Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng

Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



trong thời gian ngắn, không xác định chứ không phải là khoản để dành. Mục đích của

loại tiền gửi này như sau:

+ Đảm bảo an toàn về tài sản

+ Thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp

+ Thực hiện các khoản thanh toán trong tiêu dùng của cá nhân

Loại tiền gửi này hạn chế được chi phí tổ chức thanh tốn, bảo quản tiền và

vận chuyển tiền. Do hình thức huy động vốn này không ổn định nên ngân hàng phải

thường dự trữ lại với số lượng rất lớn để sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của khách hàng

bất cứ khi nào do đó mức lãi suất được các ngân hàng áp dụng thường là thấp cho

loại tiền gửi này.

- Tiền gửi có kỳ hạn: Ngược với khoản tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ

hạn là khoản tiền gửi với thời gian xác định trước. Nguyên tắc khi tiến hành khoản

tiền gửi này là người gửi chỉ được rút tiền khi đến thời hạn như đã thoả thuận. Kỳ

hạn thường là: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng hoặc trên 12 tháng. Tuy

nhiên người gửi vẫn có thể rút tiền trước kỳ hạn trong trường hợp mong muốn mà

không cần phải đợi đến khi đáo hạn. Tuy nhiên khi rút tiền trước sẽ không được

hưởng mức lãi suất cũ mà sẽ được tính với lãi suất của khơng kỳ hạn. Đây là nguồn

vốn rất ổn định, thuận lời cho kế hoạch kinh doanh vì ngân hàng biết trước thời

điểm mà khách hàng sẽ rút tiền ra để chủ động nguồn tiền chi trả. Do đó nên ngân

hàng thường đưa ra mức lãi suất cao hơn với nhiều loại kỳ hạn khác nhau nhằm đáp

ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng.

1.2.3.2. Căn cứ theo đối tượng huy động

Tiền gửi được chia thành tiền gửi của dân cư và tiền gửi của các cá nhân, tổ

chức xã hội

- Tiền gửi của dân cư: Trong xã hội mọi các tầng lớp dân cư đều có các

khoản thu nhập tạm thời vẫn chưa sử dụng đến. Nếu có khả năng tiếp cận với ngân

26



27



hàng người dân đều có xu hướng gửi tiết kiệm tiền vừa để đảm bảo an toàn cho

khoản tiền của mình lại có được khoản tiền lãi. Huy động vốn nhằm thu hút ngày

càng nhiều tiền tiết kiệm, tăng vốn huy động, các ngân hàng đều khuyến khích dân

cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng việc gửi ngân hàng. Nhiều

hình thức huy động đa dạng và mức lãi suất cạnh tranh đều được các ngân hàng

triển khai mạnh mẽ.

- Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Các doanh nghiệp và các

tổ chức trong xã hội cũng sẽ có lượng tiền nhàn rỗi, khơng những thế còn ở mức rất

lớn. Quan trọng hơn các doanh nghiệp do yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh

doanh cùng với mong muốn gia tăng lợi nhuận, các đơn vị này thường gửi một khối

lượng lớn tiền vào ngân hàng để thuận tiện và hưởng các tiện ích thanh tốn. Dòng

tiền tại các doanh nghiệp có sự đan xen giữa các khoản phải thu và các khoản phải

thanh tốn do đó sẽ ln có một số dư nhất định. Nguồn vốn huy động này có độ

lớn tuy thuộc vào quy mơ và khả năng kinh doanh và loại hình mỗi doanh nghiệp.

Đây chính là kênh huy động vốn lớn nhất của các ngân hàng, có chi phí thấp và

được sử dụng để cho vay că ngắn hạn và trung hạn.

1.2.3.3. Căn cứ theo hình thức huy động

- Tiền gửi thanh tốn: “Đây là khoản tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi

vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ” hay nói cách khác ngân

hàng sẽ đứng ra để thực hiện việc chi trả cho các hoạt động tiêu dùng, nhu cầu chi

trả của cá nhân và doanh nghiệp trong phạm vi số dư khả dụng. Các khoản thu bằng

tiền của cá nhân hoặc doanh nghiệp có thể được chuyển thằng vào tiền gửi thanh

toán theo yêu cầu của khách hàng. Đặc điểm của loại tiền gửi này đó là lãi suất rất

thấp, mục đích chính khơng phải để kiếm lợi nhuận mà để thanh tốn nhanh chóng

đồng thời hưởng các dịch vụ của ngân hàng và các chương trình chiết khấu, giảm

giá, khuyến mại dành cho chủ tài khoản.

- Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: Có nhiều khoản

tiền thu của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp chưa phải sử dụng ngay và có thể

27



28



được dùng để gửi, thu lãi. Để thu hút nguồn vốn này, ngân hàng đưa ra hình thức

tiền gửi có kỳ hạn với các mức thời hạn đa dạng. Loại tiền gửi này sẽ khơng có các

dịch vụ và ưu đãi khi thanh toán như tiền gửi thanh tốn nhưng lại có mức lãi suất

cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn. Nếu khách hàng rút tiền trước kỳ hạn sẽ được

tính với mức lãi suất của không kỳ hạn (mức lãi suất này thấp hơn).

- Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền được gửi vào ngân hàng với mục đích để

dành, tiết kiệm nhằm đảm bảo an tồn và tích luỹ. Tiền gửi tiết kiệm là bộ phận thu

nhập bằng tiền của các cá nhân chưa có nhu cầu sử dụng được gửi vào các tổ chức

tín dụng. Người gửi tiền sẽ được cấp một sổ tiết kiệm – là giấy chứng nhận cho mức

tiền khi thực hiện gửi vào ngân hàng. Khi đến thời hạn quy định, khách hàng đem

sổ tới ngân hàng và rút tiền sẽ nhận thêm mức lãi trên tổng số tiền gửi tiết kiệm theo

quy định. Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi

tiết kiệm có kỳ hạn.

- Tiền gửi của các ngân hàng khác: Ngân hàng thương mại gửi tiền tại các

ngân hàng thương mại khác. Mục đích chính của loại tiền này đó là thanh tốn hộ

và một số mục đích khác. Quy mơ loại tiền gửi này thường không lớn.

1.3. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại

1.3.1. Vai trò của hoạt động huy động vốn đối với ngân hàng thương mại

Ở nước ta hiện nay, hoạt động tín dụng chiếm tới 90% các hoạt động của

ngân hàng, chứng tỏ đây là hoạt động chủ yếu quyết định đến sự thành công và hiệu

quả kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại. Mà để thực hiện được hoạt động tín

dụng thì điều bắt buộc là phải có vốn. 80% nguồn vốn tại các NHTM Việt Nam đến

từ vốn huy động. Như vậy huy động vốn chính là bước khởi đầu quan trọng nhất, từ

đó mới có được các bước tiếp theo.

Huy động vốn có tốt, có thu hút được nhiều khách hàng sẽ luôn đảm bảo

được lượng tiền dự trữ và đầu tư ổn định, sẵn sàng cho mọi nhu cầu rút tiền ra của

khách hàng sẽ tạo nên uy tín và niềm tin về một ngân hàng có tài chính vững mạnh.

28



29



Ngồi ra nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn rẻ sẽ tạo được lợi nhuận cao.

NHTM phải có chiến lược thu hút nguồn vốn hợp lý mới có thể tiếp tục tạo dựng

được chiến lược cho vay đạt hiệu quả.

1.3.2. Đánh giá hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại

1.3.2.1. Quy mô huy động vốn

Quy mô là chỉ tiêu phản ánh số lượng nguồn vốn huy động của ngân hàng.

Khi quy mô vốn ngày càng gia tăng sẽ giúp ngân hàng phát triển và mở rộng phạm

vi, tăng tính thanh khoản và đảm bảo sự thanh tốn cho khách hàng bất cứ khi nào

có nhu cầu vay và rút tiền, nâng cao năng lực và vị thế, tạo dựng niềm tin.

Nguồn vốn huy động có quy mô khác nhau theo từng giai đoạn phục thuộc

vào sự phát triển và chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn. Thơng thường các

ngân hàng có quy mơ lớn sẽ có nhiều ưu thế hơn khi huy động vốn. Trong đó, trước

tình hình ngày càng có nhiều ngân hàng mới như hiện nay, việc tranh giành thị phần

khách hàng giữa các ngân hàng với nhau là điều khó có thể tránh khỏi. Sự cạnh

tranh giữa các ngân hàng khiến khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn cả về lãi suất,

quy mơ, uy tín hay tính thanh khoản của từng ngân hàng cụ thể. Theo đó, đa phần

các ngân hàng đều có mức lãi suất tương đương nhau, khơng có nhiều chênh lệch

lớn. Do vậy, yếu tố quyết định đến sự lựa chọn của khách hàng phụ thuộc vào quy

mơ, độ uy tín của ngân hàng nhằm thực hiện các giao dịch tiền tệ hoặc gửi tiết kiệm

nhằm đảm bảo độ an tồn và tính thanh khoản cho các giao dịch tín dụng của mình.

1.3.2.2. Cơ cấu nguồn vốn

Cơ cấu nguồn vốn huy động có ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và chi phí hoạt

động bình qn của ngân hàng. Từ đó nó sẽ ảnh hưởng tới chi phí đầu ra tức là lãi

suất cho vay của ngân hàng. Cơ cấu nguồn vốn phải phù hợp với cơ cấu sử dụng,

đáp ứng đúng, đủ yêu cầu sử dụng nhằm mục đích tối đa dư nợ tín dụng và đầu tư,

tối đa lợi nhuận thu được mà không phải gánh trả phần lãi suất cho phần vốn huy

29



30



động thừa. Thông qua việc xác định cơ cấu vốn và sự tăng trưởng của nguồn vốn có

thể xác định mặt mạnh, mặt yếu của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh.

Có thể đánh giá cơ cấu nguồn vốn huy động thông qua chỉ tiêu tỷ trọng

nguồn vốn huy động thông qua công thức:

Tỷ trọng từng NVHĐ= (Khối lượng từng NVHĐ)/(Tổng NVHĐ)*100

Chỉ tiêu tỷ trọng nguồn vốn huy động phản ánh quan hệ giữa từng loại vốn

huy động với toàn bộ nguồn vốn huy động. NHTM cần có cơ cấu vốn đa dạng đồng

thời đảm bảo tỉ lệ hợp lý giữa các loại vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, nội tệ và

ngoại tệ. Khi xây dựng tỷ trọng nguồn vốn huy động, nhà lãnh đạo cần can cứ vào

các yếu tố bên ngoài, nghiên cứu thị trường để bắt kịp xu hướng vận động, từ đó đề

ra được các chiến lược điều chỉnh đúng đắn.

Theo đó, mỗi nguồn vốn có điểm mạnh, điểm yếu riêng biệt trong việc huy

động và khai thác phụ thuộc vào đặc trưng của từng nhóm khách hàng. Sự biến đổi

về cơ cấu nguồn vốn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi trong cơ cấu sử dụng

nguồn vốn và sự thay đổi về lợi nhuận, mức độ an toàn của ngân hàng. Điều này

thậm chí cũng ảnh hưởng đến độ uy tín của ngân hàng với các khách hàng tiềm

năng. Trong đó, xu hướng biến đổi trong cơ cấu vốn huy động phụ chịu tác động

trực tiếp từ các kế hoạch điều chỉnh của ngân hàng, các chiến lược, sách lược hoạt

động và sự biến động của các yếu tố bên ngồi. Chính vì vậy, để cân bằng cơ cấu

huy động vốn, đòi hỏi các ngân hàng phải luôn luôn sát sao trong việc nghiên cứu

thị trường, có các chiến lược phù hợp với tình hình hoạt động cụ thể và có các chính

sách điều chỉnh phù hợp và kịp thời trong từng giai đoạn.

Một số chỉ tiêu cơ cấu nguồn vốn huy động:





Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng



Tỷ trọng VHĐ theo đối tượng = x100%

30



31







Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn



Tỷ trọng VHĐ theo kỳ hạn= (Khối lượng VHĐ theo kỳ hạn)/(Tổng

NVHĐ)*100





Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền



Tỷ trọng VHĐ theo loại tiền= (Khối lượng VHĐ theo loại tiền)/(Tổng

NVHĐ)*100

1.3.2.3. Khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn

Thể hiện tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động hay nói cách khác là quy

mơ vốn ngân hàng qua các năm. Nếu tốc độ tăng trưởng ổn định là yếu tố để giúp

ngân hàng có được sự phát triển ổn định, tạo thế chủ động khi đề ra các chiến lược

kinh doanh lâu dài. Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn còn thể hiện khả năng cạnh

tranh của ngân hàng trên thị trường. Nếu khả năng tốt tức là ngân hàng sẵn sàng đủ

nguồn vốn để cung cấp cho khách hàng, từ đó xây dựng được hình ảnh về một ngân

hàng lớn mạnh với tiềm lực kinh tế và khả năng tài chính tốt.

Về mặt lượng, chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động thường được

đánh giá thông qua:

Tốc độ tăng trưởng VHĐ = .100

Tốc độ tăng trưởng VHĐ phản ánh sự thay đổi về quy mô nguồn vốn huy

động qua các thời kỳ. Nếu tỉ lệ này đạt trên 100% tức là quy mô nguồn vốn huy

động đã được mở rộng. Kết quả này diễn ra liên túc chứng tỏ quy mô hoạt động của

ngân hàng ngày càng lớn, hiệu quả huy động vốn được cải thiện và nâng cao.

Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng của ngồn vốn cũng là một trong các tiêu chí

đánh giá quy mô huy động vốn cũng như quy mô phát triển của một ngân hàng.

Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động không chỉ cho thấy sự phát triển của ngân

31



32



hàng mà còn thể hiện khả năng mở rộng quy mô vốn huy động của ngân hàng qua

các năm. Từ đó cho thấy nguồn vốn biến đổi theo xu hướng như thế nào và khả

năng kiểm soát nguồn vốn huy động của ngân hàng đến đâu. Những thông số này

ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển, uy tín và vị thế của mỗi ngân hàng. Điều này

không chỉ ảnh hưởng đến khả năng tăng cường, mở rộng thị trường hoạt động của

các ngân hàng mà thậm chí còn ảnh hưởng đến quyết định của khách hàng.

Trường hợp tốc độ tăng trưởng ổn định sẽ góp phần tạo thế chủ động cho

ngân hàng trong việc hoạch định chiến lược phát triển lâu dài đồng thời cũng khiến

khách hàng yên tâm hơn, tin tưởng hơn khi gửi tiền và đầu tư vào ngân hàng. Ngoài

ra, chỉ tiêu về sự tăng trưởng nguồn vốn huy động tại ngân hàng cũng cho thấy khả

năng cạnh tranh của ngân hàng với các đối thủ khác cũng như độ uy tín của ngân

hàng trong lĩnh vực hoạt động.

1.3.2.4. Chi phí huy động vốn

Chi phí huy động vốn là tồn bộ chi phí ngân hàng bỏ ra trong quá trình thực

hiện việc huy động vốn. Chi phí huy động vốn bao gồm 2 phần: chi phí trả lãi (trả

lãi suất huy động) và chi phí phi lãi.

Trong đó chi phí trả lãi là khoản chi phí chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tồn bộ

chi phí huy động vốn do đó đây là khoản chi phí chính mà các ngân hoàng quan

tâm. Mức lãi suất được ngân hàng đưa ra dựa trên lãi suất thị trường và chiến lược

kinh doanh của mỗi ngân hàng. Khi các ngân hàng đã thừa vốn nhưng lượng khách

hàng có nhu cầu gửi vốn vẫn cao thì lãi suất huy động sẽ giảm xuống. Ngược lại khi

nhu cầu khách hàng vay vốn tăng cao hay trong thời kỳ kinh tế suy giảm, chính phủ

thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ gây ra sự thiếu hụt nguồn vốn sẽ đẩy lãi suất

tăng huy động tăng cao. Ngồi ra các chi phí phi lãi góp phần hình thành nên chi

phí huy động vốn như: chi phí lương cơng nhân viên, chi phí quảng cáo marketing,

chi phí máy móc địa điểm, chi phí cơng nghệ, cơ sở hạ tầng, …Khi đánh giá hiệu

quả hoạt động vốn trên phương diện chi phí thì ngân hàng phải đạt được những tiêu

chí sau:

32



33



-



Thứ nhất: Chú trọng tìm kiếm các nguồn chi phí thấp nhất để đáp ứng nhu

cầu cho vay và đầu tư nhưng vẫn cần đảm bảo được các chỉ tiêu về quy mô,

thời hạn và cơ cấu.



-



Thứ hai: Tăng lợi nhuận nhưng hạn chế tối đa rủi ro vì sức ép tăng chi phí

vốn và cách tốt nhất là phải tối thiểu hố chi phí hoạt động. Nguồn ngắn hạn

thì có chi phí thấp nhưng lại kém ổn định trong khi đó nguồn dài hạn có chi

phí cao nhưng tính ổn định lài tốt hơn. Do đó căn cứ vào chiến lược mỗi giai

đoạn, tình hình thị trường để đề ra chính sách và mức lãi suất hợp lý.



Việc xác định chi phí huy động vốn là việc làm rất hữu ích cho ngân hàng để từ

đó xây dựng chính sách kinh doanh có hiệu quả. Các ngân hàng thường xác định chi

phí huy động vốn thơng qua chỉ tiêu: chi phí trả lãi bình qn và chi phí phi lãi bình

qn:





Chi phí trả lãi bình qn =







Chi phí phi lãi bình qn =



1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương

mại.

1.4.1. Yếu tố nội tại của Ngân hàng thương mại

1.4.1.1. Công nghệ Ngân hàng

Trong thời đại kinh tế thị trường công nghệ thông tin bùng nổ giúp cho nền

cơng nghệ ngân hàng có nhiều thay đổi to lớn. Các hoạt động ngân hàng ngày nay

đều được ứng dụng các cơng nghệ mới. Có thể nói hoạt động của ngân hàng là hoạt

động không thể tách rời khỏi sự phát triển của công nghệ, nhất là công nghệ thông

tin. Công nghệ mang lại nhiều cơ hội và sự cải tiến trong đổi mới quy trình nghiệp

vụ, cách thức phân phối sản phẩm, nâng cao chất lượng quản lý, nghiệp vụ, phát

triển các sản phẩm mới,… Một trong những ưu điểm dễ nhận thấy nhất khi thực

33



34



hiện các hoạt động thơng qua cơng nghệ ngân hàng đó là tăng cường khả năng huy

động vốn, rút ngắn thời gian giao dịch, đảm bảo độ chinh xác, tra cứu nhanh gọn,

tiện lợi,… Từ đó sẽ làm hài lòng và thu hút nhiều khách hàng, tăng thu nhập và uy

tín, nâng cao vị thế ngân hàng. Tuy nhiên nó cũng sẽ mang tới những thách thức đòi

hỏi các ngân hàng phải vượt qua.

1.4.1.2. Uy tín của Ngân hàng

Tâm lý của bất cứ ai khi gửi tiền đó là chọn những ngân hàng lớn, có uy tín

đã được khẳng định lâu năm. Điều này là dễ hiểu bởi nỗi lo về sự an tồn khi giao

phó số tiền vốn của mình cho người khác đặc biệt trong tình hình kinh tế đầy biến

động như hiện nay thì những rủi ro ln tiềm ẩn. Đối với ngân hàng uy tín thì độ rủi

ro sẽ thấp hơn và có độ đảm bảo hơn. Thực tế trong thời gian qua, mặc dù có nhiều

ngân hàng đẩy mức lãi suất huy động vốn lên rất cao nhưng nhiều người vẫn lựa

chọn những ngân hàng truyền thống, lâu đời, có uy tín lớn.

Chính vì vậy ngân hàng cần xây dựng được cho mình một hình ảnh riêng

trong lòng khách hàng. Khi hình ảnh đã được định vị, tiếng tăm lan xa, uy tín vững

mạnh sẽ có lợi thế khi huy động vốn. Khơng những thế nó còn giúp ngân hàng có

sự ổn định, giữ vững khối lượng huy động vốn và tiết kiệm được rất nhiều chi phí.

Thậm chí khi ngân hàng đã có được niềm tin của khách hàng, việc lãi suất có thể

thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh nhưng vẫn giữ được khách hàng tìm tới bởi sự an

tồn được đánh giá quan trọng hơn so với lãi suất tiền gửi.

1.4.1.3. Phương hướng và chiến lược kinh doanh từng thời kỳ

Chiến lược kinh doanh tại NHTM sẽ quyết đinh và chi phối mọi hoạt động

của ngân hàng nói chung, trong đó có hoạt động huy động vốn. Chiến lược kinh

doanh mỗi thời kỳ đưa ra nhằm thực hiện mở rộng hoặc thu hẹp quy mô huy động

vốn hay thay đổi tỷ trọng nguồn vốn huy động, điều chỉnh mức lãi suất,… Với mỗi

chiến lược khác nhau, ngân hàng sẽ đưa ra các chính sách khác nhau, ví dụ như

chiến lược tăng cường vốn tiền gửi tiết kiệm, để thực hiện hiệu quả sẽ phải đẩy lãi

34



35



suất tiền gửi tiết kiệm lên cao. Nếu chiến lược kinh doanh đúng đắn, NHTM sẽ khai

thác được nguồn vốn mong muốn, đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả cao.

1.3.1.4. Chính sách lãi suất

Lãi suất huy động là mối quan tâm của tất cả các cá nhân hay tổ chức kinh tế

nào đó khi thực hiện hoạt động gửi tiền. Bởi suy cho cùng thì tất cả mọi người khi

gửi tiền vào ngân hàng đều mong muốn thu được mức tiền lãi càng lớn càng tốt.

Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, ngành nào có lợi nhuận cao hơn thì bao giờ

cũng sẽ thu hút được nhiều người tham gia đầu tư. Để cạnh tranh và thu hút được

nhiều khách hàng, tăng khả năng huy động vốn, đáp ứng được nhu cầu của mình thì

buộc các ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất hợp lý. Tuy nhiên khơng phải cứ đưa

ra lãi suất cao thì kết quả kinh doanh sẽ có nhiều lợi nhuận do tăng được lượng vốn

vì một mức lãi suất cao sẽ kéo theo việc gia tăng chi phí. Như vậy, yêu cầu đặt ra

đối với các NHTM đó là phải đưa ra mức lãi suất đủ cao, hấp dẫn hơn so với đối thủ

cạnh tranh để thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng mình nhưng cũng phải

đảm bảo để khơng làm tăng lãi suất cho vay vì có thể làm giảm lợi nhuận chung.

Ngoài ra, mức lãi suất được quyết định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

mặt bằng lãi suất trên thị trường, mức lãi suất tối ưu mà ngân hàng mong muốn, các

quy định của Nhà nước về lãi suất cho vay, tỷ giá, tỷ lệ lạm phát,… Do đó việc

tính tốn mức lãi suất cần có kế hoạch chi tiết, cụ thể và không hề đơn giản để có

thể đưa ra được mức lãi suất hợp lý, linh hoạt.

1.4.1.5. Chính sách sản phẩm và khách hàng

Ngày nay các ngân hàng đều xây dựng cho mình các chính sách sản phẩm rất

đa dạng. Sản phẩm huy động vốn đa dạng với nhiều kỳ hạn và loại tiền khác nhau

giúp tăng cơ cấu vốn huy động. Ngân hàng áp dụng nhiều sản phẩm huy động vốn

là cách để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, thu hút được nhiều tiền gửi hơn.

1.4.1.6. Trình độ năng lực của nhân viên

35



36



Ngày nay chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng để đánh giá doanh nghiệp

cũng như ngân hàng. Sự cạnh tranh quyết liệt trong thời buổi kinh tế hội nhập, ngày

càng có nhiều đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp đòi hỏi mỗi ngân hàng phải

hồn thiên và nâng cao về mọi mặt. Trình độ truyên mơn của nhân viên và thái độ

phục vụ có ảnh hưởng trực tiếp tới sự hài lòng của khách hàng khi đến với ngân

hàng. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về trình độ, năng lực và thái độ

phục vụ là khơng có giới hạn, do vậy đây là yếu tố luôn luôn mở rộng, là điểm

mạnh để các ngân hàng vươn lên trong cạnh tranh. Đội ngũ nhân viên có trình độ

cao, tác phong nhanh nhẹn, thao tác chính xác, thái độ niềm nở, thân thiện sẽ gây

được thiện cảm để khách hàng tiếp tục đến trong những lần tiếp theo.

1.4.2. Yếu tố bên ngoài các Ngân hàng thương mại

1.4.2.1. Các chính sách quy định của nhà nước.

Các NHTM cần phải tuân thủ chặt chẽ những quy định của nhà nước. Chính

sách kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến các chủ trương và phương hướng

trong mọi hoạt động của ngân hàng trong đó khơng thể thiếu đó là hoạt động huy

động vốn. Ngân hàng thương mại khi xây dựng các chiến lược kinh doanh của mình

cần phải dựa trên cơ sở tuân thủ pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mơ của Nhà

nước. Các chính sách chi phối trực tiếp như chính sách tiết kiệm, chính sách lãi

suất.

Bên cạnh đó, ngân hàng nhà nước điều hành chính sách tiền tệ có tác động

tới các hoạt động của các NHTM. Ngân hàng nhà nước phối hợp chặt chẽ với các

chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm ổn định, thúc đẩy và phát triển thị trường tiền

tệ, tạo điều kiện để các NHTM có môi trường thuận lợi. Việc xây dựng một môi

trường pháp lý lành mạnh, rõ ràng, chặt chẽ cùng những cơ chế thơng thống, tạo

điều kiện cho ngân hàng phát triển cũng là một nhân tố quan trọng góp phần tăng

cường hiệu quả huy động và sử dụng vốn của các NHTM.

1.4.2.2. Mơi trường kinh tế, chính trị, xã hội

36



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×