Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động cho vay KHCN

Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động cho vay KHCN

Tải bản đầy đủ - 0trang

48

trong số các chi nhánh ngân hàng BIDV tại Quảng Ninh.

- Thu nhập từ hoạt động cho vay KHCN tăng về doanh số qua các năm góp

phần tăng thu nhập cho tồn Chi nhánh.

- Chi nhánh ln tích cực phát triển và hoàn thiện mạng lưới hoạt động để nâng

cao khả năng phục vụ khách hàng.

- BIDV chi nhánh Hạ Long có một danh mục sản phẩm cho vay KHCN đầy đủ

theo thông lệ thị trường gồm: Cho vay nhu cầu nhà ở, cho vay mua ơtơ, cho vay tín

chấp tiêu dùng, thấu chi tài khoản, cho vay du học, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố

giấy tờ có giá, thẻ tiết kiệm, chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay cá nhân, hộ sản xuất

kinh doanh, cho vay ứng trước chứng khoán, cho vay (đối với cán bộ viên chức) mua

cổ phiếu phát hành lần đầu trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá.

- So với các ngân hàng khác trên trị trường, các sản phẩm cho vay tiêu dùng tín

chấp của BIDV Hạ Long tương đối cạnh tranh về mức cho vay, lãi suất và điều kiện

vay vốn. Hiện tại, hạn mức cho vay tối đa đối với 01 khách hàng của BIDV (500

triệu) đang tương đương với Vietinbank, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

(ACB) và cao hơn một số ngân hàng như Vietcombank (300 triệu), Sacombank (300

triệu) và VP Bank (250 triệu),...

- Chính sách giá phí: BIDV Hạ Long ln là NHTM đi đầu trong việc thực hiện

các chính sách tài chính tín dụng của Nhà nước vì vậy chính sách lãi suất và phí cho

vay KHCN của BIDV Hạ Long ln tn thủ đúng quy định của NHNN và ở trong

nhóm các NHTM có lãi suất, phí cạnh tranh nhất.

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân



 2.3.2.1. Hạn chế

- Quy mô dư nợ KHCN tuy có tăng nhưng nhìn chung còn chậm và chưa ổn

định, hoạt động mở rộng cho vay KHCN chưa đạt hiệu quả tốt nhất.

Mặc dù Chi nhánh đã đầu tư nguồn lực đối với cho vay KHCN nhưng dư nợ cho

vay KHCN còn chưa thực sự tương xứng với lợi thế và tiềm năng của BIDV và của

Chi nhánh. Trong năm 2015, tuy có rất nhiều những yếu tố tích cực tác động đến

nhưng dư nợ tín dụng bán lẻ còn thấp (15%/Tổng dư nợ), so với các NHTM cổ phần

khác tỷ lệ là 25% thì tỷ lệ của Chi nhánh mới được một phần hai. Chất lượng cho vay



49

KHCN của Chi nhánh chưa tốt, tỷ lệ nợ quá hạn là 4% vẫn ở mức khá cao so với các

Ngân hàng bán lẻ hiện nay như ACB, Techcombank. Số lượng khách hàng lớn nhưng

mức dư nợ trên một khách hàng là thấp và các khách hàng này chỉ sử dụng sản phẩm

tín dụng mà ít sử dụng thêm các sản phẩm khác của chi nhánh dẫn đến hạn chế nguồn

thu khi lãi suất cho vay biến động, so với dân số trên địa bàn thì số lượng khách hàng

này là rất nhỏ bé. Việc xây dựng sản phẩm không thực sự gắn với đặc điểm của

KHCN và từng phân đoạn khách hàng nên hiệu quả sản phẩm đem lại không cao.

Thực tế cho thấy dư nợ KHCN đã có sự cải thiện qua các năm nhưng vẫn chiếm

tỷ lệ rất nhỏ. Dẫn đến tình trạng hoạt động cho vay KHCN tốn nhiều chi phí quản lý

món vay hơn là cho vay sản xuất kinh doanh. Đặc biệt khoản cho vay KHCN lại hàm

chứa nhiều rủi ro hơn do phụ thuộc nhiều vào ý thức trả nợ của người vay, vào thu

nhập của họ trong tương lai.

- Sản phẩm cho vay KHCN chi nhánh đang triển khai chưa tạo được dấu ấn

riêng của BIDV, một số sản phẩm chưa thực sự tối ưu và đem lại tiện ích cho khách

hàng so với các Ngân hàng khác.

Tuy đã từng bước cải tiến trong đầu tư nghiên cứu sản phẩm và hồn thiện

nhưng danh mục sản phẩm cho vay KHCN còn khá hạn hẹp, chưa tạo được sự khác

biệt và tính cạnh tranh cao trên thị trường, cũng như chưa phát triển bao quát hết được

nhu cầu thị trường. Cụ thể như sau:





Đối với sản phẩm cho vay mua, sửa chữa nhà: sản phẩm này phát triển



rất hẹp, số lượng khách hàng ít và nhỏ lẻ. Hơn nữa thực tế triển khai sản phẩm cho

vay KHCN tại chi nhánh còn thiếu sức cạnh tranh, điều này thể hiện:





Thời gian cho vay tối đa ít hơn các Ngân hàng khác. Tại BIDV sản



phẩm cho vay mua nhà chung cư, đất dự án tối đa là 15 năm, trong khi đó, các Ngân

hàng khác tối đa là 20 năm thậm chí có Ngân hàng lên tới 25 năm.





Tỷ lệ cho vay tối đa là 70% giá trị tài sản đảm bảo theo định giá của



BIDV. Trong khi đó Ngân hàng khác tỷ lệ này cao hơn: NHTM CP Phương Nam tỷ lệ

này lên tới 95% giá trị tài sản thế chấp.



50





Đối với sản phẩm cho vay mua nhà đất thông thường: mức cho vay và



thời hạn cho vay tối đa thấp: cho vay tối đa 50% tổng nhu cầu vốn, thời gian cho vay

tối đa là 5 năm. Đây được coi là trở ngại lớn để có thể phát triển loại sản phẩm này.





Mặt khác, các yêu cầu về tài sản đảm bảo và thủ tục thế chấp tài sản còn



phức tạp, chưa linh động với từng đối tượng khách hàng.





Đối với sản phẩm mua ơ tơ trả góp: Đối với sản phẩm này chi nhánh



phát triển không cao so với nhu cầu của địa bàn, dư nợ không cao, số lượng khách

hàng khơng nhiều. Có trường hợp đang có dư nợ mua ô tô trả góp lại mua tại các

salon ô tô trên địa bàn khác. Điều này thể hiện khâu tiếp thị, bán sản phẩm trên đại

bàn còn bộc lộ nhiều hạn chế.

Như vậy, so với các Ngân hàng khác, mức cho vay, thời hạn cho vay, và các điều

kiện khác của sản phẩm ít khă năng cạnh tranh hơn, chưa thoả mãn tốt nhu cầu của

khách hàng.

- Đối tượng cho vay KHCN của Chi nhánh còn hạn hẹp, chi nhánh mới chỉ tập

trung cho vay đối với KHCN có thu nhập cao và các cán bộ công nhân viên của hệ thống.

Các sản phẩm của BIDV tập trung nhiều vào nhóm khách hàng có thu nhập cao,

khơng có sản phẩm nào phục vụ cho khách hàng ở khu vực nông thôn. Trong khi các

Ngân hàng đã bắt đầu mở rộng thị phần sang khu vực mới mẻ này.

Khách hàng tìm đến Ngân hàng chủ yếu là khách hàng nhỏ lẻ và tự tìm hay do

người giới thiệu, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng bởi những

khách hàng tự tìm đến chi nhánh có thể do họ đã bị Ngân hàng khác từ chối, hơn nữa

điều này chứng tỏ chi nhánh đang còn thụ động trong việc tìm kiếm khách hàng để

cho vay.

Đối tượng cho vay vốn của Ngân hàng chỉ tập trung chủ yếu vào một số khách

hàng có quan hệ giao dịch với Ngân hàng và những khách hàng này thường là những

người có thu nhập khá cao. Còn với loại hình cho vay tín chấp thì khách hàng chủ yếu

là CBNV của Ngân hàng, của các chi nhánh BIDV và một số trường hợp đặc biệt

khác. Mặt khác, trong quá trình tiếp cận khách hàng mới, chi nhánh còn đặt nặng mối

quan hệ của khách hàng vay mà chưa quan tâm khai thác đến tầng lớp khách hàng là



51

cán bộ nhân viên, lãnh đạo ở các doanh nghiệp lớn, có nguồn thu nhập ổn định với

nhu cầu vay vốn rất lớn.

- Về cơ bản Chi nhánh vẫn chưa cung cấp được nhiều lợi ích đi kèm sản phẩm

cho vay đối với KHCN, chưa chú trọng đến gia tăng ứng dụng công nghệ ngân hàng

hiện đại cho khách hàng.

Lợi ích của khách hàng được hưởng thêm chỉ dừng lại ở mức mở tài khoản miễn

phí trong khi đó trên thị trường nhiều Ngân hàng đã rất chú trọng đến các lợi ích gia

tăng cho khách hàng, đem lại sự tin tưởng và thích thú cho khách hàng. Ví dụ

Techcombank còn mua tặng bảo hiểm nhân thọ “an tâm tiêu dùng” cho khách hàng

khi khách hàng sử dụng sản phẩm “cho vay tiêu dùng trả góp”.

Chi nhánh chưa đưa ra được nhiều sản phẩm cho vay kết hợp với các sản phẩm

khác. Hiện tại, sự cạnh tranh sôi động trên thị trường cho vay KHCN tại Quảng Ninh

nói riêng và Việt Nam nói chung là sự tham gia của các Ngân hàng nước ngoài với

truyền thống và kinh nghiệm bán lẻ hàng đầu thế giới như HSBC, ANZ, Standard

Chartered Bank,... các Ngân hàng nước ngoài với thế mạnh về công nghệ, kinh

nghiệm, chất lượng dịch vụ đang dần thu hút được sự quan tâm cuả khách hàng vay

vốn, trong khi Chi nhánh chưa có những sản phẩm cho vay gắn với lợi ích của khách

hàng để tạo nên sự khác biệt.

- Dư nợ cho vay KHCN khơng có tính bền vững cao, chịu ảnh hưởng lớn của

chính sách quản lý của NHNN. Lợi nhuận thu được từ cho vay KHCN nói chung và

cho vay trung dài hạn còn khiêm tốn.

Có thể thấy, trong những năm gần đây tình hình tín dụng của chi nhánh đạt kết

quả tốt, mặc dù con số tuyệt đối tăng dần nhưng tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín

dụng trên tổng lợi nhuận lại tăng với tốc độ không đáng kể, đặc biệt tỷ lệ cho vay

trung hạn còn khá thấp trong tổng dư nợ cho vay KHCN. Điều này cho thấy các sản

phẩm cho vay đối với KHCN chưa thực sự đa dạng về kỳ hạn và chất lượng hoạt động

cho vay này của chi nhánh chưa thực sự tốt, và chưa được khai thác triệt để.

- Công tác quản lý khi cấp tín dụng có nhiều khó khăn khi khoản vay có đảm

bảo bằng tiền lương, chứng minh nguồn thu nhập để trả nợ.



52

Khâu xử lý hồ sơ vay đã được đơn giản hóa nhiều, tuy nhiên vẫn có những

trường hợp thời gian xử lý còn bị kéo dài, gây tâm lý không tốt cho khách hàng. Năng

lực quản trị rủi ro, năng lực kiểm soát và tự kiểm sốt các hoạt động tín dụng bán lẻ

còn chưa cao để phòng tránh các rủi ro đạo đức và rủi ro tác nghiệp. Vấn đề chứng

minh thu nhập của cá nhân khi tính tốn phương án vẫn chưa thực sự thống nhất giữa

các bộ phận, phòng ban. Các cán bộ QHKHCN nhiều khi xét duyệt khoản vay vẫn

làm việc dựa trên những dự đốn vì ít có cơ sở để so sánh một cách chính xác về

thơng tin khách hàng cung cấp và nhu cầu thực sự của họ.

Ngân hàng hiện vẫn chưa đưa ra được giải pháp để quản lý các khoản vay lương

một cách hiệu quả. Một số cơ quan quản lý lao động xác nhận cho cán bộ, nhân viên

của mình vay vốn cùng lúc tại nhiều TCTD khác nhau, mà không thông báo hoặc

thông báo không kịp thời việc cán bộ, nhân viên chuyển công tác hoặc thơi việc dẫn

đến khó khăn trong thu hồi nợ. Có một số trường hợp, khoản tín dụng đã được bảo

lãnh của cơ quan, nhưng Ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn khi người trả thay khơng

có thiện chí trả nợ.

 2.3.2.1. Nguyên nhân





Các nhân tố chủ quan







Quan điểm nhận thức



Nhận thức, quan điểm đối với hoạt động Ngân hàng bán lẻ nói chung và hoạt

động cho vay KHCN nói riêng chưa thực sự được quán triệt đầy đủ và tập trung cao

độ ở hầu hết các cấp điều hành trong hệ thống Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam nói

chung và tại các Chi nhánh, trong đó có Chi nhánh Hạ Long. Mặc dù thực tế phát triển

của các Ngân hàng cho thấy hoạt động Ngân hàng bán lẻ là cơ sở để tạo lập một nền

khách hàng vững chắc và mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng và phù hợp với xu

hướng phát triển chung của các Ngân hàng hiện đại trên thế giới. Tuy nhiên vẫn còn

tồn tại quan điểm chỉ coi trọng cho vay đối tượng khách hàng doanh nghiệp, tài trợ dự

án,… mà xem nhẹ việc cho vay đối với KHCN , hộ gia đình. Lý do được đưa ra đó là

việc cùng một khách hàng, cùng giải quyết một bộ hồ sơ, với thời gian tương đương

nhau thì cho vay doanh nghiệp thơng thường chun nghiệp hơn cá nhân, tài trợ một

dự án có thể lên tới vài trăm tỷ đồng trong khi đó cho vay một cá nhân chỉ có vài chục



53

triệu, mặt khác việc quản lý nhiều cá nhân làm cho cán bộ tốn nhiều thời gian hơn.

Cán bộ QHKH khi xử lý hồ sơ cho vay KHDN sẽ sử dụng được nhiều kiến thức và

học hỏi được kinh nghiệm và cũng không thể phủ nhận rằng quản lý khoản vay của

các doanh nghiệp được thực hiện bài bản hơn. Do vậy cán bộ thường ngại khi phải

cho cá nhân vay vốn do đó là yếu tố làm hạn chế việc mở rộng hoạt động cho vay

KHCN.





Chính sách phát triển cho vay KHCN tại chi nhánh chưa cụ thể và hiệu



quả, mức độ đầu tư cho việc mở rộng hoạt động cho vay KHCN còn hạn chế.

Định hướng phát triển Ngân hàng bán lẻ hiện đại cũng như phát triển các dịch vụ

đa dạng nhiều tiện ích nói chung và việc phát triển các sản phẩm cho vay KHCN nói

riêng cần có kế hoạch, chiến lược cụ thể, rõ ràng. Tuy nhiên, hiện tại Chi nhánh vẫn

chưa đề ra được kế hoạch hiệu quả, chiến lược cụ thể để phát triển hoạt động cho vay

đối với KHCN và cũng chưa có các giải pháp sát sao để triển khai thực hiện các mục

tiêu mở rộng cho vay KHCN trong ngắn hạn. Việc phát triển các dịch vụ ngân hàng

bán lẻ và tín dụng bán lẻ đang được thực hiện một cách tự phát tại các Phòng giao

dịch, Phòng Quan hệ KHCN… với mục tiêu tăng trưởng dư nợ mà chưa có kế hoạch

khai thác thị trường trong tương lai.

Cũng có thể nhận thấy do chi nhánh đang còn gặp khó khăn trong khâu xử lý nợ,

cơ sở vật chất còn yếu, quy mơ hoạt động nhỏ, hệ thống cơng nghệ thơng tin còn yếu,

đội ngũ cán bộ còn non trẻ chưa có kinh nghiệm triển khai các dịch vụ bán lẻ, chưa

thích nghi được với cơ chế thị trường, khả năng phân tích thị trường và tổng hợp còn

hạn chế. Về một khía cạnh cụ thể, Chi nhánh đang thiếu chiến lược kinh doanh dài

hạn bền vững cũng như chưa quan tâm thích đáng đến đối tượng khách hàng này. Hơn

nữa chi nhánh cũng chưa có phương pháp thực thi chiến lược cho KHCN thông qua

việc phối hợp giữa các hoạt động Marketing, quản lý bán hàng, sắp xếp nhân sự.

Toàn hệ thống Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam đã và đang thực hiện chuyển đổi

mơ hình tổ chức kinh doanh theo mơ hình mới, tại Hội sở chính và một số Chi nhánh

đã tách bạch các bộ phận tham mưu, quản lý hoạt động Ngân hàng bán lẻ. Hiện tại,

Chi nhánh Hạ Long có bộ phận chun thực hiện hoạt động cấp tín dụng bán lẻ

(Phòng, Tổ quan hệ KHCN) độc lập, tuy nhiên việc bố trí cán bộ QHKHCN vẫn còn

kiêm nhiệm trong quá trình tác nghiệp dẫn đến nhiều hạn chế trong công tác mở rộng



54

cho vay KHCN cả về phát triển quy mô cho vay cá nhân cũng như nâng cao chất

lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng tín dụng bán lẻ.





Sản phẩm dịch vụ cung cấp cho KHCN chưa có tính hấp dẫn so với các



sản phẩm tương tự khác của Ngân hàng khác trên cùng địa bàn.

Về cơ bản, danh mục sản phẩm cho vay đối với KHCN hiện có của Ngân hàng

ĐT&PT Việt Nam nói chung và Chi nhánh nói riêng tương đối đầy đủ tuy nhiên chưa

có tính hấp dẫn hơn do các điều kiện vẫn tương đối chặt chẽ so với các NHTM khác:

về tỷ lệ cho vay, các NHTM khác cho vay thông thường là 70%, thậm chí lên đến

90% nhu cầu vay, tuy nhiên tại BIDV chỉ từ 50-60% nhu cầu vay tùy từng sản phẩm,

mức cho vay khơng có bảo đảm của BIDV thấp và chỉ tập trung vào số ít đối tượng là

cán bộ nhà nước, quy trình thủ tục đơi khi còn phức tạp, qua nhiều khâu nhiều cấp để

giải ngân. Nhiều khi một khoản vay cá nhân, nhu cầu vay vốn đang rất gấp nhưng Chi

nhánh xử lý bộ hồ sơ qua 3 cấp phê duyệt bắt đầu từ cấp quan hệ khách đến quản trị

rủi ro đến quản trị tín dụng rồi mới giải ngân dẫn đến khơng đáp ứng được nhu cầu

cho khách hàng, hình ảnh về sản phẩm chưa rõ nét, chưa tạo được dấu ấn riêng cho

các dòng sản phẩm cho vay KHCN của BIDV…





Trình độ công nghệ khoa học và công tác marketing khách hàng còn



chưa thực sự phát triển.

Trình độ cơng nghệ còn thấp, q trình hiện đại hố cơng nghệ và phát triển sản

phẩm, dịch vụ của Chi nhánh diễn ra còn chậm, chưa thể sánh ngang với các Ngân

hàng trong khu vực như: VCB, ACB, Techcombank …đặc biệt là các Ngân hàng nước

ngồi. Bên cạnh đó việc quản lý lưu trữ hồ sơ và cá thơng tin về khách hàng còn chưa

thuận tiện, gây khó khăn trong việc tra cứu cũng như xem xét thông tin của khách

hàng. Chi nhánh chưa có một hệ thống phần mềm lưu trữ hồ sơ, thơng tin khách hàng

hiện đại, có nhiều khách hàng có quan hệ tín dụng từ những năm trước, khi vay mới

vẫn phải cung cấp hồ sơ mới ban đầu, tạo nên một hình ảnh khơng

Chính sách Marketing chưa đạt hiệu quả: chưa có kế hoạch dài hạn nghiên cứu

thị trường bao gồm nhu cầu của khách hàng, đối thủ cạnh tranh, đánh giá sản phẩm

Ngân hàng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như

mở rộng hoạt động của Ngân hàng. Chính sách quảng bá sản phẩm chưa được tuyên

truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và việc tham gia các hội thảo, tài trợ



55

trên địa bàn thành phố Hạ Long …để khẳng định hình ảnh chi nhánh đến người dân

chưa được chú ý. Trong khi đó nhiều chi nhánh khác trên địa bàn đã sớm nhận ra vai

trò quan trọng của Marketing như; ACB, Techcombank, Sacombank.





Nguồn nhân lực chuyên phục vụ KHCN còn hạn chế



Hiện nay, tại chi nhánh cán bộ kinh doanh có trình độ nghiệp vụ cơ bản tương

đối tốt, nhưng trình độ ngoại ngữ vẫn còn hạn chế. Hơn nữa do đội ngũ cán bộ

QHKHCN còn quá trẻ (hầu hết là vừa tốt nghiệp được 1- 4 năm) nên chưa có kinh

nghiệm trong xử lý các tình huống giao dich với khách hàng. Trong khi đó đối với

KHCN, mỗi cán bộ Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc Marketing các sản

phẩm Ngân hàng. Hơn nữa, Chi nhánh vẫn chưa tách bạch công việc của cán bộ

QHKH, cán bộ QHKH cá nhân thực hiện thao tác trong suốt q trình cho vay. Ở các

phòng giao dịch số lượng cán bộ KHCN ít, dẫn đến mỗi cán bộ quản lý quá nhiều

khách hàng. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến khâu kiểm soát trong và sau của quá

trình cho vay và dư nợ. Hạn chế này sẽ dẫn đến chi nhánh không đáp ứng được nhu

cầu của các khách hàng tiềm năng.

- Kỹ năng bán hàng trong hoạt động Ngân hàng bán lẻ nói chung và hoạt động

cho vay đối với KHCN nói riêng còn nhiều hạn chế.

- Chất lượng phục vụ còn chưa đồng bộ. Cơng tác tiếp xúc và giới thiệu sản

phẩm cho vay đối với KHCN chưa thực sự được chú trọng. Cán bộ chưa tạo dựng

được phong thái làm việc chuyên nghiệp, chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng bán

hàng, thuyết phục khách hàng, thiếu chủ động trong việc giới thiệu sản phẩm và bán

chéo sản phẩm Ngân hàng.

- Khả năng phân tích, đưa ra quyết định của một bộ phận cán bộ còn nhiều yếu

kém, dẫn đến việc cho vay đối với khách hàng không tốt làm phát sinh nợ xấu của Chi

nhánh. Bên cạnh đó, việc kiểm tra, giám sát khách hàng vay chưa được chú trọng dẫn

tới không bám sát khách hàng, dễ dẫn tới các rủi ro trong hoạt động tín dụng.

- Đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực tín dụng nói chung và đặc biệt cho vay đối

với KHCN là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên,

đạo đức nghề nghiệp trong ít số bộ phận cán bộ tín dụng còn chưa được coi trọng, dẫn

đến các sai lầm trong hoạt động tín dụng, làm giảm chất lượng tín dụng.



56

- Cơng tác thu thập thơng tin khách hàng còn chưa được quan tâm đúng mực mà

chỉ chú trọng đến tài sản đảm bảo dẫn tới khơng đánh giá hết tình hình khách hàng,

chưa khai thác tối đa hiệu quả khách hàng đem lại.





Các nhân tố khách quan







Môi trường kinh tế



Trong những gần đây, tình hình kinh tế có nhiều biến động, giá cả hàng hoá

liên tục gia tăng, lãi suất huy động và cho vay cũng liên tục thay đổi,.... Nền kinh tế

ln duy trì tốc độ tăng trưởng nhưng chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tăng khối

lượng các nguồn nhân lực, tăng vốn đầu tư chứ chưa tập trung tăng cao năng suất lao

động, nâng cao hiệu quả lao động nên chất lượng tăng trưởng thấp và chưa thật vững

chắc. Do có những biến động mặc dù Nhà nước Việt Nam đã cố gắng nhưng đơn giá

tiền lương của các CBNV hiện nay chưa cao, khó thực hiện tái sản xuất sức lao động.

Nếu họ có nhu cầu vay vốn thì cán bộ tín dụng của Chi nhánh cũng e ngại do ý thức

và khả năng trả nợ khơng cao, thu nhập lại khơng được thanh tốn qua tài khoản Ngân

hàng do đó nếu họ khơng đến trả nợ, Chi nhánh sẽ khó khăn trong việc thu hồi nợ.

Tình hình biến động về lãi suất, giá vàng, giá ngoại tệ diễn ra theo từng giai

đoạn của nền kinh tế ...đang tác động mạnh mẽ đến hoạt động của các Ngân hàng.

Phát triển tín dụng trong bối cảnh như thế này là một bước đi mạo hiểm buộc các

Ngân hàng phải có những chính sách phát triển linh hoạt, tăng trưởng hay thắt chặt tín

dụng, mở rộng cho vay theo từng đối tượng khách hàng trong từng giai đoạn nhất định

để đảm bảo an tồn.

Thói quen và tập qn trong tiêu dùng của người Việt Nam là tiết kiệm, tích luỹ

đủ thì mới chi tiêu. Hầu hết các cá nhân cho rằng vay Ngân hàng là không tốt, họ

không muốn ai biết mình phải đi vay Ngân hàng, thậm chí khơng muốn để lộ ra là

mình đi vay. Bởi người Việt Nam có quan niệm rằng làm ăn khơng tốt mới đi vay.

Ngay cả tầng lớp trí thức, có mức thu nhập cao cũng chưa quen với việc chi tiêu

trước, trả tiền sau, đáp ứng ngay nhu cầu tiêu dùng hiện tại bằng các khoản thu nhập

trong tương lai. Trong số những người sử dụng dịch vụ Ngân hàng thì có 61% là do

người quen giới thiệu, do đó người dân ít có mối quan hệ với Ngân hàng.



57

Hơn nữa, phần lớn các doanh nghiệp vẫn thực hiện trả lương bằng tiền mặt. Số

lượng các doanh nghiệp thực hiện trả lương qua tài khoản không nhiều. Điều này làm

hạn chế để phát triển sản phẩm cho vay KHCN sử dụng nguồn trả nợ là lương.





Môi trường pháp lý chưa đồng bộ



Hoạt động cho vay KHCN trên thế giới phát triển là do các nước này đã xây

dựng được một hệ thống Luật pháp đồng bộ và rõ ràng. Ở Việt Nam mơi trường pháp

luật còn chưa hồn thiện hoặc cách thức thi hành còn chưa đảm bảo tính thời gian,

tính nghiêm minh gây rủi ro đối cho Ngân hàng. Ví dụ:

- Khó khăn vướng mắc trong việc nhận TSĐB nợ vay: Nghị định 163/2006/NĐCP ngày 29/12/2006 quy định về đảm bảo tiền vay của các TCTD: TSĐB nợ vay phải

được xác định giá trị tại thời điểm ký hợp đồng đảm bảo. Do đó, đối với tài sản hình

thành trong tương lai thì khơng xác định được giá trị tài sản tại thời điểm ký kết hợp

đồng tín dụng vì khi đó tài sản chưa hình thành. Điều này gây trở ngại về việc tiếp cận

vốn vay cho những khách hàng mua nhà của các dự án hình thành trong tương lai,

hoặc mua ơ tơ trả góp mà dùng chính tài sản đó làm tài sản thế chấp.

- Trong việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo Nghị định số

83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ: Thời gian đăng ký trong 7 ngày và

cung cấp thông tin sau 3 ngày đối với các đăng ký giao dịch đảm bảo. Trong nhiều

trường hợp khách hàng có nhu cầu giải ngân sớm, với thời hạn, thủ tục đăng ký Ngân

hàng trên sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ tín dụng của Ngân hàng với khách hàng,

làm mất đi cơ hội kinh doanh cho Ngân hàng.

- Việc triển khai thực hiện các nội dung về đăng ký giao dịch bảo đảm tuân thủ

theo Bộ luật Dân sự, Nghị định 163/2006/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan của các cơ quan ban ngành liên quan chưa được thực hiện đồng bộ, thống

nhất. Tại một số nơi khi thực hiện đăng ký thế chấp, bão lãnh bằng quyền sử dụng đất,

tài sản gắn liền với đất không chứng thực kết quả thẩm tra với hợp đồng thế chấp, bảo

lãnh.

- Việc phát mại tài sản thế đòi hỏi khá nhiều thủ tục, thời gian và chi phí mà

Ngân hàng phải chịu rủi ro rất nhiều.



58

- Thêm vào đó vấn đề tố tụng trước tồ hiện nay còn kéo dài và qua nhiều giai

đoạn, dễ dàng tạo điều kiện cho con nợ có ý đồ, đồng thời gây thiệt hại cho Ngân

hàng. Thời gian tố tụng kể từ khi khởi kiện cho đến khi quyết định của toà án có hiệu

lực thi hành rồi cho đến khi phát mại được tài sản thu hồi nợ thường kéo dài gần một

năm, chưa kể trường hợp có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo điều 38 Pháp

lệnh thủ tục giải quyết các vụ án. Tình trạng này đã làm cho Ngân hàng chịu đọng vốn

trong lúc Ngân hàng phải chịu lãi suất huy động cho người gửi. Đây là thiệt hại lớn

cho Ngân hàng chưa kể chi phí phát sinh trong thủ tục tố tụng.





Sức cạnh tranh từ các NHTM khác



Nhận thấy tiềm năng to lớn của thị trường cho vay KHCN tại Việt Nam, các

NHTM nhà nước, cổ phần, chi nhánh các Ngân hàng nước ngoài đều hướng vào mục

tiêu đó, sự canh tranh diễn ra rất gay gắt.

Đầu tiên là sự cạnh tranh của các Ngân hàng nước ngồi. Ngày càng có nhiều

Ngân hàng nước ngồi vào Việt Nam. Lợi thế của họ là vốn lớn, có tiềm lực tài chính

và quản lý. HSBC đã được NHNN chính thức cho phép thành lập Ngân hàng con

100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, trở thành Ngân hàng nước ngoài đầu tiên tại Việt

Nam sở hữu 20% cổ phần tại một Ngân hàng trong nước sau khi nâng cổ phần sở hữu

tai Techcombank từ 14.4% lên 20%. Điều này cho phép HSBC mở rộng sức ảnh

hưởng và gia tăng tầm hoạt động của mình. Đặc biệt, tầng lớp có thu nhập cao, làm

việc tại các tổ chức nước ngoài sẽ có xu hướng chuyển sang vay vốn và sử dụng dịch

vụ Ngân hàng nước ngoài. Các Ngân hàng nước ngoài như HSBC, ANZ… cũng đã

thực hiện kế hoạch phục vụ KHCN tại Việt Nam trong một thời gian, khiến sức ép

cạnh tranh ngày càng gia tăng với các Ngân hàng nội. Những Ngân hàng nước ngoài

này hơn hẳn các NHTM trong nước về vốn, trình độ quản lý, nền tảng công nghệ và

đã thực sự trở thành những đối thủ cạnh tranh đáng gờm. Họ có thể chấp nhận chi phí

hoạt động cao để tạo ra những điều khoản ưu đãi, thu hút các khách hàng mới thiết lập

quan hệ với Ngân hàng mình. Kết quả của sự xuất hiện thêm nhiều Ngân hàng nước

ngoài làm cho thị phần cho vay cá nhân của Ngân hàng trong nước bị chia sẻ.

Ngoài ra, sự cạnh tranh với Ngân hàng trong nước cũng ngày một khắc nghiệt:

với xu thế cổ phần hoá hiện nay, hàng loạt các NHTM cổ phần ra đời và hoạt động rất

năng động luôn đưa ra được những sản phẩm đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường. Các



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động cho vay KHCN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×