Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Quản trị và sử dụng vốn lưu động

b. Quản trị và sử dụng vốn lưu động

Tải bản đầy đủ - 0trang

27



Về cơ bản, tiền mặt tồn tại dưới hai dạng: tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân

hàng. Để duy trì hoạt động thường xun, dự phòng cho những biến động bất

thường trong quá trình lưu chuyển tiền tệ cũng như tận dụng nhanh chóng các cơ

hội, doanh nghiệp cần phải duy trì một mức tiền nhất định tại quỹ cũng như tại ngân

hàng. Tuy nhiên tiền mặt tại quỹ khơng có khả năng sinh lời và tiền gửi ngân hàng

có khả năng sinh lợi thấp. Bởi vậy, mục đích của quản trị tiền mặt là giảm thiểu

lượng tiền mặt nắm giữ mà vẫn đảm bảo được khả năng thanh tốn tiền mặt, dự

phòng những biến động có thể xảy ra trong quá trình lưu chuyển tiền tệ cũng như

tận dụng được tối đa các cơ hội.

Quản trị tiền mặt sẽ gắn chặt với việc cân đối tiền mặt cho hoạt động hàng

ngày, cân đối tiền mặt tại tài khoản ngân hàng để vay vốn hay chi trả cho các dịch

vụ ngân hàng, cân đối tiền mặt để để phòng những biến động có thể xảy ra trong

q trình lưu chuyển tiền tệ, và cân đối tiền mặt để giúp doanh nghiệp tận dụng các

cơ hội (Nguyễn Thu Thủy, 2011).

Quản trị tiền mặt là quá trình bao gồm quản lý lưu lượng tiền mặt tại quỹ và

tài khoản thanh toán ở ngân hàng, kiểm soát chi tiêu, dự báo nhu cầu tiền mặt của

doanh nghiệp, bù đắp thâm hụt ngân sách, giải quyết tình trạng thừa, thiếu tiền mặt

trong ngắn hạn cũng như dài hạn (Eugene F. Brigham – Joel F. Houston, 2009).

+ Xác định và quản lý lưu lượng tiền mặt

Dự trữ tiền mặt (tiền tại quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán tại ngân hàng) là

điều tất yếu mà doanh nghiệp phải làm để đảm bảo việc thực hiện các giao dịch

kinh doanh hàng ngày cũng như đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh doanh trong

từng giai đoạn. Doanh nghiệp giữ quá nhiều tiền mặt so với nhu cầu sẽ dẫn đến việc

ứ đọng vốn, tăng rủi ro về tỷ giá (nếu dự trữ ngoại tệ), tăng chi phí sử dụng vốn (vì

tiền mặt tại quỹ khơng sinh lãi, tiền mặt tại tài khoản thanh tốn ngân hàng thường

có lãi rất thấp so với chi phí lãi vay của doanh nghiệp) (Nguyễn Thu Thủy, 2011).

Hơn nữa, sức mua của đồng tiền có thể giảm sút nhanh do lạm phát.

Nếu doanh nghiệp dự trữ quá ít tiền mặt, khơng đủ tiền để thanh tốn sẽ bị

giảm uy tín với nhà cung cấp, ngân hàng và các bên liên quan. Doanh nghiệp sẽ mất



28



cơ hội hưởng các khoản ưu đãi giành cho giao dịch thanh toán ngay bằng tiền mặt,

mất khả năng phản ứng linh hoạt với các cơ hội đầu tư phát sinh ngoài dự kiến.

Lượng tiền mặt dự trữ tối ưu của doanh nghiệp phải thỏa mãn được 3 nhu cầu

chính (Eugene F. Brigham – Joel F. Houston, 2009):

Chi cho các khoản phải trả phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh hàng ngày

của doanh nghiệp như: Trả cho nhà cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, trả người lao

động, trả thuế.

Dự phòng cho các khoản chi ngồi kế hoạch.

Dự phòng cho các cơ hội phát sinh ngồi dự kiến khi thị trường có sự thay đổi

đột ngột.

Doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp Baumol hoặc mơ hình Miller Orr

để xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý. Sau khi xác định được lưu lượng tiền mặt

dự trữ thường xuyên, doanh nghiệp nên áp dụng những chính sách, quy trình sau để

giảm thiểu rủi ro cũng như những thất thoát trong hoạt động.

+ Dự đoán và quản lý các luồng nhập xuất vốn tiền mặt. Trên cơ sở so sánh

các luồng nhập, xuất ngân quỹ doanh nghiệp có thể thấy được mức thặng dư hay

thâm hụt ngân quỹ.

Dự đoán ngân quỹ là tập hợp các dự kiến về nguồn và sử dụng ngân quỹ.

Ngân quỹ hàng năm được lập vừa tổng quát, vừa chi tiết cho từng tháng và tuần.

Dự đoán các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả kinh doanh;

từ kết quả hoạt động tài chính; luồng đi vay và các luồng tăng vốn khác (Eugene

F. Brigham – Joel F. Houston, 2009).

Trong các luồng nhập ngân quỹ kể trên, luồng nhập ngân quỹ từ kết quả kinh

doanh là quan trọng nhất. Nó được dự đốn dựa trên cơ sở các khoản doanh thu

bằng tiền mặt dự kiến trong kỳ.

Trên cơ sở so sánh các luồng nhập và luồng xuất ngân quỹ, doanh nghiệp có

thể thấy được mức dư hay thâm hụt ngân quỹ. Từ đó thực hiện các biện pháp cân

bằng thu chi ngân quỹ như tăng tốc độ thu hồi các khoản nợ phải thu, đồng thời

giảm tốc độ xuất quỹ nếu có thể thực hiện được hoặc khéo léo sử dụng các khoản



29



nợ đang trong q trình thanh tốn. Doanh nghiệp cũng có thể huy động các khoản

vay thanh toán của ngân hàng. Ngược lại khi luồng nhập ngân quỹ lớn hơn luồng

xuất ngân quỹ thì doanh nghiệp có thể sử dụng phần dư ngân quỹ để thực hiện các

khoản đầu tư trong thời hạn cho phép để nâng cao hiệu quả sử dụng số vốn tạm thời

nhàn rỗi của mình.

Dự đốn các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản chi cho hoạt

động kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt động đầu

tư theo kế hoạch của doanh nghiệp; các khoản chi trả tiền lãi phải chia, nộp thuế và

các khoản chi khác (Ngô Kim Phượng, 2009).

+ Quản lý sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt

Hoạt động thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp diễn ra hàng ngày, hàng giờ;

hơn nữa vốn tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt có khả năng thanh tốn cao, dễ

dàng chuyển hố sang các hình thức tài sản khác, vì vậy doanh nghiệp phải có biện

pháp quản lý, sử dụng vốn tiền mặt một cách chặt chẽ để tránh bị mất mát, lợi dụng.

Các biện pháp quản lý cụ thể là:

Thứ nhất, mọi khoản thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp đều phải thực

hiện thông qua quỹ, khơng được thu chi ngồi quỹ, tự thu tự chi.

Thứ hai, phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng trong quản lý vốn tiền mặt,

nhất là giữa thủ quỹ và kế tốn quỹ; phải có các biện pháp quản lý bảo đảm an toàn

kho quỹ.

Thứ ba, doanh nghiệp phải xây dựng các quy chế thu chi bằng tiền mặt để áp

dụng cho từng trường hợp thu chi. Thơng thường các khoản thu chi khơng lớn

thì có thể sử dụng tiền mặt, còn các khoản thu chi lớn cần sử dụng hình thức thanh

tốn khơng dùng tiền mặt.

Quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt, cần xác định rõ đối tượng tạm

ứng, mức tạm ứng và thời hạn thanh toán tạm ứng để thu hồi kịp thời.



- Quản lý và sử dụng hàng tồn kho

Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ để

sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp, tài sản tồn kho dự trữ thường



30



ở ba dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dở dang và bán

thành phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tuỳ theo ngành nghề kinh doanh mà tỷ

trọng các loại tài sản dự trữ trên có khác nhau. Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các

doanh nghiệp là rất quan trọng vì sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn sản

xuất, khơng bị thiếu sản phẩm hàng hố để bán, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và

hợp lý vốn lưu động (Nguyễn Thu Thủy, 2011).

Quản trị tồn kho hiệu quả đòi hỏi phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa các bộ phận

bán hàng, mua hàng, sản xuất và bộ phận tài chính. Bộ phận bán hàng phải đưa ra

những dự đoán đúng về nhu cầu của thị trường. Bộ phận mua hàng, sản xuất và tài

chính phải dựa trên dự đoán của bộ phận bán hàng để đưa ra những hoạt động tài

trợ và mức tồn kho cần thiết (Eugene F. Brigham – Joel F. Houston, 2009).

Mục tiêu của quản trị hàng tồn kho là vừa đảm bảo lượng hàng cần thiết để

duy trì hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời tối thiểu hóa chi phí mua và duy trì

hàng tồn kho. Thơng thường chi phí liên quan tới hàng tồn kho bao gồm chi phí vận

chuyển, lưu giữ, bảo hiểm, hao hụt, phần doanh số mất đi do doanh nghiệp khơng

có đủ hàng để bán



- Quản lý các khoản phải thu

Trong quá trình sản xuất kinh doanh do nhiều nguyên nhân khác nhau thường

tồn tại một khoản vốn trong thanh tốn, đó là các khoản phải thu, phải trả. Tỷ lệ các

khoản phải thu trong các doanh nghiệp có thể khác nhau, thơng thường chúng

chiếm từ 15% - 20% trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Để giúp doanh nghiệp có

thể nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu, hạn chế việc phát sinh các chi phí

khơng cần thiết hoặc rủi ro, doanh nghiệp cần phải có biện pháp quản lý tốt.

Quản trị khoản phải thu gắn liền với việc giảm thiểu chi phí và tối đa hóa lợi

ích thu được từ bán hàng tín dụng. Khi bán hàng tín dụng được thực hiện, hàng tồn

kho sẽ giảm tương ứng với giá vốn hàng bán, khoản phải thu tăng tương ứng với

doanh thu bán hàng và khoản chênh lệch chính là lợi nhuận (Nguyễn Thu Thủy,

2011).

Đối với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thường phụ thuộc vào:

quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của doanh nghiệp,



31



khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường, chu kỳ giao hàng, thời gian vận chuyển

và giá cả của các loại nguyên vật liệu (Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ, 2009).

Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang phụ thuộc

vào: đặc điểm và các yếu cầu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản

phẩm, độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm, trình độ tổ chức quá trình sản xuất

của doanh nghiệp.

Đối với tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm, thường chịu ảnh hưởng bởi các

nhân tố như sự phối hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm



- Quản lý các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và tài sản lưu động khác

Tài sản lưu động khác bao gồm: các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, cầm cố,

ký cược, ký quỹ ngắn hạn...

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, theo yêu cầu của bên đối tác,

khi vay vốn, thuê mượn tài sản hoặc mua bán đấu thầu làm đại lý... doanh nghiệp

phải tiến hành cầm cố, ký quỹ, ký cược.

Ký cược (đặt cược) là việc bên thuê tài sản theo yêu cầu của bên cho thuê

động sản phải đặt cược một số tiền hoặc kim khí quý, đá quý hay các vật có giá

trị khác nhằm ràng buộc và nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng

tài sản đi thuê và hoàn trả tài sản đúng thời gian quy định với người đi thuê.

Trường hợp bên thuê không trả lại tài sản thì tài sản ký cược thuộc về bên cho

thuê (Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ, 2009).

Cầm cố là bên có nghĩa vụ (doanh nghiệp) giao một động sản thuộc sở hữu

của mình hoặc một quyền tài sản được phép giao dịch cho bên có quyền (phía đối

tác) để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ hay thoả thuận (Nguyễn Minh Kiều, 2006).

Ký quỹ là việc bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải gửi trước một số

tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ khác giá trị được bằng tiền vào tài khoản

phong toả tại Ngân hàng. Số tiền ký quỹ sẽ ràng buộc bên ký quỹ phải thực hiện

cam kết, hợp đồng, đồng thời người yêu cầu ký quỹ yên tâm khi giao hàng hay

nhận hàng theo những điều đã ký kết. Trong trường hợp bên ký quỹ không tôn

trọng hợp đồng sẽ bị phạt và trừ vào tiền đã ký quỹ. Bên có quyền được ngân



32



hàng nơi ký quỹ thanh tốn, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra sau khi

trừ chi phí dịch vụ ngân hàng (Nguyễn Minh Kiều, 2006).

Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn là tiền lãi của trái phiếu, cổ phiếu và sự

tăng giá thị trường của cổ phiếu. Khi lượng tiền trong doanh nghiệp lên cao hơn

bình thường, các nhà tài chính sẽ chuyển bớt tiền thành chứng khốn ngắn hạn để

có thêm thu nhập cho doanh nghiệp và ngược lại, khi lượng tiền giảm xuống dưới

mức bình thường thì họ lại bán bớt chứng khốn để duy trì lượng tiền mặt luôn luôn

ở mức hợp lý.

Đối với các nhà quản trị việc lựa chọn trong vơ số các chứng khốn đa dạng

về thời hạn và mệnh giá, khác nhau về rủi ro và lợi nhuận để ra quyết định đầu tư là

một thử thách lớn. Tính phức tạp của việc này lại càng tăng thêm quyết định đầu tư

phụ thuộc nhiều vào quan điểm riêng của nhà quản trị về rủi ro, trong khi phải phản

ánh được thái độ rủi ro của các cổ đông.

c. Phương hướng tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động



- Ý nghĩa của việc tăng tốc độ vốn lưu động

Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động tức là rút ngắn thời gian vốn lưu động

nằm trong lĩnh vực dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thơng. Từ đó mà giảm bớt lượng

vốn lưu động chiếm dùng, tiết kiệm vốn lưu động trong luân chuyển.

Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động là điều kiện rất quan trọng để phát

triển sản xuất kinh doanh. Thông qua việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động,

doanh nghiệp có thể giảm bớt số vốn lưu động chiếm dùng nhưng vẫn đảm bảo

được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh như cũ, có thể với số vốn như cũ nhưng doanh

nghiệp mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh.

Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động còn ảnh hưởng tích cực đến việc hạ giá

thành và giảm bớt chi phí lưu thơng.



- Phướng hướng và biện pháp tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Tăng tốc độ luân chuyển vốn trong khâu dự trữ bằng cách chọn điểm cung cấp

hợp lý để rút ngắn số ngày hàng đi trên đường, số ngày cung cấp cách nhau; căn cứ

nhu cầu vốn lưu động đã xác định và tình hình cung cấp vật tư thực hiện việc tổ



33



chức hợp lý mua sắm, dự trữ vật tư nhằm rút bớt số lượng dự trữ, luân chuyển hàng

ngày.

Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động bằng cách áp dụng công nghệ hiện đại

để rút ngắn chu kỳ sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất, để hạ giá thành sản phẩm.

Tăng tốc độ luân chuyển vốn trong khâu lưu thông: nâng cao sản phẩm sản

xuất, làm tốt công tác tiếp thị để tăng doanh thu tiêu thụ. Đồng thời theo dõi tình

hình thanh toán nhằm rút ngắn số ngày xuất vận và thanh toán để thu tiền hàng kịp

thời, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở khâu này. Kịp thời phát hiện và

giải quyết những vật tư, hàng hoá ứ đọng trong quá trình sản xuất kinh doanh do

nhiều ngun nhân dẫn đến tình trạng vật tư hàng hố ứ đọng. Vấn đề quan trọng ở

đây là làm sao tăng cường kiểm sốt để có thể phát hiện được số vật tư, hàng hố ứ

đọng đó, đồng thời có biện pháp nhanh để giải quyết tránh ứ đọng vốn, tăng nhanh

tốc độ luân chuyển vốn.

2



Các chỉ tiêu đánh giá quản trị vốn lưu động

a) Thông số khả năng thanh toán

- Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn, hoặc còn được gọi là hệ số thanh tốn

hiện hành được tính như sau (Nguyễn Thu Thủy, 2011).



Hệ số này càng cao càng chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh

nghiệp càng lớn. Tuy nhiên nếu hệ số này q cao thì lại khơng tốt vì nó phản ánh

doanh nghiệp đầu tư quá mức vào tài sản lưu động so với nhu cầu của doanh nghiệp

và tài sản lưu động dư thừa không tạo nên doanh thu.

Hệ số thanh toán ngắn hạn chấp nhận được với hệ số k = 2. Nhưng để đánh giá

hệ số thanh toán ngắn hạn của một doanh nghiệp tốt hay xấu thì ngồi việc đưa vào

hệ số k còn phải xem xét 3 yếu tố sau:

+ Bản chất ngành kinh doanh

+ Cơ cấu tài sản lưu động



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Quản trị và sử dụng vốn lưu động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×