hạn quyền tự do kinh doanh phải dựa trên những

nguyên tắc cơ bản, phù hợp với thế giới văn minh, theo hướng Nhà nước “tạo

mọi điều kiện để thực hiện quyền tự do kinh doanh” chứ không phải Nhà

nước quản lý quyền đó theo hướng “quản được đến đâu thì cho phép mở rộng

quyền đến đó”. Các nguyên tắc giới hạn quyền tự do kinh doanh phải đảm

bảo vì mục đích chính đáng, bảo đảm sự phù hợp giữa giới hạn quyền và mục

đích đặt ra và cuối cùng phải bảo đảm được sự cơng bằng giữa lợi ích thu

được với giới hạn quyền. Luật đầu tư 2014 đã cụ thể hoá nguyên tắc hạn chế

quyền tự do kinh doanh với hai điều khoản, điều thứ nhất là quy định ngành

nghề cấm kinh doanh phải bằng Luật chứ không phải bằng văn bản dưới luật.

“Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các

ngành nghề mà Luật này không cấm” (Điều 6). Đối với các ngành nghề đầu

tư kinh doanh có điều kiện, Luật đầu tư quy định 5 lý do để giới hạn quyền tự

do kinh doanh, đó là các ngành nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh

doanh trong các ngành nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng,

an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng

(Điều 71). Luật này quy định tiếp, cụ thể hơn đó là điều kiện đầu tư kinh

doanh đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện phải được quy định tại các

luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Chất lượng và sự an toàn của thực phẩm có vai trò hết sức quan trọng đối

với sức khỏe và tính mạng của con người. Thực phẩm là nguồn cung cấp chất



dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển bình thường của cơ thể, đảm bảo sức

khỏe con người để học tập, làm việc và lao động sản xuất, nhưng đồng thời

cũng là nguồn có thể gây bệnh nếu khơng đảm bảo về an tồn. Về lâu dài thực

phẩm khơng những có tác động thường xun đối với sức khỏe mỗi con

người mà còn ảnh hưởng đến nòi giống của dân tộc. Mặt khác, công tác bảo

đảm an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay đang phải đối mặt với nhiều thách

thức rất lớn như: chưa kiểm soát được dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, dư

lượng thuốc thú y, hố chất bảo quản trong nơng sản, thực phẩm,... Bên cạnh

đó, hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm vẫn chủ yếu là thủ công, quy mơ

hộ gia đình, cá thể. Vì vậy, điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ sở

chế biến thực phẩm loại này hầu như không đạt yêu cầu. Hơn nữa, vấn đề

thực phẩm buôn bán trên thị trường vẫn chưa được kiểm soát hiệu quả, thực

phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng, thực phẩm nhập lậu còn lưu thông trên

thị trường. Vấn đề thực phẩm, phụ gia thực phẩm, hoá chất bảo vệ thực vật và

thuốc thú y nhập lậu qua biên giới diễn biến rất phức tạp, đang là vấn đề gây

nhức nhối, bức xúc cho xã hội. Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật về

vệ sinh an toàn thực phẩm của một số tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh

thực phẩm và người tiêu dùng còn chưa cao…

Chính vì vậy, việc quy định kinh doanh thực phẩm là ngành nghề kinh

doanh có điều kiện là cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm bảo đảm thực

phẩm không không gây hại đến sức khỏe và tính mạng người tiêu dùng và sự

an tồn của cộng đồng.

Điều kiện kinh doanh thực phẩm là những yêu cầu nhà nước đặt ra buộc

các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng được khi thực hiện kinh doanh thực

phẩm. Đây được coi là công cụ quản lý kinh tế nói chung và quản lý an tồn

thực phẩm nói riêng của nhà nước. Điệu kiện kinh doanh thực phẩm hiện nay

được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản sau: giấy phép kinh doanh và các yêu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×