Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.8: Chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp tư nhân

Bảng 2.8: Chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp tư nhân

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



Bảng 2.9. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động trong

các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Huế, giai đoạn 2015 - 2017

Năm



2015



2016



2017



SL

Tỷ lệ

(Người) (%)

7.755 100



SL

Tỷ lệ

(Người) (%)

7.479 100



SL

Tỷ lệ

(Người) (%)

8.008 100



Tổng số

- Khơng có trình độ chun

885 11,41

752 10,05

807 10,07

mơn kỹ thuật

- Cơng nhân kỹ thuật

Khơng có bằng nghề/

1.672 21,56

1.804 24,13

1.712 21,38

chứng chỉ

- Chứng chỉ học nghề dưới

1.251 16,14

1.022 13,67

1.154 14,41

3 tháng/ ngắn hạn

- Trung cấp nghề

1.714 22,11

1.621 21,67

1.666 20,81

- Cao đẳng nghề

870 11,22

891 11,91

1.056 13,19

- Ðại học trở lên

1.363 17,56

1.389 18,57

1.613 20,14

(Nguồn: Điều tra nguồn lao động – Sở lao động TB và XH Thừa Thiên Huế)

Trình độ NLĐ tham gia trong các DNTN được thể hiện thông qua số liệu bảng

2.9. Trong thời gian qua, nhóm lao động có trình độ chun mơn kỹ thuật cao đang

có xu hướng tăng và chiếm tỷ lệ khá. Tính đến năm 2017, lao động trong nhóm có

trình độ cao đẳng nghề chiếm 13,19%, trình độ đại học trở lên chiếm khoảng

20,14%.

Tuy nhiên, lao động có trình độ chun mơn kỹ thuật thấp vẫn còn chiếm tỷ lệ

rất cao ở loại hình doanh nghiệp này. Nếu ưu điểm nổi bật của DNTN là số lượng

DN lớn thì hạn chế lớn nhất của loại hình doanh nghiệp này là chất lượng lao động

thấp. Cụ thể, năm 2017, số lượng lao động khơng có chun mơn kỹ thuật và khơng

có chứng chỉ nghề chiếm trên 31,45%, lao động có trình độ được đào tạo trong ngắn

hạn chiếm khoảng trên 14,41%. Như vậy, số lao động có trình độ thấp chiếm trên

45% lực lượng lao động trong các DNTN ở thành phố Huế. Chưa kể, một bộ phận

lớn lao động có trình độ chuyên môn cao như cao đẳng, đại học nhưng khả năng tay

nghề, năng suất làm việc vẫn còn yếu. Điều này cho thấy, các DNTN còn đang sử

dụng cơng nghệ thấp, chủ yếu tận dụng nguồn lao động và công nhân giá rẻ để làm

việc, phục vụ vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp ít đòi hỏi trình độ cao.

Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên – Huế trong giai đoạn

hiện nay là chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - cơng nghiệp –



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



49



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



nơng nghiệp. Chính vì vậy chất lượng nguồn nhân lực trong các ngành cần phải có

sự phát triển cho phù hợp với cơ cấu kinh tế của địa phương. Trong năm 2017, cơ

cấu lao động có xu hướng phát triển phù hợp với mục tiêu chung của địa phương.

Sự phát triển về chất lượng NNL trong các ngành được thể hiện qua bảng 2.10.



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



50



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



Bảng 2.10 Chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp tư nhân

trên địa bàn thành phố Huế, phân theo lĩnh vực hoạt động, năm 2017



Nơng-lâm-ngư

nghiệp

SL

(Người)



Tỷ lệ

(%)



CN-XD

SL

(Người

)

1.599



Tỷ lệ

(%)



TM-DV

SL

(Người

)

6.362



Tỷ lệ

(%)



Tổng số

47

100

100

100

- Khơng có trình độ

9

19,15

158

9,88

640 10,06

chun mơn kỹ thuật

- Cơng nhân kỹ thuật

khơng có bằng nghề/

7

14,89

746 46,65

959 15,07

chứng chỉ

- Chứng chỉ học nghề

dưới 3 tháng/ ngắn

8

17,02

176 11,01

970 15,25

hạn

- Trung cấp nghề

7

14,89

189 11,82

1470 23,11

- Cao đẳng nghề

6

12,77

124

7,76

926 14,55

- Ðại học trở lên

10

21,28

206 12,88

1397 21,96

(Nguồn: Điều tra nguồn lao động – Sở lao động TB và XH Thừa Thiên Huế)

Đối với lĩnh vực Nông – lâm – ngư nghiệp, đây là ngành có số lượng DNTN

hoạt động ít nhất và số lao động thấp nhất với 47 lao động. Điều này là phù hợp với

phướng hướng PTNNL của tỉnh và thành phố Huế trong giai đoạn mới. Xét về chất

lượng NNL trong lĩnh vực này, có thể thấy, lao động có trình độ chun mơn kỹ

thuật thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao khoảng 34,04%. Trong khi đó, nguồn lao động có

trình độ chun mơn kỹ thuật cao, tức đại học trở lên chiếm khoảng 21,28%. Điều

này cho thấy một thực trạng, các DNTN ở thành phố Huế hoạt động trong lĩnh vực

này vẫn chủ yếu sử dụng lao động phổ thơng, trong điều kiện ít áp dụng các trình độ

khoa học, cơng nghệ mới vào hoạt động sản xuất.

Đối với lĩnh vực này, trong thời gian tới, để phát triển theo hướng CNH, HĐH,

cần tăng tỷ trọng lao động có trình độ cao, giảm tỷ trọng lao động thuần túy để có

thể đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ - khoa học, nhằm đem lại hiệu quả cao cho

doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.

Đối với lĩnh vực cơng nghiệp – xây dựng.



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



51



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



Bảng số liệu 2.10 cho thấy trình độ chun mơn của NLĐ trong lĩnh vực

CN – XD trên đại bàn thành phố hiện nay còn thấp, NNL chất lượng cao chỉ

chiếm khoảng 12,88%. Lao động trong các DNTN trong lĩnh vực này chủ yếu là

lao động giản đơn, chưa qua đào tạo (lao động khơng có trình độ chun mơn

nghiệp vụ chiếm 9,88%, lao động khơng có bằng nghề, chứng chỉ chiếm 46,65%).

Tỷ lệ lao động được đào tạo là 43,46%, cụ thể: có 176 lao động có chứng chỉ học

nghề dưới 3 tháng/ngắn hạn; 189 lao động đã qua đào tạo trung cấp nghề; 124 lao

động đã qua đào tạo cao đẳng (chỉ chiếm khoảng 7,76% lao động của các DNTN

hoạt động trong lĩnh vự CN - XD); và 206 lao động đã qua đào tạo đại học và sau

đại học (chiếm tỷ lệ 12,88%). Như vậy, có thể thấy chất lượng của NNL trong các

DNTN hoạt động trong lĩnh vực này còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát

triển ngày càng cao của ngành cơng nghiệp – xây dựng. Chính vì vậy cần có giải

pháp tích cực hơn nữa về PTNNL chất lượng cao, nhất là những ngành công nghiệp

cần NNL trình độ chun mơn cao và lao động kỹ thuật có tay nghề cao như: cơng

nghiệp chế biến, chế tạo, khai khống, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi….

trong thời gian tới của các DNTN trên địa bàn thành phố.

Đối với lĩnh vực thương mại – dịch vụ

Với việc xác định tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ tập trung phát triển du lịch thành

ngành kinh tế mũi nhọn, tạo sự đột phá bước đầu cho giai đoạn 2017-2020. Phát

triển đồng bộ, bền vững, chất lượng cao, chuyên nghiệp, xứng tầm là trung tâm du

lịch lớn của cả nước và khu vực.Chính vì vậy, việc PTNNL trong lĩnh vực này càng

phải được chú trọng. Trong thời gian qua, chất lượng NNL này đã có những biến

động tích cực.

Biểu đồ 2.2 Chất lượng nguồn nhân lực ngành Thương mại dịch vụ

trong các doanh nghiệp tư nhân ở thành phố Huế, giai đoạn 2015-2017.

(Nguồn: Điều tra nguồn lao động – Sở lao động TB và XH Thừa Thiên Huế)

Qua biểu đồ 2.2, có thể thấy, chất lượng NNL hoạt động trong các DNTN

ngành TM – DV qua các năm đã có những chuyển biến tích cực. Điều này, được thể

hiện qua việc số lượng lao động có trình độ chun mơn cao ngày càng tăng, cụ thể:

tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên có 1176 lao động năm 2015, tăng lên 1397



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



52



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.8: Chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp tư nhân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×