Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định đối

với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Theo ý kiến của bản thân, tôi

đồng nhất quan niệm với nội hàm này.

Như vậy, khi nói tới NNL, trước hết phải hiểu đó là tồn bộ những NLĐ đang

có khả năng làm việc và các thế hệ những NLĐ tiếp tục tham gia vào các quá trình

phát triển kinh tế - xã hội. NNL nó còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí

lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc – đó chính là các yếu tố

thuộc về chất lượng NNL. Ngoài ra khi nói tới NNL phải nói tới cơ cấu của lao

động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề.

- Quan niệm phát triển nguồn nhân lực

Cũng như khái niệm NNL, khái niệm về PTNNL ngày càng được hồn thiện

và được tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau.

Theo quan điểm của Tổ chức quốc tế về lao động, PTNNL có thể hiểu là: “ Phát

triển nguồn nhân lực bao hàm khơng chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh

phát triển năng lực, là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến

có việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”.

Đứng trên quan điểm xem “con người là nguồn vốn – vốn nhân lực”,

Yoshihara Kunio cho rằng phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm

tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi các nhân. Theo quan

điểm này thì PTNNL phải phát triển cả trên hai mặt là số lượng và chất lượng. Sự

phát triển này phải đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển của xã hội.

Theo giáo trình Kinh tế lao động, quan niệm PTNNL được hiểu trên khía cạnh

khác: “Phát triển NNL là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và

tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người;

nền văn hóa, truyền thống lịch sử… Do đó, PTNNL đồng nghĩa với nâng cao năng

lực xã hội và tính năng động xã hội của nguồn nhân lực về mọi mặt; thể lực, trí lực,

nhân cách, đồng thời phân bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để

phát triển đất nước” [6,12].



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



15



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



Thơng qua q trình phân tích, đánh giá có thể thấy, các nhà khoa học đều

thống nhất trong việc đánh giá PTNNL trên hai mặt: chất lượng và số lượng. Về

phát triển chất lượng NNL phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách,

phát triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho NNL phát triển;

Về phát triển số lượng NNL là gia tăng quy mô nguồn nhân lực, điều này tùy thuộc

vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản.

Như vậy, mặc dù có nhiều sự diễn đạt khác nhau về PTNNL nhưng đều có một

điểm chung nhất là PTNNL là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi

mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia. Vì vậy,

PTNNL được xem là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và tác động trực tiếp đến mọi mặt

của đời sống xã hội.

1.1.2 Tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá theo hai tiêu chí là số lượng

và chất lượng.

• Số lượng nguồn nhân lực: Số lượng NNL được tính bằng tổng số người đang

có việc làm, số người thất nghiệp và số NLĐ dự phòng. Số lượng NNL được xác

định dựa trên quy mơ dân số, cơ cấu tuổi, giới tính, sự phân bố theo khu vực và

vùng lãnh thổ của dân số.

Đối với doanh nghiệp, số lượng lao động tham gia hoạt động trong các doanh

nghiệp là số lượng người trong độ tuổi lao động đang làm việc trong doanh nghiệp

tại một thời điểm nhất định được đánh giá.

• Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng NNL là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiện

thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần. Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với

nhau cấu thành chất lượng NNL. Trong đó, trí lực là yếu tố quan trọng nhất quyết

định chất lượng NNL.

a. Thể lực

Thể lực là tình trạng sức khỏe của NNL, bao gồm những yếu tố thể hiện sự

phát triển về mặt thể chất lẫn tinh thần. Hiến chương của tổ chức Y tế thế giới

(WHO) đã nêu: Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh

thần và xã hội, chứ không phải là khơng có bệnh hoặc thương tật. Thể lực là sự phát

SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



16



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



triển hài hòa của con người cả về thể chất lẫn tinh thần (sức khỏe cơ thể và sức khỏe

tinh thần). Thể lực là năng lực lao động chân tay; sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai

của hoạt động thần kinh, là khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành

động thực tiễn.

Người lao động có thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo

dai của sức khỏe trong công việc; thể lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí

lực; giúp NLĐ vượt qua được sức ép của cơng việc cũng như tạo điều kiện để NLĐ

tìm tòi, sáng tạo ra những nghiên cứu, phát minh mới. Thể lực của NNL được hình

thành, duy trì và phát triển bởi chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe. Vì

vậy, thể lực của NNL phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, phân phối thu

nhập cũng như chính sách xã hội của mỗi quốc gia.

Thể lực được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu cơ bản như: chiều cao,

cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất

và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe.

b. Trí lực

Tri thức là yếu tố cơ bản của trí lực, là sự tổng hợp khái quát kinh nghiệm

cuộc sống, là nhận thức lý tính, trí lực được phân tích theo các góc độ sau:

Về trình độ văn hóa

Trình độ văn hóa là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những

kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì sự sống.

Trình độ văn hóa được cung cấp thơng qua hệ thống giáo dục chính quy,

khơng chính quy; qua q trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân.

Trình độ chun mơn nghiệp vụ (CMNV) là kiến thức và kỹ năng cần thiết để

thực hiện yêu cầu cơng việc của vị trí đang đảm nhận. Trình độ CMNV được phản

ánh ở: tỷ lệ lao động qua đào tạo nói chung và qua đào tạo nghề theo các cấp trình

độ nói riêng.

Trình độ chun mơn của NLĐ trong doanh nghiệp là một chỉ tiêu rất quan

trọng để đánh giá chất lượng NNL. Trình độ học vấn cao tạo ra điều kiện và khả

năng để tiếp thu, vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách nhanh chóng

vào thực tiễn sản xuất kinh doanh; sáng tạo ra những sản phẩm mới. Từ đó, góp

phần thúc đẩy sự phát triển của bản thân doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế - xã



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



17



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



hội nói chung. Thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp cho thấy, NLĐ có trình độ

chun mơn cao là một trong những động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

nhanh và bền vững. Tuy nhiên, có những doanh nghiệp mặc dù NLĐ có trình độ

chuyên môn cao, nhưng chưa sử dụng nguồn lực này một cách hiệu quả, vì vậy, tốc

độ phát triển cũng như năng suất lao động (NSLĐ) của doanh nghiệp chưa cao.

Nguyên nhân của thực trạng này là do cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng NNL

của doanh nghiệp chưa được tốt.

c. Kinh nghiệm/kỹ năng mềm

Khi nói tới NNL, ngồi những tiêu chí đánh giá về mặt thể lực và trí lực của

NLĐ, cần quan tâm đánh giá những kỹ năng, kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết

thực tiễn của NLĐ, những kiến thức và kinh nghiệm được NLĐ rút ra trong quá

trình lao động, làm việc. Bởi vì, kinh nghiệm sống, đặc biệt là những kinh nghiệm

nếm trải trực tiếp của NLĐ được chuyển hóa thành những kỹ năng mềm giúp NLĐ

làm việc đạt được hiệu quả nhờ vào kinh nghiệm tích lũy của mình.

Ngày nay, các doanh nghiệp khi thực hiện tuyển dụng đều tìm kiếm những

ứng viên mà ngồi trình độ CMNV (thường được thể hiện qua bằng cấp, khả năng

học vấn…) còn có những kỹ năng mềm khác hỗ trợ cho công việc. Kỹ năng mềm là

thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng như: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc

theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, tin học, ngoại ngữ ... là những kỹ năng

thường không phải lúc nào cũng được học trong nhà trường, không liên quan đến

kiến thức chun mơn. Nó bổ trợ và làm hồn thiện hơn năng lực làm việc của

NLĐ. Chúng quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong

cơng việc.

Như vậy, có thể khẳng định: NLĐ có trình độ CMNV thơi chưa đủ, kỹ năng

mềm ngày càng có vai trò quan trọng trong cơng việc của NLĐ, nhất là trong thời

đại cách mạng công nghiệp 4.0, kỹ năng mềm được xem là thế mạnh của NLĐ mà

máy móc khơng thể thay thế được.

d. Ý thức của người lao động

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, nâng cao ý thức và hình thành tác

phong cơng nghiệp cho NNL được xem là một trong những yếu tố đánh giá về chất

lượng NNL, là những yếu tố rất quan trọng và đóng vai trò quyết định sự phát triển



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



18



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



bền vững của mỗi quốc gia nói chung và sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng.

Tuy nhiên, yếu tố ý thức của NLĐ không thể định lượng bằng những con số cụ thể

mà được đánh giá thông qua một số yếu tố mang tính chất định tính như sau: ý thức

tổ chức kỷ luật, tự giác trong lao động; biết tiết kiệm; có tinh thần trách nhiệm trong

việc nghiên cứu các sản phẩm; có tinh thần hợp tác; tác phong làm việc khẩn

trương, chính xác; có lương tâm nghề nghiệp.... Tất cả những phẩm chất đó nằm

trong phạm trù đạo đức của con người.

1.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội

Các nhà kinh tế học cho rằng: một nền kinh tế muốn tăng trưởng ở mức bền

vững phải dựa trên 3 trục cơ bản là áp dụng khoa học công nghệ (KHCN) mới, phát

triển cơ sở hạ tầng và PTNNL. Trong đó, PTNNL là then chốt nhất.

Xuất phát từ nhận thức khách quan, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - LêNin: Dù

ở thời đại nào, hay hình thái kinh tế - xã hội nào thì con người cũng ln giữ vai trò

quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, Đảng ta từ khi

ra đời tới nay luôn chăm lo PTNNL. Trong các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng,

cũng đã khẳng định trong các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội thì NNL đóng vai trò

hàng đầu quyết định đến sự thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

Nhận thức về vai trò của NNL đối với sự tăng trưởng và phát triển khơng giống

nhau. Bởi vì mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì có những điều kiện, hoàn

cảnh, tiền đề khác nhau. Bước đầu của cuộc cách mạng công nghiệp người ta cho rằng:

Điều kiện tự nhiên thuận lợi chính là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển, lúc này,

yếu tố con người bị che lấp bởi những lợi thế tuyệt đối về tự nhiên.

Sang giai đoạn những năm 60, sau khi khoa học kỹ thuật đạt được những thành

tựu đáng kể, đem lại cho NSLĐ, thì lúc này, máy móc, trang thiết bị được đặt lên hàng

đầu và phân bố con người phụ thuộc vào công nghệ kỹ thuật. Nhưng cùng với sự tiến

bố của lịch sử con người đã nhận thức rằng: tài nguyên thiên nhiên cho dù có đa dạng,

phong phú đến đâu với nhu cầu ngày càng cao của xã hội thì nó cũng dần cạn kiệt; máy

móc có hiện đại mà khơng có người sử dụng thì cũng khơng mang lại hiệu quả và chỉ

có khai thác ở con người mới vơ tận. Bởi vì chính con người sáng tạo ra lịch sử.

Có thể thấy rằng, các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nó

chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng mà khơng có sức mạnh tự thân và phát huy hiệu quả



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



19



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



nếu khơng có hoạt động ý thức con người. Hơn nữa, chúng là những nguồn lực hữu

hạn, sẽ bị cạn kiệt trong quá trình khai thác và sử dụng. Một nguồn lực có thể sáng tạo

ra các máy móc, thiết bị có thể sử dụng và điều khiển nó, mang tính trí tuệ, nguồn lực

vơ hạn đó chính là NNL. Nó ngày càng khẳng định vị trí của mình bởi sự chinh phục

và cải tạo tự nhiên; khám phá những tài ngun vốn khơng có sẵn trong tự nhiên.

Bước sang giai đoạn mới vào những năm 90 đến nay, khi cuộc cách mạng

khoa học - công nghệ đạt được những thành tựu ngồi sức tưởng tượng của con

người, thì vai trò quyết định của con người là khơng gì có thể phủ nhận được.

Trong lý thuyết Mác khi nói về Chủ nghĩa tư bản (CNTN) cũng khẳng định

rằng, CNTB dù có những máy móc, trang thiết bị hiện đại nếu khơng có nhân tố con

người sử dụng thì chúng cũng là những vật vô tri vô giác, là vật chết đó mà thơi.

Luận điểm này của Mác đã bác bỏ quan niệm cho rằng: Máy móc tạo ra tất cả của

cải chứ không phải lao động. Để một công ty hoạt động phát triển và thành cơng,

cần phải có điều hành năng động trong cơ cấu tổ chức và ở tất cả các khâu, các cấp

quản lý, cùng với đội ngũ cơng nhân có tay nghề và ý thức lao động tốt.

Đối với Việt Nam, Đảng và nhà nước ta đã xác định, trong các nguồn lực phát

triển kinh tế - xã hội như lao động, tài nguyên thiên nhiên, vị trị địa lý, cơng nghệ

và nguồn từ bên ngồi thì NNL và con người là lợi thế về nguồn lực quan trọng

nhất. Đây chính là khâu đột phá để đẩy nhanh và vững chắc trong quá trình đổi mới

và phát triển đất nước. [19]

Như vậy ta có khái quát rằng, NNL có vai trò rất quan trọng đối với sự phát

triển kinh tế - xã hội, cụ thể như sau:

Trước hết NNL là nhân tố đầu vào không thể thiếu được của bất kì quá trình

kinh tế, xã hội nào. Dù trình độ KHCN thấp hay cao NNL vẫn là yếu tố hết sức

quan trọng. Ở trình độ thủ công lạc hậu, sức cơ bắp của con người thay thế cho sức

máy móc, do đó việc huy động số lượng lớn các nguồn lực lao động có ý nghĩa cơ

bản cho quá trình phát triển. Khi khoa học và công nghệ phát triển, sức cơ bắp của

con người được thay dần bằng máy móc, thì vai trò hay tầm quan trọng của nguồn

lao động khơng vì thế mà giảm đi, ma lại đòi hỏi cao hơn về chất lượng, đặc biệt là

về trình độ kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm nghề nghiệp, tính năng động sáng tạo

của NLĐ.



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



20



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



Thứ hai, NNL so với các yếu tố đầu vào khác khơng phải là yếu tố thụ động

mà còn là nhân tố quyết định việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

khác, chính vì vậy mà nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát

triển của doanh nghiệp. Nếu khơng chú trọng đến việc PTNNL về thể chất, trình độ

văn hóa, tri thức và kĩ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm quản lý và lòng nhiệt

tình....thì việc sử dụng NNL sẽ trở nên kém hiệu quả, lãng phí đồng thời có thể làm

lãng phí, cạn kiệt, hủy hoại các nguồn lực khác.

1.2



Nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp tư nhân



1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân và đặc điểm của Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp được hình thành và phát triển

dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và các nguồn lực sản xuất, là một trong

các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN. Theo Luật doanh nghiệp năm

2014 quy định rõ: "DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách

nhiệm bằng tồn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp."

Cùng với quá trình phát triển cả nền kinh tế, DNTN nói riêng và thành phần

kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong bất cứ giai đoạn nào, DNTN

luôn biểu hiện một số đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế thị trường các DNTN, các

DNTN luôn chịu sự tác động và điều tiết của cơ chế thị trường. Các DNTN cần phải

năng động và nhạy bén trước những thay đổi, biến động của thị trường, chỉ có

những doanh nghiệp thích ứng mới có thể tồn tại và phát triển.

Thứ hai, các DNTN luôn hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. DNTN nói

riêng và thành phần KTTN nói chung hoạt động "bằng tiền túi và vì tiền túi" của

chủ doanh nghiệp, hình thành và hoạt động theo nguyên tắc 4 tự: tự bỏ vốn, tự tổ

chức, tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ, nên các DNTN đều giải quyết bài toán sử

dụng tối ưu các nguồn lực, giảm thiểu những hao phí về lao động, về vốn một cách

tối đa để mang lại nguồn lợi nhuận cao nhất có thể.

Thứ ba, các DNTN luôn thể hiện sự đa dạng về việc lựa chọn hình thức sản

xuất kinh doanh và quy mơ sản xuất của doanh nghiệp khá linh hoạt. DNTN hình

thành và phát triển ở hầu hết các ngành, lĩnh vực và đáp ứng một cách linh hoạt

những nhu cầu đa dạng, phong phú của người tiêu dùng.



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



21



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của các DNTN ở Việt Nam cho thấy một hạn

chế: trong các doanh nghiệp quy mô sản xuất kinh doanh, quy mơ vốn và lao động

hiện nay vẫn còn nhỏ. Các DNTN ở nước ta đại bộ phận thuộc doanh nghiệp vừa và

nhỏ, thậm chí siêu nhỏ. Đặc điểm này làm cho các DNTN gặp rất nhiều khó khăn

trong quá trình hoạt động, mở rộng kinh doanh cũng như đào tạo PTNNL.

Thứ tư, năng lực chấp hành pháp luật của các DNTN còn yếu và kém.

Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: Nhà nước ta là Nhà nước pháp

quyền XHCN, trong quá trình quản lý của Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên

cơ sở hiến pháp và pháp luật, hệ thống pháp luật là tối thượng. Mọi hoạt động đều

phải tuân thủ theo pháp luật, tuy nhiên vì mục tiêu đối đa hóa lợi nhuận, các DNTN

thường xuyên "né", "tránh" và không tuân thủ theo những chủ trương, chính sách

của Nhà nước. Đây là hạn chế của các DNTN.

Thứ năm, trình độ vận dụng và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ

(KHCN) vào sản xuất còn thấp. Cơng nghệ sản xuất của các DNTN nói chung đa

phần lạc hậu, năng suất thấp. Máy móc thiết bị cũ, cơng nghệ lạc hậu làm các

DNTN có khả năng cạnh tranh kém, có năng suất lao động thấp, sản phẩm chất

lượng thấp. Đồng thời, đây còn là ngun nhân chính dẫn đến ơ nhiễm mơi trường

lao động, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe NLĐ và tỷ lệ tai nạn lao động tăng

nhanh. Điều này làm các DNTN không thu hút được lao động giỏi, và cũng khó

khăn trong đào tạo PTNNL.

Chính những đặc điểm này của DNTN đã tác động đến sự phát triển cũng như

hiệu quả và khả năng cạnh tranh của DNTN nước ta trước thách thức của hội nhập

với khu vực và thế giới .

1.2.2 Đặc điểm nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp tư nhân

* Quan niệm về nguồn nhân lực trong các DNTN

Thơng qua q trình phân tích ở trên, quan niệm NNL được hiểu là “toàn bộ

các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình

lao động sản xuất, với ý nghĩa đó, quan niệm NNL trong các DNTN có thể tiếp cận

trên góc độ: NNL cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực

quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. NNL của doanh

nghiệp bao gồm tất cả những NLĐ làm việc trong doanh nghiệp”[10,3]. Việc khai



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



22



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



thác và sử dụng nguồn lực này có tính chất quyết định đến sự thành bại của doanh

nghiệp.

* Đặc điểm của nguồn nhân lực trong các DNTN

Nguồn nhân lực trong các DNTN thể hiện một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Trình độ, năng lực của chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý trong các

DNTN còn thấp.

Nhiều doanh nghiệp hoạt động với hình thức quản lý điều hành còn mang

nặng tình gia đình, tập trung quyền lực nên chưa phát huy được tính tự chủ, sáng tạo

của đội ngũ quản lý doanh nghiệp. Nhiều chủ doanh nghiệp quản lý chủ yếu dựa

vào kinh nghiệm bản thân, nên thiếu tầm nhìn chiến lược, lúng túng trong đinh

hướng dài hạn. Ngoài ra, đa số chủ doanh nghiệp đều ít hoặc chưa qua đào tạo nghề,

chủ yếu đi lên từ sản xuất nhỏ, với lao động thủ cơng, vì vậy, kỹ năng kinh doanh và

kỹ năng lao động còn thấp, khả năng nắm bắt thơng tin thị trường, tiếp cận công

nghệ hiện đại thiếu nhạy bén, không theo kịp yêu cầu thị trường. Kinh nghiệm, kỹ

năng kinh doanh còn nhiều hạn chế và đa số đều chưa có chiến lược kinh doanh.

Việc trình độ của các chủ doanh nghiệp này thấp cũng sẽ ảnh hưởng đến sự

PTNNL trong các DNTN vì họ khơng hiểu biết về lĩnh vực này, không nhận thấy

được tầm quan trọng của các hoạt động này nên không quan tâm đến PTNNL trong

doanh nghiệp mình.

Thứ hai, Quy mơ nguồn nhân lực nhỏ: Số lượng NNL trong các DNTN thấp.

Điều này là do quy mô của các DNTN thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc

siêu nhỏ, số lượng lao động ít, vì vậy việc đào tạo PTNNL sẽ ít được chú trọng cũng

như sẽ khó khăn vì khơng có người chuyên trách chịu trách nhiệm thực hiện công

tác này và nhu cầu đào tạo thường nhỏ. Tuy nhiên, với quy mơ lao động nhỏ, các

doanh nghiệp này cũng có lợi thế là gọn nhẹ và dễ dàng thay đổi đáp ứng nhu cầu

của thị trường. Quy mô lao động nhỏ cũng góp phần làm cho các thành viên trong

doanh nghiệp hiểu nhau hơn, gần gũi với nhau, dễ dàng động viên chia sẻ với nhau

và điều này tạo điều kiện thuận lợi trong các hoạt động đào tạo trong công việc.

Thứ ba, chất lương thấp: nhìn chung, thực trạng hiện nay của nước ta là đang

thiếu lực lao động có tay nghề, cơng nhân kỹ thuật bậc cao. Chính vì vậy, lực lượng



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



23



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



lao động trong các DNTN cũng hầu hết là nguồn lực có trình độ chun mơn, tay

nghề thấp. Đối với các DNTN hiện nay, hầu hết là xuất phát từ mơ hình hộ gia đình,

kinh doanh theo phương pháp truyền thống, ít áp dụng cơng nghệ - kỹ thuật cao

trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên chủ yếu sử dụng lao động phổ thông, chưa

qua đào tạo là chính.

Thứ tư, tác phong cơng nghiệp chưa cao:

Tác phong công nghiệp được hiểu là phong cách, lối làm việc và sinh hoạt phù

hợp với thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, còn gọi là tác phong

chun nghiệp. Hiện nay, đa số lao động của Việt Nam nói chung và trong các

DNTN nói riêng, phần lớn là xuất phát từ nơng nghiệp, do vậy chưa có sự chuyển

đổi tác phong lao động nông nghiệp sang công nghiệp, chưa được trang bị kiến thức

và kỹ năng làm việc theo nhóm, trách nhiệm trong cơng việc. Đồng thời, người lao

động xuất thân từ nơng thơn thường có tâm lý làng xã, bị ràng buộc nhiều bởi lệ

làng, phong tục tập quán nên ảnh hưởng không nhỏ đến kỷ luật, tác phong lao động.

Thứ năm, có tính chất bấp bênh, không ổn định, thường xuyên nhảy việc.

Lao động trong các DNTN thường là lao động trẻ tuổi, đây là nhóm lao động

thường có mong muốn trải nghiệm, thách thức bản thân trong nhiều môi trường làm

việc khác nhau, nên họ thường khơng gắn bó lâu dài với một doanh nghiệp nhất

định. Bên cạnh đó, với tính chất của DNTN là hầu hết các doanh nghiệp có quy mơ

nhỏ, lợi ích kinh tế của họ sẽ khơng được đảm bảo. Chính những điều này, đã khiến

cho những lao động trẻ trong các DNTN ln có tâm lý chung là bất ổn, khơng

được n tâm với cơng việc của mình nên họ thường có xu hướng muốn nhảy việc.

1.2.3Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực trong các

doanh nghiệp tư nhân.

1.2.3.1 Các yếu tố bên ngồi:

Chính sách của nhà nước.

Tại Đại hội XI, Đảng và nhà nước ta đã xác định, trong điều kiện cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, PTNNL được coi là một trong ba khâu đột

phá của chiến lược chuyển đổi mơ hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đồng thời PTNNL lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh

tranh quốc gia.

SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



24



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phạm Thị Thương



Những chính sách, quy hoạch về định hướng ngành nghề, thị trường lao động

sẽ tác động trực tiếp đến NNL trong các DNTN.

Sự phát triển của khoa học công nghệ: KHCN càng tiến bộ thì khoảng

cách từ KHCN đến sản xuất càng rút ngắn, sản xuất kinh doanh liên tục thay

đổi. Sự phát triển không ngừng và những tiến bộ khoa học kĩ thuật đã cho ra đời

những cơng nghệ hiện đại mà nó đòi hỏi NNL có chất lượng cao mới đáp ứng

được. Việc áp dụng công nghệ mới cho phép doanh nghiệp lựa chọn chính sách

sử dụng nhiều hay ít lao động và đòi hỏi những điều kiện nhất định về lao động.

Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quy mô mà còn ảnh hưởng đến chất lượng

NNL trong doanh nghiệp.

Sự phát triển của giáo dục – đào tạo: mức độ phát triển của giáo dục - đào tạo

có ảnh hưởng khơng nhỏ đến chất lượng NNL trong doanh nghiệp, quyết định trình

độ văn hóa, chun mơn, kĩ thuật, tay nghề của người lao động. Mức độ phát triển

của giáo dục – đào tạo càng cao thì quy mơ NNL chất lượng cao càng mở rộng,

năng suất lao động càng cao.

Sự phát triển của thị trường lao động: mở của kinh tế, tồn cầu hóa và hội

nhập đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm, cơ cấu việc làm cũng

thay đổi từ lĩnh vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, song cũng gặp rất

nhiều khó khăn do nhu cầu về một NNL chất lượng cao. Trong bối cảnh đó, sự phát

triển của thị trường lao động như một yếu tố khách quan tác động đến việc nâng

cao chất lượng NNL trong doanh nghiệp bởi thông tin lao động việc làm là toàn

diện, sự cạnh tranh việc làm trở nên gay gắt nhằm thu hút lao động có chất lượng và

số lượng phù hợp với yêu cầu của sản xuất.

Môi trường xã hội, dân cư, tự nhiên bao gồm: truyền thống, tập quán, thói

quen, lễ nghi, nghệ thuật ứng xử, các quy phạm tư tưởng và đạo đức, các hiện tượng

và quy luật khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng,… của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, tầng

lớp dân cư và quốc gia. Các yếu tố này tác động đến việc hình thành tác phong, nếp

sống, ý thức của NLĐ.

Ngồi các yếu tố trên, thì còn có những yếu tố khác tác động đến sự phát triển

của NNL trong các DNTN như: Sự phát triển của y tế, Các yếu tố kinh tế, Môi



SVTH: Nguyễn Thị Hoanh



25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×