Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NINH

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NINH

Tải bản đầy đủ - 0trang

85



về định hướng, chiến lược phát triển hải quan từ 2011 đến 2020. Quyết định nêu rõ về

những mục tiêu, chiến lược cần đạt được trong những năm tới của toàn ngành Hải

quan. Phấn đấu đến năm 2020, xây dựng lực lượng hải quan hiện đại có cơ chế, chính

sách đầy đủ, hiện đại hóa các thủ tục hải quan theo hướng đơn giản, hài hòa, minh

bạch phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thời đào tạo đội ngũ cán bộ hải quan có kinh

nghiệm, năng lực, nghiệp vụ chuyên sâu và có phẩm chất.

Đối với hoạt động kiểm tra sau thông quan, phấn đấu đến năm 2020 đạt được

trình độ nghiệp vụ chuyên sâu, chuyên nghiệp, nâng cao hiệu quả cơng tác dựa trên

quy trình quản lý rủi ro với những chế tài xử lý nghiêm minh. Xây dựng, áo dụng chế

độ hồ sơ nghiệp vụ kiểm soát hải quan, ISO hóa quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau

thơng quan và các quy trình quản lý khác trong kiểm tra sau thông quan. Ứng dụng

công nghệ thông tin vào trong hoạt động của kiểm tra sau thông quan.

3.1.2. Mục tiêu hướng tới của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh

Nhằm thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 568/TCHQ-CT ngày 09/02/2011 của Tổng

cục trưởng Tổng cục Hải quan về tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan và

Quyết định 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt

Chiến lược phát triển Hải quan giai đoạn năm 2011 – 2020, tạo được bước chuyển

biến mạnh mẽ trong công tác kiểm tra sau thông quan, chuyển đổi căn bản phương

thức quản lý từ kiểm tra trong thông quan sang kiểm tra sau thơng quan, góp phần

nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về Hải quan, tạo thuận lợi tối đa cho

hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Căn cứ vào tình hình thực tiễn tại địa phương, Chi

cục KTSTQ đã tham mưu cho Lãnh đạo Cục ban hành Kế hoạch số 415/HQQNKTSTQ ngày 30/3/2011 về việc thực hiện các cơng văn trên, theo đó Cục Hải quan

tỉnh Quảng Ninh xác định công tác KTSTQ là một khâu quan trọng trong q trình

phát triển, hiện đại hóa Hải quan, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt

động của đơn vị; cụ thể:

- Phải xây dựng lực lượng KTSTQ vững về pháp luật; tinh thông về nghiệp

vụ, công tâm, đam mê công việc và khẳng định được vị trí của nghiệp vụ KTSTQ

trong hoạt động hải quan.

- Tập trung chỉ đạo công tác kiểm tra sau thông quan theo Chỉ thị số 568/CTTCHQ của Tổng cục Hải quan; nâng cao tính tuân thủ pháp luật hải quan của doanh



86



nghiệp, tập trung đánh giá rủi ro về doanh nghiệp, loại hình XNK, mặt hàng có

nguy cơ gian lận cao, hàng hóa phân luồng xanh trong q trình thông quan.

- Tăng cường thu thập, khai thác và phân tích thơng tin trên các chương trình

quản lý nghiệp vụ và các nguồn thông tin liên quan nhằm nâng cao hiệu quả của

cơng tác kiểm tra. Phối hợp có hiệu quả với các lực lượng trong và ngồi Ngành

trong cơng tác KTSTQ để trao đổi, cung cấp thông tin.

3.2. Kinh nghiệm quản lý sau thông quan của một số nước trên thế giới và bài

học cho Hải quan Việt Nam nói chung, Hải quan Quảng Ninh nói riêng

3.2.1. Kinh nghiệm quản lý kiểm tra sau thơng quan của Mỹ

Quy trình tổ chức thực hiện KTSTQ của hải quan Mỹ được tiến hành thông

qua ba giai đoạn: (i) Giai đoạn đầu tiên là đánh giá sự phù hợp của hệ thống kiểm

soát nội bộ của doanh nghiệp so với pháp luật liên quan đến hoạt động XNK; (ii)

Giai đoạn 2: Nếu bản tự đánh giá của doanh nghiệp được cơ quan hải quan chấp

nhận thì quá trình KTSTQ sẽ kết thúc mà không chuyển sang giai đoạn thứ hai. Nếu

cơ quan hải quan không chấp nhận việc tự đánh giá của doanh nghiệp thì sẽ tiến

hành giai đoạn hai của KTSTQ; (iii) Giai đoạn 3: Sau khi giai đoạn hai kết thúc, cơ

quan hải quan sẽ đưa ra các khuyến cáo để doanh nghiệp cải thiện hệ thống kiểm

soát nội bộ.

Cụ thể, khi tiến hành KTSTQ đối với một doanh nghiệp, đầu tiên, cơ quan hải

quan sẽ lấy mẫu và kết quả thử nghiệm hàng hóa nhập khẩu; đồng thời kiểm tra các

giao dịch tài chính để đánh giá việc khai báo hàng hóa nhập khẩu, các nghiệp vụ

thanh tốn của doanh nghiệp có đúng quy định pháp luật hay khơng. Ở giai đoạn

hai, doanh nghiệp sẽ phải gửi cho cơ quan hải quan bản tự đánh giá sự chính xác

trong khai báo, thanh tốn lơ hàng nhập khẩu. Nếu cơ quan hải quan chấp nhận bản

tự đánh giá của doanh nghiệp thì sẽ kết thúc quá trình KTSTQ. Nếu cơ quan hải

quan nhận thấy còn có khác biệt giữa bản tự đánh giá về hàng hóa nhập khẩu của

doanh nghiệp với thông tin, cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan, cơ quan hải quan sẽ

đưa ra các khuyến cáo để doanh nghiệp cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và tiến

hành các biện pháp cải tiến. Bên cạnh đó, cơ quan hải quan cũng đánh giá lại khả

năng tuân thủ của nhà nhập khẩu khi tiến hành các biện pháp cải tiến.



87



Qua đó có thể thấy, điểm nổi bật của mơ hình quản lý KTSTQ của Mỹ đó là

quy trình tổ chức thực hiện KTSTQ, cụ thể quy trình cơ bản dựa trên nền tảng quy

định của pháp luật về việc doanh nghiệp tự khai báo, tự đánh giá, tự chịu trách

nhiệm về thơng tin hàng hóa xuất nhập khẩu đã khai báo với cơ quan hải quan. Việc

thực hiện KTSTQ trên cơ sở sự tự giác tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp sẽ giúp

cơ quan hải quan tiết kiệm tối đa nguồn lực, nhưng vẫn có thể quản lý tồn diện đối

với doanh nghiệp.

3.2.2. Mơ hình quản lý kiểm tra sau thơng quan của Nhật Bản

Hải quan Nhật Bản được coi là một trong những cơ quan Hải quan tiên tiến

nhất trên thế giới, do đó, nghiên cứu những kinh nghiệm của Nhật Bản trong q

trình quản lý cơng tác kiểm tra sau thơng quan là rất quan trọng.

Về tổ chức bộ máy, các bộ phận KTSTQ của hải quan Nhật Bản trực thuộc hải

quan các vùng, bộ phận KTSTQ gồm có 3 phòng là: Phòng Kiểm sốt, Phòng Kiểm

tra tại doanh nghiệp và Phòng Thơng tin. Phòng Kiểm sốt có chức năng điều chỉnh

và trao đổi thông tin về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cho tất cả các

đơn vị KTSTQ. Phòng Kiểm tra tại doanh nghiệp thực hiện kiểm toán doanh nghiệp

và những tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động XNK. Phòng Thơng tin có

nhiệm vụ thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp các thơng tin cần thiết để hỗ trợ cho

Phòng Kiểm tra thực hiện kiểm toán tại doanh nghiệp.

Hải quan Nhật Bản thành lập và duy trì một hệ thống hỗ trợ KTSTQ sử dụng

dữ liệu tương tác từ các đơn vị KTSTQ, các đơn vị thơng quan hàng hóa và cơ sở

dữ liệu tình báo hải quan. Trong q trình thơng quan, hải quan Nhật Bản áp dụng

hệ thống thông quan tự động, hệ thống thông quan này tạo nên một cơ sở dữ liệu

dùng chung cho các cơ quan hải quan, doanh nghiệp và bên thứ ba với thẩm quyền

truy cập không hạn chế. Từ hệ thống thông quan tự động, cộng thêm các thông tin

thu thập được từ các bộ phận như điều tra, thuế, trị giá, thông quan và KTSTQ,

thông tin được thu thập và tích hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu tình báo hải quan là

cơ sở cho việc lựa chọn đối tượng KTSTQ và cung cấp thông tin phục vụ KTSTQ.

Theo quy định tại Điều 105 Luật Hải quan Nhật Bản, công chức hải quan kiểm

tra bất kỳ chứng từ, sổ sách kế toán lưu giữ liên quan đến hàng hóa XNK trong

khoảng thời gian từ 7 đến 10 năm. Công chức hải quan Nhật Bản làm cơng tác



88



KTSTQ u cầu có kiến thức, kỹ năng tổng hợp về ba lĩnh vực đó là kiến thức

chung, kiến thức về nghiệp vụ hải quan và hiểu biết cơ chế hoạt động của doanh

nghiệp. Cán bộ làm KTSTQ có trình độ cao giúp cơng tác quản lý KTSTQ hiệu quả,

hiệu lực hơn. Việc lựa chọn đối tượng KTSTQ được dựa trên nền tảng CNTT hiện

đại kết hợp với hệ thống tiêu chí QLRR đầy đủ, chi tiết.

Điểm nổi bật mơ hình quản lý KTSTQ của Nhật Bản là mơ hình tổ chức

KTSTQ được bố trí theo mơ hình dọc, có cấp Trung ương và cấp vùng. Bên cạnh

đó, bộ máy được chia thành 3 phòng nghiệp vụ để hỗ trợ lẫn nhau. Mơ hình quản lý

KTSTQ như vậy giúp Hải quan Nhật Bản có thể quản lý KTSTQ theo cả chiều dọc

và chiều ngang. Việc lựa chọn đối tượng KTSTQ (thực chất là lập kế hoạch

KTSTQ) được dựa trên nền tảng CNTT hiện đại kết hợp với hệ thống tiêu chí

QLRR đầy đủ, chi tiết. Cán bộ làm KTSTQ có trình độ cao giúp cơng tác quản lý

KTSTQ hiệu quả, hiệu lực hơn.

Như vậy, hệ thống công cụ hỗ trợ có hiệu quả nhất và mang đặc trưng nhất của

Hải quan Nhật Bản là hệ thống quản lý rủi ro được thực thi trên một nền tảng công

nghệ thơng tin hồn hảo. Thêm vào đó, Hải quan Nhật Bản cũng có một số thẩm

quyền trong lĩnh vực điều tra xác minh, đồng thời nghiệp vụ kiểm toán cũng được

Hải quan Nhật Bản hết sức coi trọng, như một nhân tố quyết định sự thành công của

kiểm tra sau thơng quan.

3.2.3. Mơ hình quản lý kiểm tra sau thơng quan của Trung Quốc

Mơ hình KTSTQ của Trung Quốc được áp dụng từ năm 1994. Mục đích khi

tiến hành các hoạt động KTSTQ là cải tiến phương thức quản lý nhằm duy trì trật tự

và các nguyên tắc thị trường kết hợp với việc cung cấp các dịch vụ công thuận lợi

hơn thay vì việc can thiệp trực tiếp đến cộng đồng doanh nghiệp và thị trường. Hiện

nay, cơ quan điều tra của Hải quan Trung Quốc chịu trách nhiệm chính về KTSTQ,

bao gồm bộ phận kiểm tra và bộ phận điều tra thương mại, tại các vùng cũng có các

bộ phận kiểm tra.

Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày hàng hóa XNK được thơng quan hoặc trong

thời hạn giám sát hải quan của hàng hóa bảo thuế, hàng hóa miễn giảm thuế nhập

khẩu, cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ kế tốn, báo



89



cáo tài chính và các tài liệu khác có liên quan cùng với hàng hóa XNK của người bị

kiểm tra để kiểm tra tính hợp pháp, tính chân thực của hoạt động XNK hàng hóa.

Cơ quan hải quan tiến hành KTSTQ đối với những doanh nghiệp, tổ chức liên

quan trực tiếp đến hoạt động XNK. Cụ thể là các doanh nghiệp, tổ chức tham gia

vào hoạt động thương mại quốc tế, tham gia vào hoạt động gia công quốc tế, các

doanh nghiệp tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực kho ngoại quan, các doanh

nghiệp và đơn vị sử dụng hoặc có liên quan đến hàng hóa được hưởng các ưu đãi về

giảm thuế, miễn thuế, hoàn thuế, các doanh nghiệp là đại lý hải quan, khai thuê hải

quan và các doanh nghiệp khác tham gia vào hoạt động kinh doanh liên quan trực

tiếp đến hoạt động XNK do Tổng cục Hải quan Trung Quốc quy định.

Hải quan Trung Quốc dựa trên cơ sở áp dụng quy trình QLRR để lựa chọn các

đối tượng KTSTQ. KTSTQ được thực hiện theo kế hoạch hoặc theo dấu hiệu vi

phạm. Hoạt động KTSTQ được thực hiện thơng qua quy trình 4 bước: Chuẩn bị

kiểm tra, Thực hiện kiểm tra; Xử lý hồ sơ; Đánh giá kết quả.

Đến nay, Hải quan Trung Quốc vẫn đang trong giai đoạn tiếp tục hồn thiện

mơ hình KTSTQ theo hướng 4 trong 1, bao gồm: phân tích rủi ro, kiểm toán doanh

nghiệp, điều tra thương mại, quản lý doanh nghiệp. Mục tiêu của Hải quan Trung

Quốc là tiến tới mơ hình quản lý hải quan hiện đại theo các chuẩn mực của thơng lệ

quốc tế. Mơ hình KTSTQ mang đặc trưng Trung Quốc là lấy phân tích rủi ro làm cơ

sở, lấy việc kiểm toán doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp làm phương tiện và

lấy việc điều tiết hoạt động XNK của doanh nghiệp làm mục tiêu quản lý.

Giống như Nhật Bản, Trung Quốc cũng áp dụng mơ hình quản lý KTSTQ theo

chiều dọc và có những bộ phận hỗ trợ KTSTQ theo chiều ngang. Trung Quốc cũng

lập kế hoạch KTSTQ, lựa chọn doanh nghiệp KTSTQ trên cơ sở áp dụng quản lý

rủi ro. Đây cũng là điểm mạnh của mơ hình quản lý KTSTQ của Trung Quốc. Đó

cũng là kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam khi tiến hành cải cách và hiện đại hóa

hải quan.

3.2.4. Bài học kinh nghiệm vận dụng vào quản lý kiểm tra sau thông quan

tại Việt Nam



90



Qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn quản lý KTSTQ của một số nước tiên

tiến trên thế giới, những nội dung có thể rút ra làm bài học kinh nghiệm cho việc

vận dụng tại Việt Nam là:

Thứ nhất: Qua nghiên cứu mơ hình quản lý KTSTQ của Nhật Bản, Trung

Quốc, chúng ta có thể nhận thấy việc lập kế hoạch KTSTQ để lựa chọn đối tượng

KTSTQ cơ bản đều dựa trên nền tảng CNTT hiện đại kết hợp với hệ thống tiêu chí

quản lý rủi ro đầy đủ, chi tiết. Do đó, việc áp dụng hệ thống quản lý rủi ro vào trong

hoạt động nghiệp vụ của Hải quan Việt Nam nói chung và quản lý KTSTQ nói riêng

là phù hợp với xu hướng và yêu cầu quản lý hiện đại. Tuy nhiên, việc đánh giá rủi

ro cần phải trên cơ sở hệ thống CNTT hiện đại, đồng thời phải xây dựng được hệ

thống các tiêu chí quản lý rủi ro tổng hợp và thống nhất như loại hình doanh nghiệp,

loại hình XNK, mã HS, tiêu chí chấp hành tốt pháp luật và chưa chấp hành tốt pháp

luật,… để làm cơ sở phân loại doanh nghiệp khi lựa chọn đối tượng KTSTQ.

Thứ hai: Hầu hết các nước có hoạt động KTSTQ hiệu quả đều dựa trên mơ

hình tổ chức bộ máy KTSTQ theo mơ hình dọc từ cấp Trung ương đến Hải quan các

địa phương. Đồng thời, trong bộ máy KTSTQ chia theo chức năng nhiệm vụ từng

bộ phận để hỗ trợ cho nhau trong q trình KTSTQ (mơ hình Hải quan Nhật Bản,

Hải quan Trung Quốc).

Thứ ba: Hoạt động nghiệp vụ hải quan cần cải cách, hiện đại hóa tồn diện

theo hướng sử dụng đồng bộ hệ thống công nghệ thông tin và áp dụng quản lý rủi

ro, từ đó cho phép hầu hết các công việc được tiến hành một cách tự động hóa, từ

đó vừa giảm chi phí vừa nâng cao hiệu quả của KTSTQ. Xây dựng trung tâm xử lý

và phân tích thơng tin trực tuyến với khả năng tích hợp toàn bộ các dữ liệu từ các

đơn vị chức năng như dữ liệu thông quan, thuế, tỷ giá, giao dịch ngoại tệ, tình trạng

thuế nội địa, chống bn lậu, gian lận thương mại để phục vụ việc phân tích thơng

tin một cách chính xác, kịp thời và hiệu quả (mơ hình Hải quan Nhật Bản).

Thứ tư: Các hình thức KTSTQ chia thành kiểm tra theo kế hoạch, theo tình

huống và kiểm tra toàn diện (doanh nghiệp tự đánh giá) theo mơ hình Hải quan Mỹ.

Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam hiện nay chưa thể áp dụng hình thức kiểm tra

tồn diện hay kiểm tốn tn thủ, trong đó cho phép doanh nghiệp tự đánh giá việc

tuân thủ chấp hành các quy định của pháp luật vì Hải quan Việt Nam chưa xây dựng



91



được các bộ tiêu chí làm cơ sở cho việc tự đánh giá của các doanh nghiệp và chưa

xây dựng được cơ chế kiểm tra các báo cáo tự đánh giá của doanh nghiệp.

(Theo Hoàng Trung Dũng (2017), "Kinh nghiệm quản lý kiểm tra sau thông

quan của một số nước trên thế giới và bài học cho Hải quan Việt Nam",

Tapchicongthuong.vn).

3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan tại

Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh

Trước yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế và nâng cao kỹ năng cạnh tranh

của nền kinh tế thì việc đổi mới phương thức quản lý của cơ quan Hải quan từ việc

áp dụng phương thức quản lý truyền thống chuyển sang áp dụng kỹ thuật quản lý

hiện đại dựa trên cơ sở phân tích thơng tin, đánh giá việc tn thủ, mức độ rủi ro về

vi phạm pháp luật hải quan nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan,

tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thì nghiệp vụ KTSTQ được

coi khâu kiểm tra cuối cùng trong quy trình thủ tục hải quan của cơ quan Hải quan.

Với yêu cầu của công tác KTSTQ là phải xác định tính chính xác của việc kê khai

Hải quan, thực hiện nghĩa vụ thuế và các khoản thu khác đối với nhà nước của

người khai Hải quan, tính tn thủ của các khâu khác trong q trình thơng quan

hàng hố thì kết quả KTSTQ có tác dụng rất lớn để các đối tượng có liên quan có

nghĩa vụ phải thực thi.

Căn cứ trên những tồn tại hạn chế và phương hướng nhiệm vụ của Chi cục

KTSTQ trong thời gian tới, tác giả xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm

góp phần nâng cao hiệu quả kiểm tra sau thông quan tại Chi cục KTSTQ - Cục Hải

quan tỉnh Quảng Ninh

3.3.1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực, trình độ của cơng

chức kiểm tra sau thơng quan

* Hồn thiện cơ cấu tổ chức; bố trí, sắp xếp cán bộ cơng chức hợp lý Cục Hải

quan tỉnh Quảng Ninh và lãnh đạo Hải quan các cấp cần xác định đúng vai trò, vị trí

của hoạt động KTSTQ trong nghiệp vụ Hải quan. Rà soát, sắp xếp nhân sự để tăng

cường biên chế cho lực lượng KTSTQ đạt 10% biên chế toàn Cục những chuyên

gia giỏi, những cơng chức có kinh nghiệm thực tiễn về nghiệp vụ thông quan và



92



KTSTQ, chú trọng về năng lực, trình độ tham mưu và kiểm tra độc lập trong hoạt

động KTSTQ, đặc biệt là trình độ kiểm tốn và năng lực điều tra, xác minh. Trước

mắt, cần điều động, tuyển chọn đủ số công chức làm công tác KTSTQ, kể cả tuyển

dụng cơng chức ngồi ngành có năng lực, trình độ theo quy định của Tổng cục Hải

quan.

Do đặc thù của hoạt động KTSTQ, nên việc bố trí cán bộ KTSTQ phải dựa

trên một số nguyên tắc chủ yếu sau:

- Việc sắp xếp cán bộ phải đảm bảo chuyên mơn hố, tính chun nghiệp cao,

về lâu dài sẽ hình thành một số đội ngũ chuyên gia trong một số lĩnh vực cơ bản của

ngành Hải quan.

- Cán bộ làm công tác chuyên môn cần phải kinh qua các công tác thực tế

trong ngành đặc biệt là các lĩnh vực chun mơn có liên quan như: thủ tục hải quan,

kiểm tra thu thuế, điều tra chống buôn lậu, …

- Việc bố trí cán bộ vào một số vị trí cụ thể phải được qua đào tạo về lĩnh vực

đó, phù hợp với chuyên môn đào tạo, năng lực, sở trường của cán bộ đó.

- Kết hợp việc chun mơn hố với việc đào tạo cho cán bộ KTSTQ có được

những kiến thức tổng hợp; kết hợp với cán bộ có kinh nghiệm, cán bộ từ các bộ

phận khác luân chuyển sang và cán bộ mới.

- Cần có chế độ luân chuyển riêng đối với cán bộ KTSTQ, vì cán bộ KTSTQ

phải là đội ngũ chuyên nghiệp, chuyên sâu, nắm vững nghiệp vụ. Do đó, sau khi

hồn thành cơng tác tại đơn vị KTSTQ và đến định kỳ luân chuyển, cần có sự cân

nhắc trong việc luân chuyển cán bộ, tránh việc ln chuyển về những nơi khơng có

hoặc ít liên quan đến nghiệp vụ, gây lãng phí nguồn lực có kỹ thuật nghiệp vụ cao,

dễ nảy sinh tư tưởng chán nản, làm việc mất hiệu quả.

- Đối với lực lượng KTSTQ tại các Chi cục Hải quan cửa khẩu, thông qua

cơng tác rà sốt, kiểm tra và quản lý hải quan trên địa bàn để phát hiện các dấu hiệu

vi phạm về hải quan, đây là một trong những nguồn cung cấp thông tin quan trọng

để thực hiện các quyết định KTSTQ. Do vậy cần bố trí một đội ngũ cơng chức có

năng lực kiểm tra, và phát hiện các dấu hiệu vi phạm đơn giản, ban đầu để phục vụ



93



công tác KTSTQ cũng như xử lý các vi phạm trong phạm vi thẩm quyền của cấp

Chi cục.

* Mỗi cán bộ, công chức làm công tác KTSTQ cần phải luôn tự mình trau dồi,

nâng cao năng lực kiến thức và kỹ năng cơ bản:

Nắm vững và thực hiện đúng pháp luật hải quan, các quy định và quy trình thủ

tục hải quan. Cán bộ, công chức KTSTQ phải nắm chắc Luật Hải quan, các luật

thuế và các văn bản hướng dẫn, đặc biệt phải nắm chắc các quy định cụ thể về:

nguyên tắc xác định trị giá, quy tắc xuất xứ, phân loại và mã hoá hàng hoá, v.v…

nhằm phát hiện những gian lận và sai sót trong việc khai báo khi làm thủ tục hải

quan.

Hiểu biết quy trình tiến hành một hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế.

Theo Hiệp định trị giá GATT, trị giá hải quan phải dựa trên những tiêu chí cơ bản và

hợp lý phù hợp với thơng lệ thương mại. Do đó, cán bộ KTSTQ cần thông thạo

thông lệ thương mại trong kinh doanh thương mại quốc tế.

Vận dụng thành thạo kỹ thuật và ngun tắc kế tốn. Để tiến hành các bước

cơng việc kiểm tra rà soát chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính, cán bộ KTSTQ

cần được trang bị đầy đủ kiến thức về kế toán.

Sử dụng các chuẩn mực và quy trình thủ tục kiểm tốn. Vì KTSTQ thực chất

là sử dụng kỹ năng kiểm tốn, vì vậy cán bộ, công chức KTSTQ phải thông thạo về

kỹ năng kiểm tốn.

Áp dụng các kỹ năng cơng nghệ thơng tin. Hiện nay, tất cả các hoạt động trong

giao dịch quốc tế như hạch toán kế toán, kiểm kê, bán hàng, định giá, thư điện tử,

v.v… đều được thực hiện thông qua hệ thống máy vi tính. Theo đó, cán bộ hải quan

cũng cần phải có đủ khả năng kiểm tra trên hệ thống máy vi tính của doanh nghiệp.

Thành thạo ngoại ngữ. Vì ngơn ngữ chủ yếu trong thương mại quốc tế hiện

nay là tiếng Anh và một số ngoại ngữ thông dụng như tiếng Pháp, tiếng Trung quốc,

một số tiếng của nước láng giềng nên yêu cầu về ngoại ngữ là không thể thiếu được

đối với mỗi cán bộ, công chức KTSTQ nhằm giúp họ hiểu được nội dung các thư

tín thương mại và các chứng từ khác liên quan đến giao dịch nhập khẩu.



94



Cơng chức KTSTQ phải nhiệt tình, chịu khó, phải xác định KTSTQ là một

trong những cơng việc khó khăn và vất vả. Cán bộ, cơng chức KTSTQ cần hiểu

được tầm quan trọng của KTSTQ và phải có tâm huyết với cơng việc này.

* Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ KTSTQ:

Một trong những nguyên nhân của hoạt động KTSTQ chưa đạt được hiệu quả

cao đó là trình độ của cán bộ, công chức KTSTQ. Thực tế cho thấy nếu cán bộ

KTSTQ khơng có chun mơn sâu, khơng nắm được các kỹ năng cơ bản sẽ không

thể tiến hành một cuộc KTSTQ có hiệu quả. Chính vì vậy, hiện nay công tác đào tạo

chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ KTSTQ là hết sức cần thiết.

Để đào tạo cán bộ KTSTQ trong ngành hải quan cần nghiên cứu một cách có

hệ thống từ việc phân tích nhu cầu đào tạo (nhu cầu hàng năm, ngắn hạn, dài hạn);

xây dựng hệ thống đào tạo; thiết kế chương trình đào tạo; tổ chức đào tạo và công

tác đánh giá đào tạo. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này chỉ xin được nêu một số

nội dung cơ bản có liên quan trực tiếp đến KTSTQ trong thời gian tới:

- Lựa chọn đối tượng đào tạo: Hiện nay trong toàn hệ thống KTSTQ bao gồm

rất nhiều đối tượng khác nhau. Có nhiều cách phân loại đối tượng như: theo trình độ

đào tạo các chuyên môn chủ yếu của ngành Hải quan (trị giá hải quan, phân loại

hàng hoá, xuất xứ hàng hoá, thủ tục hải quan…); theo thời gian, thâm niên cơng tác

trong ngành Hải quan; theo trình độ các chun ngành khác (kế tốn, kiểm tốn,

cơng nghệ thơng tin, ngoại ngữ…). Tuy nhiên, việc xác định đối tượng đào tạo đối

với cán bộ, công chức KTSTQ cần kết hợp cả việc đào tạo theo chuyên môn và đào

tạo cán bộ mới tuyển dụng, cán bộ, công chức đang làm công tác hiện nay.

- Kết hợp đào tạo tại chỗ và đào tạo tập trung,

Đào tạo tại chỗ: là việc đào tạo do các cán bộ cấp trên, cán bộ lâu năm có

nhiều kinh nghiệm đào tạo cho cán bộ cấp dưới, cán bộ mới được tuyển dụng hoặc

ít có kinh nghiệm. Việc đào tạo này thường được tổ chức ngay tại bộ phận, đội công

tác của Chi cục.

Mục tiêu của đào tạo tại chỗ để cung cấp kiến thức kỹ năng, hành vi ứng xử

trong thực tiễn công việc hàng ngày. Tuy nhiên, nó cần phụ thuộc vào năng lực của

từng cá nhân của cả người trực tiếp hướng dẫn và người được hướng dẫn. Việc đào



95



tạo này có thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo thực tiễn và cụ thể của từng cán bộ,

từng vấn đề cụ thể.

Phương pháp đào tạo là hướng dẫn, kèm cặp từng người, kết hợp giữa lý

thuyết và thực tế, cách làm này cần ít chi phí nhưng hiệu quả cao, dễ làm trong điều

kiện hiện nay nhất là công việc nhiều trong khi lại thiếu cán bộ.

Hiệu quả mang lại sẽ cao, đồng thời dễ đánh giá hiệu quả công tác và tăng

cường hiểu biết lẫn nhau, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa các đồng nghiệp với

nhau.

Đào tạo tập trung: là việc đào tạo được tổ chức trong một khoảng thời gian

nhất định tại một địa điểm nhất định do cơ quan chức năng tiến hành hoặc do các

Cục Hải quan tỉnh, thành phố tự tiến hành đào tạo. Việc đào tạo này tách ra khỏi

công việc hàng ngày.

Mục tiêu của đào tạo tập trung để cung cấp kiến thức kỹ năng và hành vi ứng

xử tổng qt, chúng có tính mơ phạm, lý thuyết, lơgíc và có tính hệ thống, có thể

đáp ứng các nhu cầu đào tạo chung của nhiều người học.

Phương pháp: có thể đào tạo nhiều học viên cùng một lúc, học viên có thể

giành thời gian, sức lực và tập trung vào việc học tập.

- Nội dung đào tạo:

Cần ưu tiên cho việc đào tạo các kiến thức kỹ năng về chuyên môn như:

+ Kiến thức pháp luật về hải quan, về thuế và pháp luật khác có liên quan đến

hoạt động thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế.

+ Kiến thức về kế toán, kiểm toán: thực hiện phổ cập kiến thức kế toán cơ bản.

Với những cán bộ cơng chức có kiến thức vững sẽ được đào tạo kiểm tốn.

+ Kiến thức về cơng nghệ thông tin, ngoại ngữ: trước mắt cần ưu tiên cho số

cán bộ trực tiếp kiểm tra tại doanh nghiệp, về lâu dài phổ cập cho tất cả cán bộ

trong hệ thống.

+ Cử cán bộ tham dự các khóa đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu, các buổi hội

thảo do cấp trên tổ chức, giao lưu trao đổi kinh nghiệm với các Cục hải quan tỉnh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NINH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×