Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHCN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHCN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng có thời hạn. Khi đến hạn, bên

vay có nghĩa vụ hồn trả vốn (tài sản) ban đầu và lãi suất.

Liên quan đến khái niệm về tín dụng, có các định nghĩa về hoạt động tín dụng,

cấp tín dụng, chúng ta cần phân biệt như sau:

- Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn

vốn huy động để cấp tín dụng dưới các hình thức khác nhau.

- Hoạt động cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử

dụng một khoản tiền với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,

cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác theo quy định của pháp

luật ngân hàng.





Bản chất và nguyên tắc



Về bản chất của tín dụng, hoạt động này mang các dấu hiệu đặc trưng như sau:

- Quan hệ tín dụng thiết lập trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm. Chủ thể tham gia

vào quan hệ này gồm ít nhất là 2 bên: bên cho vay và bên đi vay.

- Tín dụng là quan hệ chuyển giao để sử dụng có thời hạn.

- Hình thức pháp lý của hoạt động vay mượn giữa các bên được thể hiện thông

qua hợp đồng vay tài sản, thông thường, tài sản này được biểu hiện dưới dạng một

lượng tiền tệ nhất định. Như vậy, đối tượng của quan hệ tín dụng là vốn tiền tệ, trong

một số trường hợp khác có thể là tài sản (tín dụng th mua).

- Vốn là một “hàng hóa” đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Các quan hệ tín

dụng phát sinh từ nhu cầu về vốn của nền kinh tế.

Tín dụng phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản:

- Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích

- Nguyên tắc hạn chế rủi ro, khắc phục tổn thất.

- Nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi.

- Nguyên tắc cho vay phải bảo đảm





Phân loại



7

Dựa vào tính chất của quan hệ vay mượn, hoạt động tín dụng được phân biệt

thành: tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng quốc tế, tín dụng thương mại

(tín dụng hàng hóa).





Tín dụng ngân hàng:



Là quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng (tổ chức, các

doanh nghiệp và cá nhân… Trong đó, chủ thể cho vay là các tổ chức tín dụng, chủ thể

đi vay là cá nhân và các tổ chức.

Hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng ngân hàng có thể được thể hiện dưới

dạng:

+ Hợp đồng tín dụng ngân hàng

+ Hợp đồng thuê mua tài chính

+ Các thỏa thuận chiết khấu giữa ngân hàng và khách hàng

+ Các cam kết bảo lãnh giữa ngân hàng và khách hàng.





Tín dụng nhà nước:



Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng phát sinh trong quá trình nhà nước sử

dụng tạm thời vốn của các chủ thể khác trong xã hội.

Trong quan hệ này, nhà nước là người đi vay; các cá nhân, tổ chức khác là bên

cho vay. Mục đích của loại hình tín dụng này nhằm bù đắp bội chi ngân sách nhà

nước, bổ sung vốn cho đầu tư phát triển. Ngày nay, Chính phủ hạn chế việc bù đắp bội

chi ngân sách nhà nước bằng động thái phát hành tiền. Thay vào đó, chính phủ có thể

thơng qua hoạt động tín dụng nhà nước để vay của nhân dân dưới hình thức phát hành

các loại tín phiếu, trái phiếu kho bạc nhà nước để huy động vốn của các cá nhân, các

tổ chức. Trường hợp thiếu nguồn vốn đầu tư, Chính phủ phát hành trái phiếu Chính

phủ, cơng trái để huy động vốn.





Tín dụng quốc tế:



Là quan hệ sử dụng vốn tạm thời theo ngun tắc có hồn trả, phát sinh giữa

chính phủ, tổ chức kinh tế nước này với chính phủ, tổ chức kinh tế nước khác hoặc

với các tổ chức tài chính quốc tế, nhằm thỏa mãn nhu cầu bù đắp thiếu hụt ngân sách

nhà nước hoặc nhu cầu vốn kinh doanh.



8





Tín dụng thương mại: (Tín dụng hàng hóa)



Là quan hệ tín dụng giữa thương nhân với thương nhân khác thơng qua hình

thức mua bán chịu hàng hóa (mua hàng trả chậm), dựa trên cơ sở hối phiếu. Tín dụng

thương mại còn gọi là tín dụng hàng hóa vì đối tượng của tín dụng thương mại là hàng

hóa, dịch vụ.

Đây là loại tín dụng trực tiếp giữa người mua và người bán không qua trung gian

là ngân hàng và khơng phải trả các chi phí dịch vụ, lãi suất thấp. Đối tượng của tín

dụng thương mại là hàng hố. Cơ cở của tín dụng thương mại là hối phiếu

Dựa theo thời hạn tín dụng, tín dụng được phân biệt thành tín dụng ngắn hạn,

trung hạn và dài hạn

- Thời hạn tín dụng được hiểu là khoản thời gian từ thời điểm người đi vay nhận

vốn vay để sử dụng vào mục đích vay cho đến thời hạn phải trả nợ cả vốn lẫn lãi theo

hợp đồng tín dụng.

- Theo pháp luật hiện hành, thời hạn tín dụng bao gồm:





Ngắn hạn tối đa 12 tháng.







Trung hạn 12 tháng-5 năm.







Dài hạn: trên 5 năm



 1.1.1.3. Tín dụng NHTM

Tín dụng NHTM là một khái niệm rất cơ bản trong lĩnh vực tài chính - ngân

hàng. Theo các mục đích khác nhau, khái niệm này có thể được tiếp cận dưới các góc

độ khác nhau, từ khía cạnh đơn giản đến tồn diện, từ góc độ lý thuyết đến quan điểm

ứng dụng... Xuất phát gốc từ khái niệm tín dụng, có thể bao gồm nhiều loại tín dụng

khác nhau như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng Nhà nước, tuy

nhiên trong giới hạn của vấn đề nghiên cứu, ở đây chỉ trình bày khái niệm tín dụng

NHTM qua những nội dung cơ bản đã được đề cập trong Luật các Tổ chức tín dụng.

Tín dụng NHTM bao gồm các nội dung sau:

- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ đối tượng sở hữu (NHTM) sang

đối tượng sử dụng (khách hàng). Sự chuyển nhượng vốn này xuất phát từ nguyên tắc



9

hoàn trả, NHTM khi chuyển giao vốn cho khách hàng sử dụng phải có cơ sở để tin

rằng khách hàng sẽ hoàn trả đúng thời hạn dựa trên việc đánh giá mức độ tín nhiệm

của ngân hàng.

- Sự chuyển nhượng vốn là có thời hạn

- Sự chuyển nhượng vốn có kèm chi phí

Như vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ

thể khác trong xã hội. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong

quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế khác, ngân hàng có thể vừa là người đi vay,

vừa là người cho vay.

Với tư cách là người đi vay, ngân hàng huy động vốn dưới hình thức nhận tiền

gửi của các chủ thể kinh tế, các cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu,

trái phiếu ngân hàng.

Với tư cách là người cho vay, ngân hàng cấp tín dụng đáp ứng kịp thời vốn cho

quá trình sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, cá nhân, từ đó

góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất lưu thơng hàng hóa ngày càng phát triển.

Bất kỳ sự chuyển giao quyền sử dụng tạm thời có hồn trả về tài sản và dựa trên

cơ sở lòng tin đều phản ánh quan hệ tín dụng. Mối quan hệ tín dụng này được thể hiện

dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, và cho thuê tài chính. Tuy nhiên,

trong hoạt động tín dụng, cho vay là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các NHTM.

Kinh tế thị trường ngày một phát triển, sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

ngày càng khốc liệt, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tăng lợi nhuận, hạn chế

được rủi ro và đứng vững được trên thị trường, các ngân hàng ngày càng đưa ra nhiều

hình thức tín dụng đa dạng. Người ta thường phân loại tín dụng theo một số tiêu chí

như thời hạn tín dụng, bảo đảm tín dụng..., cụ thể như bảng 1.1.



10



Bảng 1.1: Phân loại tín dụng

Căn cứ phân loại tín dụng



Các loại tín dụng



Thời hạn tín dụng



Tín dụng ngắn hạn

Tín dụng trung hạn

Tín dụng dài hạn



Bảo đảm của tín dụng



Tín dụng có bảo đảm

Tín dụng khơng có bảo đảm



Mục đích sử dụng vốn tín dụng



Tín dụng bất động sản

Tín dụng cơng thương nghiệp

Tín dụng nơng nghiệp

Tín dụng tiêu dùng

Tín dụng đầu tư tài chính



Chủ thể vay vốn



Tín dụng doanh nghiệp

Tín dụng cá nhân, hộ gia đình

Tín dụng cho các tổ chức tài chính



Phương thức hồn trả



Tín dụng hồn trả nhiều lần

Tín dụng hồn trả một lần

Tín dụng hồn trả theo u cầu



Hình thái giá trị tín dụng



Tín dụng bằng tiền

Tín dụng bằng tài sản

Tín dụng bằng uy tín



Tính chất hồn trả



Tín dụng hồn trả trực tiếp

Tín dụng hồn trả gián tiếp



Việc phân loại các hình thức tín dụng giúp cho các ngân hàng có được thuận lợi

trong việc quản lý các loại hình tín dụng. Một loại hình tín dụng cụ thể có thể được

xem xét theo các tiêu chí khác nhau, và vì vậy, từ các hình thức như trong Bảng 1.1,

chúng ta có thể kết hợp để có các hình thức tín dụng cụ thể.

(Nguồn: http://www.dankinhte.vn/khai-quat-ve-tin-dung/)

1.1.2. Đặc điểm cho vay KHCN của các Ngân hàng thương mại



 1.1.2.1. Đặc điểm cho vay KHCN

a) Khái niệm



11

Cho vay là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này người cho vay chuyển giao

quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định cho người đi vay. Khi đến hạn trả nợ

người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi vay. Như vậy cho vay được hiểu

như sau:

Cho vay phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là người cho vay (NHTM)

còn bên kia là người vay (khách hàng vay vốn)

KHCN: là cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu

trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật.

Đối tượng vay vốn là những khách hàng có nhu cầu vốn để mua nhà, sửa chữa

nhà, xây dựng nhà, mua ô tô, mua các thiết bị gia dụng, thực hiện các phương án sản

xuất kinh doanh và đáp ứng một số yêu cầu khác. Các phương thức vay vốn đa dạng

như: cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm, cho vay

theo hạn mức.

Vì vậy: cho vay KHCN là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai

trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KHCN một khoản tiền

để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn

trả cả gốc và lãi. Đối tượng KHCN bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng

nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể.

Mục đích vay bao gồm vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh, cụ thể như

sau:

- Vay tiêu dùng: Là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu cá nhân, hộ gia đình.

Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có

thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện, vận chuyển, xây

dựng, du lịch, du học, chữa bệnh.

- Vay sản xuất kinh doanh: Là hình thức tài trợ cho mục đích bổ sung vốn lưu

động; thanh tốn tiền mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các chi phí

sản xuất kinh doanh cần thiết; xây dựng, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh...

Cho vay KHCN đã phát triển từ lâu trên thế giới, nhưng là một khái niệm chưa

được phát triển rộng rãi ở thị trường Việt Nam. Hiện nay xu hướng tiêu dùng tăng cao

để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn.



12

Chính vì thế, các sản phẩm tín dụng cá nhân của ngân hàng được khách hàng rất quan

tâm. Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này.

b) Đặc điểm cho vay KHCN của các ngân hàng thương mại

 Quy mô khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn

Cho vay KHCN thường phục vụ cho hai mục đích chủ yếu: phục vụ đời sống,

tiêu dùng hàng ngày và bổ sung vốn cho hoạt động buôn bán, kinh doanh sản xuất hộ

cá thể. Số tiền cho vay thường bị giới hạn bởi các điều kiện tín dụng của ngân hàng do

đó những khoản vay này thường có quy mơ nhỏ. Tuy nhiên số lượng các khoản vay

lớn, điều này xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, đối tượng của cho vay KHCN bao gồm tất cả cá nhân và hộ gia đình

có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể. Cá nhân là khách hàng của loại

hình cho vay này có thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, có mức thu nhập

khác nhau... Do đó số lượng khách hàng là rất lớn.

Thứ hai, sự phát triển của xã hội, của quy mô dân số ngày càng tăng dẫn đến nhu

cầu tín dụng của KHCN phong phú và đa dạng. Khi chất lượng cuộc sống và trình độ

dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng

cao mức sống.





Cho vay KHCN thường có chi phí bình quân cao



Do đặc điểm của KHCN là số lượng nhiều và phân tán rộng nên để duy trì và

phát triển hoạt động cho vay KHCN, các NHTM sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các

hoạt động:

- Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp

cận đối tượng KHCN ở từng địa bàn, khu vực.

- Phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ

khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ.

- Ngồi ra, còn có các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm,

điện, nước, điện thoại, cơng tác hỗ trợ chi phí nhân viên...

Quy mơ của từng món vay nhỏ, nhưng số lượng các khoản vay nhiều trong khi

chi phí để thực hiện một khoản vay KHCN không chênh lệch nhiều so với một khoản

vay doanh nghiệp có quy mơ lớn. Vì vậy chi phí bình qn trên một đồng vốn cho vay



13

mà ngân hàng phải chi cao hơn các loại cho vay khác.





Cho vay KHCN thường có rủi ro cao



Trong hoạt động cho vay KHCN, chất lượng các thông tin tài chính của khách

hàng thường khơng cao và khơng đầy đủ, điều này gây khó khăn trong việc đánh giá

trực tiếp năng lực trả nợ của khách hàng. Đây cũng là yếu tố góp phần làm tăng rủi ro

trong hoạt động cho vay KHCN. Mặt khác, nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ

nguồn thu nhập mà khơng nhất thiết phải từ kết quả sử dụng những khoản vay. Thêm

nữa, nguồn trả nợ của người đi vay có thể biến động lớn, nó phụ thuộc vào q trình

làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của khách hàng, đây chính là

những nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho ngân hàng của KHCN ..

Vì vậy, cho vay KHCN có rủi ro cao hơn so với các loại cho vay trong lĩnh vực

thương mại và cơng nghiệp. Xuất phát từ những đặc điểm đó, lãi suất cho vay của loại

hình cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác.

 1.1.2.2. Phân loại các khoản cho vay KHCN

Các loại hình khoản vay KHCN được phân chia theo các hình thức sau đây:

- Mục đích sử dụng vốn vay

Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vay KHCN bao gồm: Vay tiêu

dùng và vay sản xuất kinh doanh.





Vay tiêu dùng



Là khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình như: xây

nhà, sửa nhà, mua xe ô tô, du học, chữa bệnh, cưới hỏi…





Vay sản xuất kinh doanh



Là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư của

cá nhân, hộ gia đình như: bổ sung vốn lưu động, mua sắm tài sản cố định, đầu tư cơ sở

vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư kinh doanh chứng khoán, vàng.

- Phương thức cho vay

Theo tiêu thức này, cho vay KHCN chủ yếu bao gồm: Cho vay từng lần, cho vay

trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHCN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×