Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
phân theo ngành kinh tế, giai đoạn 2015 – 2017.

phân theo ngành kinh tế, giai đoạn 2015 – 2017.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp

3

4

5

6

7

8

9

10



Giá trị sản xuất CN – TTCN

Giá trị hàng xuất khẩu

Thu ngân sách

Tổng vốn đầu tư trên địa bàn

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

Tỷ lệ giảm hộ nghèo

Số lao động được giải quyết việc làm

Mật độ cây xanh



GVHD: TS. Phạm Thị Thương

Tỷ đồng

Triệu USD

Tỷ đồng

Tỷ đồng

%

%

Lao động

M2/người



5.754 6.502 7.351

90

105

120

919 1.009 1.160

3.545 3.800 4.180

0,9%

0,89

0,89

2,325

0,2

0,2

>9000 >9000 >9000

13

13,3

13,5

(Nguồn:[13])



Nhìn chung, giai đoạn 2015 – 2017, các chỉ tiêu về Kinh tế – Xã hội – Môi

trường của Thành phố Huế có nhiều chuyển biến tích cực. Các chỉ tiêu về kinh tế

như tốc độ tăng GDP, giá trị xuất khẩu hàng hóa, tổng vốn đầu tư tồn xã hội, tổng

thu ngân sách nhà nước có mức tăng trưởng khả quan. Đối với các chỉ tiêu về xã hội

và môi trường cũng có những cải thiện trong giai đoạn 2015 – 2017. Trong đó có

đóng góp quan trọng của khu vực KTNN trong đó có DNTN.

2.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của địa bàn nghiên cứu:

Thuận lợi

- Thành phố Huế có lợi thế lớn về vị trí địa lý, kinh tế: Là trung tâm kinh tế xã hội của tỉnh, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phát triển miền Trung. Có đường

quốc lộ thơng thống với nhiều đầu mối giao thông quan trọng (đường bộ, hàng

không, đường thủy) tỏa đi khắp đất nước… Chính điều này đã tạo điều kiện cho các

DNTN có nhiều thuận lợi trong việc phát triển, mở rộng thị trường.

Trong những năm gần đây kinh tế khơng ngừng phát triển, điều này góp phần

không nhỏ trong việc giải quyết vấn đề cung cấp nguồn vốn cho các dự án. Kinh tế

tăng trưởng mạnh làm cho đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được

cải thiện, nâng cao hơn. Đây chính là tiền đề quan trọng để thành phố Huế vũng

bước trong công cuộc đổi mới, phát triển.

Huế được xem là trung tâm y tế, giáo dục của cả nước, tạo điều kiện thuận lợi

để PTNNL, đặc biệt là NNL chất lượng cao.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất đã được đầu tư, tuy vẫn còn một số

điểm yếu kém, nhưng về cơ bản đã và đang dần dần phát huy tác dụng; nếu tiếp tục

đầu tư hoàn chỉnh sẽ phát huy hiệu quả cao hơn cho việc tăng năng suất và chất

lượng, giảm chi phí sản xuất, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tỉnh

nói chung và thành phố nói riêng.

SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



39



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



- Nguồn lao động dồi dào, đặc biệt người Huế có truyền thống cần cù, chăm

chỉ, sáng tạo, có tinh thần đồn kết, có kinh nghiệm. Đây là điều kiện cơ bản để

phát triển kinh tế.

- Các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương quan tâm, hỗ trợ, động viên

rất nhiều đối với việc phát triển nguồn nhân lực của địa phương.

- Thành phố Huế có tiềm năng phát triển du lịch lớn tầm cỡ quốc gia, đủ điều

kiện để phát triển đa dạng hơn các loại hình dịch vụ, vui chơi giải trí, thúc đẩy phát

triển kinh tế và tạo cơng ăn việc làm cho dân cư.

Khó khăn

- Do vị trí địa lý nên thành phố Huế chịu sự ảnh hưởng của rừng đầu nguồn

sông Hương và ảnh hưởng đến mực nước biển, triều cường thường có mưa, lũ lụt

thất thường, điều này ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh rất nhiều.

- Ngoài những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội của thành phố Huế vẫn còn

những hạn chế và khó khăn nhất định như ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của

các doanh nghiệp ở thành phố như: Công tác trật tự đô thị - xây dựng tuy có chuyển

biến nhưng hiệu quả chưa cao, thiếu tính ổn định. Cải cách hành chính còn chậm,

hỗ trợ doanh nghiệp trong SXKD chưa tốt. Chính những hạn chế này đã phần nào

tác động đến quá trình hoạt động của các DNTN.

- Bên cạnh đó, các DNTN trên địa bàn thành phố Huế có quy mơ còn nhỏ, chủ

yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ; cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp còn nhiều

hạn chế; tinh thần khởi nghiệp chưa mạnh mẽ, một sự biến động cũng làm ảnh

hưởng đến sự tồn tại của doanh nghiệp.

2.2 Tình hình phát triển nguồn nhân lực trong các doanh

nghiệp tư nhân ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

2.2.1 Khái quát tình hình phát triển của các doanh nghiệp tư

nhân ở thành phố Huế

2.2.1.1 Số lượng doanh nghiệp

Với việc ban hành luật doanh nghiệp mới sửa đổi 2014 đã tạo ra một hành lang

pháp lý cần thiết để khuyến khích, thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng.

Đây là yếu tố điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các DNTN trên phạm vi cả nước

cũng như trong địa bàn thành phố. Từ năm 2015 đến năm 2017, các đối tượng xin cấp

SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



40



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân để hoạt động sản xuất – kinh doanh nhìn

chung có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng, quy mô, ngành nghề.

Bảng 2.4 Số lượng doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Huế,

phân theo lĩnh vực hoạt động.

Năm

Lĩnh vực hoạt động

2015

2016

2017

DN

%

DN

%

DN

%

Tổng cộng

923

100

883

100

959 100

Nông- lâm-ngư nghiệp

8

0,87

6

0,68

7

0,73

CN – XD

165

17,87

161

18,23

169 17,62

TM-DV

750

81,26

716

81,09

783 81,65

(Nguồn: Điều tra nguồn lao động – Sở lao động TB và XH Thừa Thiên Huế)

Qua bảng 2.4, có thể thấy số lượng DNTN trên địa bàn thành phố Huế trong

giai đoạn 2015- 2017 có sự biến động qua các năm. Năm 2015, có 923 DNTN, đến

năm 2016 giảm xuống còn 883 DN, và năm 2017 số lượng DNTN lại tăng lên là

959 DN. Vì vậy, sau 3 năm, số doanh nghiệp thành lập mới và số doanh nghiệp

ngừng hoạt động xấp xỉ nhau. Nguyên nhân của thực tế này là do trong giai đoạn

2015 – 2016 tình hình thiên tai, lũ lụt và đặc biệt là sự cố mơi trường biển đã tác

động đến tình hình hoạt động của các DNTN. Điều này đã phản ánh việc các cơ

chế, chính sách của thành phố Huế tạo điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động và

phát triển chưa nhiều, chưa thực sự tạo môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp

phát triển một cách bền vững.

Về cơ cấu lĩnh vực hoạt động, có thể thấy các doanh nghiệp tư nhân hoạt động

trong lĩnh vực TM – DV chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm trung bình khoảng 81% . Đa số các

doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này hoạt động ở nhóm ngành bán bn, bán lẻ hàng hóa,

dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống… đây là các loại hình kinh doanh có tiềm năng, lợi thế ở

thành phố Huế và dự báo sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong thời gian tới. Tiếp đến là

ngành CN – XD với khoảng 17,6% , chủ yếu là dệt may, da giày, chế biến thực phẩm,

các đặc sản Huế, sản phẩm gỗ,… và thấp nhất là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh

vực Nông – lâm – ngư nghiệp với khoảng 0,73%.

Với số lượng DNTN thuộc lĩnh vực TM -DV chiếm tỷ lệ cao, có thể thấy rằng sự

phát triển của các DNTN trên địa bàn Thành phố Huế đang dịch chuyển theo hướng

giảm tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng, đặc



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



41



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



biệt là dịch vụ, phù hợp với xu hướng phát triển theo tiêu chí xây dựng một thành phố du

lịch của đất nước.

2.2.1.2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân ở thành

phố Huế

Ở thành phố Huế, các DNTN đa phần là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ.

Việc xem xét kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cho phép chúng ta

đánh giá khả năng thực tế về việc sử dụng các nguồn lực của các doanh nghiệp.

Bảng 2.5 Tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân

trên địa bàn thành phố Huế, giai đoạn 2015 – 2017.

(ĐVT: Triệu đồng)

Tiêu chí

Quy mơ Nguồn vốn

Doanh thu thuần

Lợi nhuận trước thuế

Nộp ngân sách



2015

2.734.448

5.293.131

24.629

81.692



Năm

2016

2017

3.134.039

3.518.272

4.694.063

4.748.875

21.915

23.891

82.529

85.221

(Nguồn:[1],[2],[3])



Có thể thấy, các DNTN năm 2015 có số vốn đầu tư kinh doanh là 2.734.448

triệu đồng, tăng dần qua các năm và năm 2017 đạt 3.518.272 triệu đồng.

Doanh thu và lợi nhuận phản ánh rõ nét nhất kết quả SXKD của một doanh

nghiệp, khu vực kinh tế. Kết quả SXKD của DNTN được thể hiện ở số liệu bảng

2.5, doanh thu thuần và lợi nhuận trước thuê của các DNTN có xu hướng giảm, năm

2015 doanh thu đạt 5.293.131 triệu đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 24.629 triệu

đồng, đến năm 2017 giảm còn doanh thu là 4.748.875 triệu đồng và lợi nhuận trước

thuế là 23.891 triệu đồng; tuy nhiên sự giảm này là do số lượng DNTN giảm. Song,

xét về chỉ tiêu nộp Ngân sách thì có xu hướng tăng đều qua mỗi năm; cụ thể tăng từ

81.692 triệu đồng vào năm 2015 lên 85.221 triệu đồng năm 2017. Điều này cho

thấy sự đóng góp của khối DNTN vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Chính vì vậy, việc địa phương cần có các chính sách hỗ trợ phát triển cho loại hình

doanh nghiệp này hơn nửa trong thời gian tới là hết sức cần thiết.

Tóm lại, có thể thấy, các DNTN đang ngày càng phát triển, quy mơ doanh

nghiệp ngày càng mở rộng, từ đó, nhu cầu về NNL sẽ ngày càng cao, đặc biết là

NNL chất lượng cao cho thời đại công nghiệp 4.0 .



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



42



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

phân theo ngành kinh tế, giai đoạn 2015 – 2017.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×