Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với

nhiều hình thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả ngân hàng

phải tiến hành phân loại tín dụng. Có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng, thơng

thường tín dụng ngân hàng được phân loại theo các tiêu thức sau:

1.1.2.1 Căn cứ vào đối tượng tín dụng

Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu

động của các tổ chức kinh tế. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng

hóa, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh tốn các khoản nợ dưới hình thức

chiết khấu kỳ phiếu.

Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản cố

định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và

cơng trình mới.

1.1.2.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn

Tín dụng sản xuất và lưu thơng hàng hóa: Là các khoản tín dụng cấp cho

các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thơng hàng hóa.

Tín dụng tiêu dùng: Là khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua

sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như ơ tơ, nhà, laptop, di động, trang thiết bị trong

nhà…

1.1.2.3 Căn cứ vào thời hạn tín dụng

Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn vay đến 12 tháng (dưới 1 năm), chủ yếu

được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu

cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.

Tín dụng trung hạn: Có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng (trên 1

năm - 5 năm), thường được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến

hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án

có quy mơ nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh.



15



Tín dụng dài hạn: Có thời hạn cho vay trên 60 tháng (trên 5 năm), thường

được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư

xây dựng các xí nghiệp mới, các cơng trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng

sản xuất có quy mơ lớn.

1.1.2.4 Căn cứ vào mức độ đảm bảo

Tín dụng khơng có bảo đảm: Là tín dụng khơng có tài sản cầm cố, thế chấp

hay khơng có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho khách hàng

truyền thống, khả năng tài chính mạnh và có hệ số tín nhiệm cao.

Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng được cấp có thế chấp, cầm cố bằng tài

sản (của bên vay hoặc bên thứ ba). Sự bảo đảm này là biện pháp đảm bảo cho ngân

hàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng khơng có hoặc khơng đủ khả

năng hồn trả nợ đúng hạn.

1.1.2.5 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng

Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng

thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.

Tín dụng gián tiếp: Là khoản cấp vốn thông qua việc mua lại các khế ước

hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và trong thời hạn thanh tốn. (Tơ Ngọc

Hưng,2009,tr.119)

1.1.3 Đặc trưng tín dụng ngân hàng

- Cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng tin tưởng người đi

vay sửa dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và có khả năng trả

nợ.

- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Để đảm bảo thu

hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõ thời gian vay. Việc xác định

thời gian vay dựa vào:

+ Quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Có nghĩa là thời hạn cho vay

phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì lúc đó người vay



16



mới có điều kiện để trả nợ. Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn

của đối tượng vay thì khi đến hạn khách hàng chưa có nguồn để trả nợ sẽ gây khó

khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay dài hơn chu kỳ luân chuyển

vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích và sẽ dẫn

tới khơng có nguồn để trả nợ, nhưng nếu có nguồn thu nhập khác ngồi nguồn thu

chính thì có thể thu nợ từ nguồn đó.

+ Tính chất vốn của người cho vay: nếu vốn của người cho vay ổn định thì

thời hạn cho vay có thể dài hơn và ngược lại thì thời hạn cho vay phải ngắn hơn để

đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng.

- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc

hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng. Vì vốn cho vay của

ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa nên sau một thời gian

nhất định ngân hàng phải trả lại cho người ký thác. Mặt khác, ngân hàng cần phải

có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động: khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ

nhân viên, chi phí văn phòng…nên người vay vốn ngồi việc trả nợ gốc còn phải trả

lãi cho ngân hàng. (Tô Ngọc Hưng,2009,tr.116)

1.2 Một số vấn đề chung về rủi ro tín dụng

1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng, cụ thể:

Anthony Sauders (2007) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng

khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính

mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện cả về số lượng và thời

hạn”.

Theo Timothy W.Koch (2006) thì “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của

thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.

Theo khoản 1 điều 2 Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm

2014: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng



17



xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng

khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam

kết”.

Như vậy, có thể hiểu RRTD là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong

q trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ

trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã

cam kết trong hợp đồng. Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến tổn

thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn.

1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng



RỦI RO TÍN DỤNG



Khả năng

Ngun nhân phát sinh



trả nợ



Rủi ro giao



Rủi ro tác



Rủi ro danh



dịch



nghiệp



mục

RRTD



Rủi ro

khơng hồn

trả nợ đúng

Rủi ro lựa

chọn



Rủi ro đảm

bảo



Rủi ro

nghiệp vụ



Rủi ro



Rủi ro



nội tại



tập trung



hạn



Rủi ro do



không giới



mất khả



hạn ở hoạt



năng trả nợ



động cho

vay



Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng

(Nguyễn Văn Tiến,2010)

1.2.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro

Rủi ro giao dịch: một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do

những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.

Rủi ro giao dịch có ba bộ phận:



18



- Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro liên quan đến q trình đánh giá phân tích tín dụng

khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.

- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản

trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và

mức cho vay trên giá trị của TSĐB.

- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt

động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý

các khoản vay có vấn đề.

Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh

mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

- Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng

biệt trong mỗi chủ thẻ đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc

điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay.

- Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một

số khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một nganh,

lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất đinh, cùng một loại hình cho

vay có rủi ro cao.

Rủi ro tác nghiệp: Là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân

hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc

do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng.

1.2.2.2 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng

Rủi ro khơng hồn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng,

ngân hàng và khách hàng phải quy ước về thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến

thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, những tổn thất

xảy ra trong trường hợp này người ta gọi đó là rủi ro khơng hồn trả nợ đúng hạn.

Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng

đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý tài sản bảo đảm của khách hàng

để thu nợ.



19



RRTD không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác

mang tính chất tín dụng của ngân hàng như: bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ

thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ…

(Nguyễn Văn Tiến,2010)

1.2.3 Một số chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng

1.2.3.1 Nợ quá hạn

Theo Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 “Nợ quá hạn

là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”. Nợ quá hạn

là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD. Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ

theo cam kết, người vay không có khả năng trả được nợ một phần hay tồn bộ

khoản vay cho người cho vay. Nó còn là kết quả của mối quan hệ tín dụng khơng

hồn hảo, thể hiện sự yếu kém về tài chính của khách hàng, gây nên sự đổ vỡ lòng

tin của người cấp tín dụng với người nhận tín dụng. Nợ q hạn có nhiều mức độ

khác nhau:





Tỷ lệ NQH



Nếu tỷ lệ NQH cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp và ngược lại, tỷ lệ NQH

thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.





Tỷ lệ tổng dư nợ có NQH



Chỉ tiêu “Tổng dư nợ có NQH” chính là tồn bộ dư nợ của khách hàng (kể cả

đến hạn và chưa đến hạn) tính từ khi xuất hiện món nợ quá hạn đầu tiên, nên nó

phản ánh chính xác hơn độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.





Chỉ tiêu “Khách hàng có NQH”



20



Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ chính sách tín dụng của ngân hàng khơng hiệu quả.

Ngồi ra, nếu chỉ tiêu này còn thấp hơn chỉ tiêu “Nợ q hạn” thì có thể NQH tập

trung vào những khách hàng lớn; ngược lại nghĩa là tập trung vào khách hàng nhỏ.





Chỉ tiêu “Cơ cấu NQH”







Khả năng thu hồi nợ quá hạn



1.2.3.2 Nợ xấu

Nợ xấu: Là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà khó hoặc khơng thể thu hồi

được do DN đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trả tăng, DN mất khả năng

thanh toán... Nợ xấu sẽ phản ánh một cách rõ nét chất lượng tín dụng của ngân hàng

thơng qua việc đánh giá cả thời hạn quá hạn của khoản vay và tiêu chí đánh giá rủi

ro của khoản vay. Nợ từ nhóm 3 – 5 được xem là khoản nợ xấu hay nợ khó đòi.

Nợ xấu được phản ánh rõ nhất qua các chỉ số:



Theo Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 thì nợ được

phân thành 5 nhóm theo hai phương pháp như sau:



Bảng 1.1 Phân loại nợ và trích lập dự phòng theo Văn bản số 22/VBHN-NHNN

ngày 04 tháng 06 năm 2014

T



Nhóm



Định lượng



Định tính



21



T

1

1

2

2



Nợ đủ

tiêu

chuẩn

Nợ

cần

chú ý



Nợ

3 dưới

3

tiêu

chuẩn



4

4



Nợ

nghi

ngờ



Nợ có

khả

5

năng

5

mất

vốn



Nợ trong hạn và nợ quá hạn dưới 10 ngày

được đánh gái là có khả năng thu hồi đầy

đủ nợ gốc và nợ lãi đúng hạn.

- Các khoản nợ quá hạn từ 10 - 90 ngày.

- Các khoản nợ điều đỉnh kỳ hạn trả nợ lần

đầu.



Nợ có khả năng thu

hồi đầy đủ gốc và lãi

đúng hạn.

Nợ có khả năng thu

đồi đầy đủ gốc và lãi

nhưng có dấu hiệu

khách hàng suy giảm

khả năng trả nợ.

- Các khoản nợ q hạn từ 91 – 180 ngày.

Nợ khơng có khả

- Các khoản nợ được gia hạn nợ lần đầu.

năng thu hồi gốc và

- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do lãi khi đến hạn và

khách hàng hàng không đủ khả năng trả lãi được đánh giá là có

đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.

khả năng tổn thất.

- Các khoản nợ quá hạn từ 181-360 ngày.

Nợ có khả năng tổn

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ thất cao.

lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời gian

trả nợ đươc cơ cấu lại lần đầu.

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ

lần thứ hai.

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.

Nợ không còn khả

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ năng thu hồi, mất

lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời vốn.

hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ

lần thứ hai bị quá hạn theo thời hạn trả nợ

được cơ cấu lại lần thứ hai.

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ

lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn

hoặc đã quá hạn.

- Các khoản nợ khoanh, nợ cần xử lý.

(Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014)



1.2.3.3 Trích lập dự phòng RRTD

Theo Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014, dự phòng rủi

ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do

khách hàng của tổ chức tín dụng khơng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng

rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch tốn vào chi phí hoạt động của tổ chức tín

dụng. Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và dự phòng chung.



22



Dự phòng cụ thể - là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ



(i)



thể các khoản nợ quy định tại Điều 6 và Điều 7 Quy định này để dự

phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.

Dự phòng chung – là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những



(ii)



tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự

phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của tổ chức

tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm.

Việc sử dụng dự phòng được sử dụng theo nguyên tắc là sử dụng dự phòng cụ

thể đối với từng khoản nợ trước, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, và cuối

cùng nếu phát mãi tài sản không đủ thu hồi nợ thì mới sử dụng dự phòng chung.

Mỗi ngân hàng cần có cách tính dự phòng phù hợp vừa đủ để bù đắp rủi ro vừa

tránh để chi phí tăng cao ảnh hưởng đến thu nhập ròng.



Mức trích lập dự phòng cụ thể

Số tiền dự phòng cụ thể phải trích đối với từng khách hàng được tính theo

cơng thức:

R = max 0,(A – C) x r

Trong đó:

-



R: Tổng số tiền dự phòng cụ thể phải trích.

A: số dư nợ gốc của khoản nợ.

C: giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm.

r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể.



Mức trích lập dự phòng chung

Số tiền dự phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng dư các

khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 trừ tiền gửi, khoản cho vay, mua có kỳ hạn giấy tờ

có giá đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

Các chỉ số thể hiện dự phòng RRTD:

Tỷ lệ dự phòng RRTD



=



Dự phòng RRTD được trích lập



x 100%



23



Tổng dư nợ cho kỳ báo cáo

Hệ số khả năng bù đắp

Dự phòng RRTD được trích lập

=

các khoản cho vay bị mất

Dư nợ bị xóa

Dự phòng RRTD được trích lập

Hệ số bù đắp RRTD

=

NQH khó đòi

1.2.4 Ngun nhân phát sinh rủi ro tín dụng

1.2.4.1



RRTD do nguyên nhân khách quan

Các yếu tố về môi trường kinh tế

Chu kỳ phát triển kinh tế: Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động



tín dụng cũng sẽ tăng trưởng theo và ít rủi ro hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào

suy thối thì sản xuất kinh doanh của khách hàng bị thu hẹp hoặc đình trệ, dẫn tới

thua lỗ và bị phá sản. Nếu ngân hàng vẫn mạo hiểm tăng trưởng tín dụng ở mức cao

thì khả năng rủi ro không thu được nợ sẽ tăng lên.

Rủi ro do q trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: Xu hướng tồn cầu

hóa đang diễn ra sơi động trên tồn thế giới có thể làm cho nợ xấu ngày càng gia

tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt, khiến những khách

hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật đào thải khắc

nghiệt của thị trường. Thêm vào đó, sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngồi

cũng khiến các ngân hàng trong nước nếu khơng quản trị RRTD hiệu quả sẽ bị lép

vế và mất dần các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn.

Các yếu tố về môi trường pháp lý

Nhiều khe hở trong áp dụng thi hành luật pháp: Luật và các văn bản có liên

quan của nước ta khơng đồng bộ, còn nhiều khe hở, điển hình là việc quy định

NHTM có quyền xử lý TSĐB nợ vay khi khách hàng không trả được nợ. Thực tế,

các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không

phải là cơ quan quyền lực Nhà nước nên không có chức năng cưỡng chế, do đó phải

đưa ra Tòa án xử lý qua con đường tố tụng, dẫn đến thời gian thu hồi được nợ là quá

lâu, phức tạp và chi phí và nhân lực.



24



Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát của Ngân hàng nhà nước mang nặng tính

hình thức: Mơ hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập, chưa phát

huy hết khả năng, hoạt động thanh tra giám sát thường chỉ tiến hành tại chỗ là chủ

yếu, còn thụ động theo kiểu xử lý "khi sự đã rồi", ít có khả năng ngăn chặn và

phòng ngừa rủi ro. Vì thế có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra

ngân hàng Nhà nước cảnh báo sớm, để đến khi hậu quả nặng nề xảy ra rồi mới can

thiệp thì đã quá muộn.

RRTD do nguyên nhân từ khách hàng vay

Sử dụng vốn sai mục đích, khơng có thiện chí trong việc trả nợ: Đối với các

doanh nghiệp, khi hồ sơ vay vốn trình lên các cán bộ tín dụng thì đều có mục đích

rõ ràng, phương án kinh doanh cụ thể và khả thi; còn các cá nhân thì kê khai đầy đủ

mục đích và khả năng tài chính có thể trả nợ đúng hạn. Tuy nhiên khơng ít khách

hàng sau khi vay lại sử dụng vốn sai mục đích, khơng có thiện chí trả nợ sẽ làm cho

các ngân hàng bị tổn thất và rủi ro trong vấn đề thu hồi nợ.

Khả năng quản lý hoạch định chiến lược kinh doanh kém: Nếu chiến lược

kinh doanh không được quản lý hoạch định tốt sẽ ảnh hưởng đến nguồn trả nợ.

Ngân hàng cho vay dựa trên kế hoạch, chiến lược kinh doanh vì đấy là nguồn trả nợ

tốt nhất, tuy nhiên nếu sự quản lý hoạch định ấy yếu kém, sẽ làm cho phương án

kinh doanh có thể đi vào phá sản, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.

Rủi ro tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Hiện nay các Báo

cáo tài chính của doanh nghiệp cung cấp vẫn chưa phải là nguồn thông tin xác thực,

bởi chúng được “phù phép” sao cho đẹp để dễ tiếp cận vốn vay. Mặc dù có những

báo cáo tốt, có lợi nhuận nhưng bên trong lại tiềm ẩn, chứa đựng nhiều vấn đề rủi

ro. Do đó ngân hàng khơng có căn cứ chính xác đáng tin cậy dựa vào thơng tin

doanh nghiệp cung cấp mà phải dùng Tài sản thế chấp làm chỗ dựa để phòng chống

RRTD.

1.2.4.2 RRTD do nguyên nhân chủ quan

Rủi ro do chính sách tín dụng của ngân hàng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×