Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA

SẢN PHẨM

1.1. Một số khái niệm cơ bản về năng lực cạnh tranh sản phẩm

1.1.1. Cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa

quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia. Việc nghiên cứu hiện tượng

cạnh tranh đã từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ

điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại.

Theo Michael Porter (1996): Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của

cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung

bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả q trình cạnh tranh là sự bình qn hóa

lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể

giảm đi.

Theo Samuelson (1986): Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp

cạnh tranh với nhau để giành khách hàng. Cạnh tranh là một trong những đặc trưng

cơ bản của nền kinh tế thị trường và là năng lực phát triển của nền kinh tế thị

trường. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh quyết định sự sống còn của mỗi

doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thông qua yếu tố giá cả, chất

lượng, dịch vụ… nhằm thu lợi nhuận, lôi kéo khách hàng, mở rộng thị phần và nâng

cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường… Như vậy, cùng với việc đáp ứng sự

thay đổi nhu cầu tiêu dùng theo hướng ngày càng đa dạng mà các doanh nghiệp

cũng không ngừng nghiên cứu, phát triển sản phẩm, ứng dụng khoa học công nghệ

trong sản xuất, cắt giảm chi phí, phát triển kênh phân phối… góp phần thúc đẩy sự

phát triển toàn diện của nền kinh tế thị trường.

Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn

lực của xã hội vào SXKD hàng hố, dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng cao năng lực

sản xuất của tồn xã hội. Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp yếu kém bị đào thải,

doanh nghiệp mới xuất hiện, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và



18



phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội được sử dụng hợp lý, là cơ sở, là tiền đề cho sự

thành công trong việc tăng trưởng nền kinh tế.

Từ các khái niệm trên, theo tác giả có thể hiểu một cách thống nhất về thuật

ngữ “Cạnh tranh” như sau: Cạnh tranh là tập hợp những hành vi nhằm giành lấy

những lợi thế để thực hiện được các phương án kinh doanh thu được lợi nhuận cao

nhất trong những điều kiện khách quan cụ thể nhất định.

1.1.2. Năng lực cạnh tranh

Trong từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng

giành được thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại, trên cùng

một thị trường tiêu thụ”. Nhìn chung năng lực cạnh tranh có thể phân biệt theo các

cấp độ: Năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và

năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.

Năng lực cạnh tranh của quốc gia: Là khả năng của một đất nước trong việc

nhận rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung nhất là đối với tăng cường thu

nhập và việc làm mà khơng gặp khó khăn trong cán cân thanh toán. Năng lực cạnh

tranh quốc gia phụ thuộc vào khả năng khai thác cơ hội trên thị trường quốc tế.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Là khả năng bù đắp chi phí duy trì

lợi nhuận và được đo bằng thị phần sản phẩm và dịch vụ doanh nghiệp trên thị

trường. Theo đó doanh nghiệp có chi phí càng thấp, lợi nhuận và thị phần càng cao

thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó càng lớn và ngược lại.

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ: Là khả năng thỏa mãn tốt các

nhu cầu, mong muốn của khách hàng, nó được thể hiện bằng việc khách hàng lựa

chọn sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của mình. Do đó sản phẩm có năng lực cạnh

tranh cao là sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hạ và sự tiện lợi cho khách hàng.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp cũng bao gồm thêm nhiều nhân tố mới. Nhiều nhân tố như khả năng

nghiên cứu phát triển khoa học cơng nghệ, trình độ cán bộ quản lý, uy tín doanh

nghiệp, khả năng nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp trên thị

trường... ngày nay càng được coi trọng. Nắm được xu thế phát triển tất yếu này,



19



doanh nghiệp sẽ có khả năng phát huy tối đa năng lực của mình để giành giật thị

phần trên thị trường. Sự thành công của doanh nghiệp chiếm lĩnh được một mảng

thị trường lớn đều xuất phát từ chính mỗi năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm.

Mỗi một sản phẩm của doanh nghiệp đưa ra có chỗ đứng trên thị trường cạnh tranh

được với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh tốt thì doanh nghiệp mới phát triển được.

Vì vậy khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm cần so sánh mối quan

hệ giữa sản phẩm đó với các nhân tố tác động từ bản thân các chính sách của doanh

nghiệp cũng như từ sự cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Từ đó

đưa ra các biện pháp thích hợp.

1.1.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi thế so

sánh đối với sản phẩm cùng loại. Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao hàm các

yếu tố bên trong và bên ngoài tạo nên như năng lực sản xuất, chi phí sản xuất, chất

lượng sản phẩm, dung lượng thị trường của sản phẩm... Khi nói sản phẩm A do

doanh nghiệp B sản xuất có năng lực cạnh tranh hơn sản phẩm A do doanh nghiệp C

sản xuất là nói đến những lợi thế vượt trội của sản phẩm do doanh nghiệp B sản

xuất như doanh nghiệp này có năng lực sản xuất lớn hơn, có chi phí sản xuất trên

một đơn vị sản phẩm thấp hơn, sản phẩm có chất lượng cao hơn, có dung lượng thị

trường được chiếm lĩnh lớn hơn... Còn nếu so sánh với sản phẩm cùng loại nhập

khẩu thì yếu tố lợi thế được thể hiện cơ bản qua giá bán sản phẩm, giá trị sử dụng

của sản phẩm và một phần khơng nhỏ là tâm lý tiêu dùng.

Như vậy, có thể thấy khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động,

được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ

mơ. Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng

năm sau, hoặc năm sau nữa lại khơng còn năng lực cạnh tranh nếu không giữ được

các yếu tố lợi thế. Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng

vững khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất

lượng hay dịch vụ ngang bằng hay cao hơn. Theo lý thuyết thương mại truyền

thống, năng lực cạnh tranh được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và

năng suất lao động.



20



Theo M. Porter (2009), năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai

thác các năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự dị biệt

của sản phẩm. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định

lợi thế cạnh tranh của mình và sử dụng lợi thế cạnh tranh đó để chiến thắng đối thủ

cạnh tranh.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm

1.2.1. Các yếu tố môi trường vĩ mô

(1) Chính trị pháp luật

Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, mở rộng và

ổn định sẽ làm cơ sở cho sự bảo đảm điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các

doanh nghiệp tham gia cạnh tranh lành mạnh, đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp và

xã hội. Thể hiện rõ nhất là các chính sách bảo hộ mậu dịch tự do, các chính sách tài

chính, những quan điểm trong lĩnh vực nhập khẩu, các chương trình quốc gia, chế

độ tiền lương, trợ cấp, phụ cấp cho người lao động... Các nhân tố này đều ảnh

hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

(2) Yếu tố kinh tế

Các nhân tố về mặt kinh tế có vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hình

thành và hồn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng

cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế gồm có:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định sẽ làm

cho thu nhập của tầng lớp dân cư tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng

lên. Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách

hàng tạo nên sự thành công trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nền kinh tế

tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định kéo theo hoạt động kinh doanh của các doanh

nghiệp đạt hiệu quả cao, khả năng tích tụ và tập trung sản xuất cao.

Tỷ giá hối đoái: Đây là nhân tố tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng

quốc gia và từng doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa khi đồng

nội tệ lên, giá sẽ khuyến khích nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh



21



nghiệp trong nước sẽ giảm trên thị trường nội địa. Các doanh nghiệp trong nước

mất dần cơ hội mở rộng thị trường, phát triển SXKD. Ngược lại, khi đồng nội tệ

giảm, giá dẫn đến xuất khẩu tăng cơ hội SXKD của các doanh nghiệp trong nước

tăng, khả năng cạnh tranh cao hơn ở thị trường trong nước và quốc tế bởi khi đó giá

bán hàng hóa trong nước giảm hơn so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh

doanh của doanh nghiệp cao, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

nhất là khi so với doanh nghiệp có tiềm lực vốn sở hữu mạnh.

Lạm phát: Lạm phát cao các doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào SXKD, đặc

biệt là đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất của doanh

nghiệp vì các doanh nghiệp sợ khơng đảm bảo về mặt hiện vật các tài sản, không có

khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xẩy ra lạm phát rất lớn.

Các chính sách kinh tế của Nhà nước: Các chính sách phát triển kinh tếcủa

Nhà nước có tác dụng cản trở hoặc ủng hộ lớn đến hoạt động SXKD của doanh

nghiệp. Một chính sách kinh tế của Nhà nước có khi tạo cơ hội đối với doanh

nghiệp này nhưng lại làm mất cơ hội cho doanh nghiệp khác.

(3) Khoa học công nghệ

Nhóm nhân tố khoa học cơng nghệ tác động một cách quyết định đến hai yếu

tố cơ bản nhất tạo nên khả năng cạnh tranh trên thị trường hay khả năng tiêu thụ sản

phẩm của doanh nghiệp, đó là hai yếu tố chất lượng và giá bán. Khoa học công

nghệ hiện đại áp dụng trong SXKD góp phần làm tăng chất lượng hàng hóa và dịch

vụ, giảm tối đa chi phí sản xuất (tăng hiệu suất) dẫn tới giá thành sản phẩm giảm.

(4) Văn hóa - xã hội

Phong tục tập qn, lối sống, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, tơn giáo tín

ngưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến mức tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa của doanh

nghiệp.Những khu vực khác nhau có văn hóa - xã hội khác nhau do vậy khả năng

tiêu thụ hàng hóa cũng khác nhau, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu rõ những

yếu tố thuộc về văn hóa - xã hội ở khu vực đó để có những chiến lược sản phẩm phù

hợp với từng khu vực khác nhau.



22



1.2.2. Nguồn lực của doanh nghiệp

(1) Khả năng tài chính

Đây là nhân tố quan trọng quyết định khả năng kinh doanh cũng như là chỉ

tiêu hàng đầu để đánh giá quy mô của doanh nghiệp. Bất cứ một hoạt động đầu tư,

mua sắm trang thiết bị hay phân phối, quảng cáo… đều phải được tính tốn dựa trên

thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính

mạnh mẽ sẽ có khả năng trang bị các dịch vụ hoàn hảo, tổ chức các hoạt động

quảng cáo khuyến mại mạnh mẽ nâng cao sức cạnh tranh. Năng lực tài chính được

thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả, năng

lực quản lý tài chính…

(2) Trình độ nhân sự

Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ là những người quyết định các hoạt

động kinh doanh: Kinh doanh cái gì? sản phẩm/dịch vụ nào tốt cho ai? Số lượng

bao nhiêu? Mỗi một quyết định của họ có một ý nghĩa hết sức quan trọng liên quan

tới sự tồn tại, phát triển hay diệt vong của doanh nghiệp. Chính họ là những người

quyết định cạnh tranh như thế nào, khả năng cạnh tranh của công ty sẽ tới mức bao

nhiêu… Nguồn nhân lực trong cơng ty còn là lực lượng tham gia tích cực vào q

trình cải tiến kỹ thuật, góp sức vào những phát kiến và sáng chế… Do vậy, trình độ

của lực lượng lao động tác động rất lớn đến chất lượng của sản phẩm/dịch vụ, ảnh

hưởng lớn đến năng suất chi phí của doanh nghiệp.

(3) Trình độ cơng nghệ sản xuất - kinh doanh

Trình độ chất lượng của sản phẩm không thể vượt quá giới hạn khả năng của

trình độ tiến bộ khoa học - công nghệ của một giai đoạn lịch sử nhất định. Chất

lượng sản phẩm trước hết thể hiện ở những đặc trưng về trình độ kỹ thuật tạo ra sản

phẩm đó. Các chỉ tiêu kỹ thuật này lại phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật, cơng nghệ

sử dụng để tạo ra sản phẩm. Đây là giới hạn cao nhất mà chất lượng sản phẩm có

thể đạt được. Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra khả năng không ngừng nâng cao

chất lượng sản phẩm. Tác động của khoa học công nghệ là khơng có giới hạn, nhờ

đó mà sản phẩm sản xuất ra ln có các thuộc tính chất lượng với các chỉ tiêu kinh



23



tế - kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, mức thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng ngày

càng tốt hơn. Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra phương tiện điều tra, nghiên cứu

khoa học chính xác hơn, xác định đúng đắn nhu cầu và biến đổi nhu cầu thành đặc

điểm sản phẩm chính xác hơn nhờ trang bị những phương tiện đo lường, dự báo, thí

nghiệm, thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn.Công nghệ, thiết bị mới ứng dụng trong sản

xuất giúp nâng cao các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của sản phẩm. Nhờ tiến bộ khoa

học công nghệ làm xuất hiện các nguồn nguyên nhiên liệu mới tốt hơn, rẻ hơn

nguồn nguồn nguyên liệu sẵn có. Khoa học quản lý phát triển, hình thành những

phương pháp quản lý tiên tiến hiện đại, góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn

nhu cầu của khách hàng và giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng sản

phẩm, tăng mức độ thoả mãn khách hàng.

(4) Khả năng tổ chức, quản lý

Điều này được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, tác phong làm việc của các

thành viên, mối quan hệ của các bộ phận. Một bộ máy được vận hành một cách nhịp

nhàng, thơng suốt chắc chắn sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và ngược

lại. Để có được sự tổ chức quản lý tốt doanh nghiệp cần phải tạo ra được quy chế

làm việc. Các quy định về trách nhiệm và quyền lợi cho các cá nhân, mối quan hệ

giữa các bộ phận trong doanh nghiệp một cách rõ ràng và được sự nhất trí của các

thành viên trong doanh nghiệp. Khả năng tổ chức quản lý còn phụ thuộc rất lớn vào

khả năng quản lý tổ chức của những người làm công tác quản lý trong doanh

nghiệp. Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thực hiện ở việc sắp xếp, bố

trí cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ

phận, ở việc hoạch định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp.

Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng gọn nhẹ và hiệu

quả có ý nghĩa quan trọng không chỉ đảm bảo hiệu quả quản lý cao, ra quyết định

nhanh chóng, chính xác mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý doanh nghiệp,

nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

(5) Kế hoạch SXKD



24



Kế hoạch sản xuất dựa trên kết quả hoạt động SXKD của năm trước và công

tác nghiên cứu dự báo thị trường tiêu thụ của năm tới. Việc đưa ra được kế hoạch

SXKD hợp lý sẽ giúp cho công ty khắc phục được tình trạng tồn kho, cũng như hạn

chế các chi phí liên quan đến lưu kho, dữ trự, bảo quản sản phẩm. Từ đó tiết kiệm

được chi phí để tiến hành tái đầu tư, quay vòng sản xuất cũng như thực hiện các

chương trình bán hàng phù hợp, nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như khả năng

cạnh tranh của doanh nghiệp.

(6) Thương hiệu của doanh nghiệp

Thương hiệu doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển và

năng lực cạnh tranh của một sản phẩm. Trong kinh doanh và tiêu dùng thương hiệu

xuất hiện do nhu cầu nhận biết, xác định và phân biệt sản phẩm của các nhà sản

xuất khác nhau. Để nhận biết và xác định sản phẩm người ta phải nhãn hiệu hóa sản

phẩm và nâng cao hơn nữa là thương hiệu hóa các sản phẩm.Vì thương hiệu thường

gắn với sản phẩm và được sử dụng để xác định sản phẩm của từng doanh nghiệp

nên khách hàng thường mua sản phẩm thông qua thương hiệu.Một thương hiệu tốt

đồng nghĩa với một sản phẩm tốt và ngược lại. Người tiêu dùng tìm mua sản phẩm

trên cơ sở các mức độ đánh giá khác nhau về hình ảnh của nhãn hiệu trên thị

trường. Mức độ chấp nhận thương hiệu tương ứng với mức độ chấp nhận sản phẩm

của doanh nghiệp.Như vậy, thương hiệu có tầm quan trọng và ảnh hưởng ngày càng

lớn đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm.

1.3. Cơng cụ phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm

1.3.1. Mơ hình 5 áp lực cạnh tranh ngành của Michael Porter

Năm lực lượng cạnh tranh ở trên và lực lượng thứ (5+1): Sức ép từ phía Nhà

nước phản ánh thực tế là cạnh tranh trong một ngành có liên quan khơng chỉ các bên đã

xác định. Khách hàng, người cung ứng, sản phẩm thay thế, các đối thủ mới, tất cả đều

là các đối thủ cạnh tranh đối với các hãng trong ngành và tùy thuộc vầo hồn cảnh cụ

thể có thể nổi trội hơn hay kém hơn các đối thủ khác. Cuôc cạnh tranh với nghĩa như

vậy có thể được coi là cạnh tranh mở rộng.

(1) Khách hàng



25



Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định

đến sự thành cơng hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị

trường, quy mô của khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Những biến động tâm lý

khách hàng thể hiện qua sự thay đổi sở thích, thị hiếu, thói quen làm cho số lượng

sản phẩm được tiêu thụ tăng lên hay giảm đi. Việc định hướng hoạt động SXKD

hướng vào nhu cầu của khách hàng sẽ đem lại kết quả khả quan cho doanh nghiệp

tạo thói quen và tổ chức các dịch vụ phục vụ khách hàng, đánh đúng vào tâm lý tiêu

dùng là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Một

nhân tố đặc biệt quan trọng là mức thu nhập và khả năng thanh toán của khách hàng

có tính quyết định đến lượng hàng hóa tiêu thụ của doanh nghiệp. Khi thu nhập tăng

thì nhu cầu tăng và khi thu nhập giảm thì nhu cầu giảm, do vậy doanh nghiệp cần có

những chính sách giá, chính sách sản phẩm hợp lý.

(2) Đối thủ cạnh tranh

Số lượng các doanh nghiệp trong ngành và các đối thủ ngang sức tác động

rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có quy mơ

lớn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ cao hơn các đối thủ khác trong ngành.

Càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành thì cơ hội đến với từng doanh

nghiệp càng ít, thị trường phân chia nhỏ hơn, khắt khe hơn dẫn đến lợi nhuận của

từng doanh nghiệp cũng nhỏ đi. Do vậy, việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh là việc

cần thiết để giữ vững thị trường tiêu thụ sản phẩm của mỗi doanh nghiệp.

(3) Nhà cung cấp

Các nhà cung ứng các yếu tố đầu vào cho q trình sản xuất có thể chia sẻ lợi

nhuận của một doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp đó có khả năng trang

trải các chi phí tăng thêm cho đầu vào được cung cấp. Các nhà cung cấp có thể gây

khó khăn làm cho khả năng của doanh nghiệp bị giảm trong trường hợp: Nguồn

cung cấp mà doanh nghiệp cần chỉ có một hoặc một vài cơng ty có khả năng cung

cấp; Loại vật tư mà nhà cung cấp bán cho doanh nghiệp là đầu vào quan trọng nhất

của doanh nghiệp. Từ các yếu tố trên thì nhà cung cấp có thể ép buộc các doanh

nghiệp mua nguyên vật liệu với giá cao, khi đó chi phí sản xuất tăng lên, giá thành



26



đơn vị sản phẩm tăng, khối lượng tiêu thụ bị giảm làm doanh nghiệp bị mất dần thị

trường, lợi nhuận giảm. Để giảm bớt các ảnh hưởng xấu, các nhà cung ứng tới

doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần tăng cường mối quan hệ tốt với nhà cung ứng,

tìm và lựa chọn nguồn cung ứng chính, có uy tín cao đồng thời nghiên cứu để tìm ra

nguồn nguyên vật liệu thay thế.

(4) Sản phẩm thay thế

Các sản phẩm thay thế ln có thể có tác động lớn đến mức lợi nhuận tiềm

năng của ngành, nhất là những sản phẩm có chu kỳ sống ngắn. Sự ra đời của sản

phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự thay đổi của nhu cầu thị trường theo

hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú hơn, cao cấp hơn. Đánh giá sức cạnh

tranh của một hàng hố của doanh nghiệp thơng qua sản phẩm thay thế là việc so

sánh về công dụng, giá cả, công nghệ, tiềm năng nhà sản xuất sản phẩm đó với sản

phẩm thay thế… Thường thì các sản phẩm thay thể là kết quả của việc đổi mới công

nghệ nên thường có ưu thế về chất lượng, cơng dụng, tính năng hơn các sản phẩm

hiện tại. Do vậy, sức cạnh tranh về các đặc điểm của hàng hoá của doanh nghiệp có

thể bị giảm khi xuất hiện các sản phẩm thay thế này, nhưng thường sản phẩm cũ

thường có sức cạnh tranh về giá cả, do vậy muốn nâng cao sức cạnh tranh của sản

phẩm cũ thì doanh nghiệp phải khơng ngừng đổi mới cơng nghệ, nâng cao trình độ

quản lý, cải tiến sản phẩm…

(5) Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Khi một ngành có sự gia tăng thêm số lượng các đối thủ cạnh tranh mới thì

có thể dẫn đến tỷ suất lợi nhuận bị giảm, mức độ cạnh tranh tăng do những đối thủ

mới tham gia vào thị trường có khả năng thường có khả năng ứng dụng những

thành tựu khoa học cơng nghệ mới vì vậy khi các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn xuất

hiện thì vị thế của doanh nghiệp sẽ thay đổi.

Để đánh giá sức cạnh tranh của một mặt hàng thông qua đối thủ cạnh tranh

tiềm ẩn có thể xem xét trên các khía cạnh như tiềm lực tài chính, cơng nghệ, sự

hiểu biết thị trường, kênh phân phối sản phẩm. Thông thường các đối thủ tiềm ẩn có



27



tiềm lực về tài chính mạnh và cơng nghệ tiến bộ nhưng sự hiểu biết về thị trường

chưa sâu nên sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao.

1.3.2. Ma trận EFE đánh giá các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài

Ma trận EFE giúp cho các nhà chiến lược phân tích một cách định lượng sự

tác động của các yếu tố mơi trường bên ngồi đối với các doanh nghiệp trong ngành

cũng như bản thân doanh nghiệp và sự phản ứng của doanh nghiệp với các yếu tố đó.

Phương pháp xây dựng ma trận

Liệt kê các yếu tố bên ngoài tạo ra các cơ hội hay nguy cơ cho doanh nghiệp,

các yếu tố này là kết quả của việc nghiên cứu môi trường kinh doanh.

Gắn các trọng số cho mỗi yếu tố để đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đối với

doanh nghiệp trong ngành. Trọng số được đánh giá từ 0 (không quan trọng) đến

1,00 (rất quan trọng) và tổng các trọng số phải bằng 1. Tầm quan trọng của mỗi yếu

tố phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của yếu tố đó tới lĩnh vực, ngành nghề mà

doanh nghiệp đang hoạt động SXKD.

Cho điểm phân loại về mức độ tác động cửa yếu tố đó đối với doanh

nghiệp.Điểm cho từ 1 đến 4 và những yếu tốt tác động tích cực có mức điểm cao

hơn. Điểm trọng số do chủ quan doanh nghiệp đánh giá.

Tính điểm trọng số của mỗi yếu tố để đánh giá mức độ tác động của yếu tố

đó đối với doanh nghiệp bằng cách nhân trọng số với điểm phân loại của từng yếu

tố. Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng đối với tất cả các yếu tố tác động tới hoạt

động của doanh nghiệp.

1.3.3. Ma trận IFE đánh giá các yếu tố thuộc môi trường bên trong

Ma trận IFE này cho phép lượng hóa điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp.

Phương pháp xây dựng

Liệt kê các yếu tố được cho là mạnh, yếu của doanh nghiệp (10 đến 20 yếu tố

từ kết quả phân tích nội bộ doanh nghiệp. Gắn trọng số từ 0 đến 1 cho mỗi yếu tố

thể hiện mức độ quan trọng của những yếu tố đó sao cho tổng trọng số bằng 1



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×