Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



thực hiện. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu

động (TSLĐ), còn về hình thái hiện vật được gọi là VLĐ của doanh nghiệp (VLĐ).

Tài sản lưu động của doanh nghiệp bao gồm tài sản lưu động sản xuất và tài

sản lưu động lưu thông.

+ TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất

được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư liệu

lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định. Thuộc về TSLĐ sản xuất gồm:

Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở

dang, công cụ lao động nhỏ.

+ TSLĐ lưu thông là những tài sản lưu động nằm trong q trình lưu thơng

gồm: Sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh tốn (Vũ

Duy Hào, Đàm Văn Huệ, 2009).

Q trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thơng.

Trong q trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lưu động

sản xuất và tài sản lưu động lưu thơng ln chuyển hố lẫn nhau, vận động khơng

ngừng làm cho q trình sản xuất kinh doanh được liên tục. Để hình thành nên tài

sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thơng doanh nghiệp cần phải có một

số vốn thích ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản ấy

được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

Như vậy, vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài

sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp. Nói cách khác, VLĐ là biểu hiện bằng tiền của các TSLĐ trong

doanh nghiệp. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên

vốn lưu động cũng vận động liên tục, chuyển hố từ hình thái này qua hình thái

khác.

Vốn lưu động của doanh nghiệp là vốn ứng trước về đối tượng lao động và

tiền lương tồn tại dưới hình thái nguyên vật liệu dự trữ, sản phẩm đang chế tạo,

thành phẩm, hàng hoá và tiền tệ hoặc là số vốn ứng trước về tài sản lưu động sản

xuất và tài sản lưu thông ứng ra bằng vốn lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái

sản xuất của doanh nghiệp thường xuyên và liên tục.



15



Vốn lưu động (VLĐ) (working capital) đơi khi còn được gọi là vốn lưu động

gộp (gross working capital) là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ tài sản ngắn hạn được

sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hay nói cách khác,

vốn lưu động là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp

(Nguyễn Thu Thủy, 2011).

Thuật ngữ vốn lưu động xuất phát từ một người Yankee (Hoa Kỳ) làm nghề

bán hàng rong. Vào thời điểm đó, ơng ta gọi hàng hóa đem đi bán là vốn lưu động

vì những hàng hóa này khi được đem bán sẽ mang lại cho ông ta một khoản lợi

nhuận nào đó. Ban đầu, ơng bỏ tiền túi ra để mua xe ngựa chở hàng. Xe ngựa chở

hàng được xem như tài sản cố định và khoản vốn đầu tư cho tài sản này là vốn chủ

sở hữu của ơng ta. Tuy nhiên để có được hàng hóa đem đi bán, ơng ta tiến hành vay

ngân hàng và những khoản vay này được gọi là khoản vay vốn lưu động. Thông

thường các khoản vay này sẽ được trả sau mỗi chuyến đi để chứng minh cho ngân

hàng thấy được tính an tồn của các khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho ơng ta.

Như vậy, có thể nói rằng, về lịch sử tiền thân của quản trị tài chính cổ điển chính là

quản trị vốn lưu động. Từ khi hoạt động buôn bán mới chỉ tồn tại dưới hình thức

giản đơn người ta đã biết vận dụng mối liên hệ tương quan giữa tài sản ngắn hạn và

các nguồn tại trợ ngắn hạn để thúc đẩy chu trình ln chuyển hàng hóa nhằm tìm

kiếm giá trị gia tăng (Nguyễn Thu Thủy, 2011).

1.1.1.2 Đặc điểm vốn lưu động

Vốn lưu động hồn thành một vòng tuần hồn sau một chu kỳ sản xuất.

Trong q trình đó, vốn lưu động chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản

phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện và vốn lưu

động được thu hồi.

Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động được chuyển qua nhiều hình thái

khác nhau qua từng giai đoạn. Các giai đoạn của vòng tuần hồn đó ln đan xen

với nhau mà khơng tách biệt riêng rẽ. Vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh,

quản lý vốn lưu động có một vai trò quan trọng. Việc quản lý vốn lưu động đòi hỏi

phải thường xun nắm sát tình hình luân chuyển vốn, kịp thời khắc phục những

ách tắc sản xuất, đảm bảo đồng vốn được lưu chuyển liên tục và nhịp nhàng.



16



Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính, sự vận động của vốn

lưu động được gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động. Vòng quay

của vốn càng được quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm được vốn,

giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập của doanh nghiệp,

doanh nghiệp có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không ngừng cải thiện

đời sống của công nhân viên chức của doanh nghiệp.

1.1.1.3 Phân loại vốn lưu động

Để quản lý, sử dụng VLĐ có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại VLĐ. Có

nhiều cách phân loại, mỗi cách có tác dụng riêng nhưng nhìn chung chúng đều giúp

cho người quản trị doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn ở những

kỳ trước trên những góc độ khác nhau của mục đích nghiên cứu, rút ra những bài

học kinh nghiệm và đề ra những biện pháp quản lý hiệu quả sử dụng vốn ở những

kỳ tiếp theo. Thơng thường có một số cách phân loại chủ yếu sau:

* Phân loại theo hình thái biểu hiện, VLĐ được chia thành 2 loại:

- Vốn vật tư, hàng hoá: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng

hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,

thành phẩm (Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ, 2009).

- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi

ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn

hạn (Dương Hữu Hạnh, 2009).

Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho

dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

* Phân loại theo quan hệ sở hữu, VLĐ được chia thành 2 loại:

- Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,

doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tuỳ

theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở

hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; vốn do chủ

doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra; vốn góp cổ phần trong cơng ty cổ phần; vốn góp từ



17



các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh

nghiệp (Dương Hữu Hạnh, 2009).

- Các khoản nợ: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay các

ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thơng qua phát

hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh tốn. Doanh nghiệp chỉ có

quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định (Dương Hữu Hạnh, 2009).

Cách phân loại này cho thấy cơ cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình

thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay các khoản nợ. Từ đó có các quyết

định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an ninh

tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.

* Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh

doanh (Dương Hữu Hạnh, 2009), VLĐ được chia thành 3 loại:

Theo cách phân loại này VLĐ của doanh nghiệp có thể chia thành 3 loại:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản nguyên

vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng

cụ.

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở

dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành phẩm,

vốn bằng tiền(kể cả vàng bạc, đá quý...); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn(đầu tư

chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn...) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ

ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán(các khoản phải thu, các khoản tạm

ứng...).

Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong

từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu

vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.

* Phân loại theo nguồn hình thành, VLĐ có thể chia thành các nguồn (Vũ Duy

Hào, Đàm Văn Huệ, 2009):



18



- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, trái

phiếu.

- Nguồn vốn đi vay: vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín

dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.

- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều lệ

ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình

doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

- Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá

trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.

Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp

thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh của

mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó.

Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử

dụng vốn của mình.

* Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn (Vũ Duy Hào, Đàm Văn

Huệ, 2009), VLĐ được chia thành 2 loại

Theo cách này nguồn vốn lưu động được chia thành nguồn vốn lưu động tạm

thời và nguồn vốn lưu động thường xuyên.

- Nguồn vốn lưu động tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ yếu để

đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong quá trình

sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay

ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác.

- Nguồn vốn lưu động thường xun là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm

hình thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết.

Khái quát như sau:

TSLĐ tạm thời

-TSLĐ thường xuyên cần thiết

-TSCĐ



Nguồn tạm thời

Nguồn thường xuyên



19



Việc phân loại nguồn vốn lưu động như trên giúp cho người quản lý xem xét

huy động các nguồn vốn lưu động một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng

cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp mình. Ngồi ra nó còn

giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những dự định về tổ

chức nguồn vốn lưu động trong tương lai, trên cơ sở xác định quy mô, số lượng

VLĐ cần thiết để lựa chọn nguồn vốn lưu động này mang lại hiệu quả cao nhất cho

doanh nghiệp.

1.1.2 Cơ cấu vốn lưu động

Cơ cấu vốn lưu động là quan hệ tỷ lệ giữa từng thành phần vốn lưu động

chiếm trong tổng số vốn lưu động.

Đối với những doanh nghiệp khác nhau thì cơ cấu vốn lưu động khơng giống

nhau. Việc phân tích cơ cấu vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp thấy được tình hình

phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm trong các giai đoạn luân

chuyển, xác định trọng điểm quản lý vốn lưu động cho từng doanh nghiệp để tìm

biện pháp tối ưu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong từng điều kiện cụ

thể.

1.1.2.1 Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn

a)



Vốn bằng tiền

Vốn bằng tiền là tài sản tồn tại trực tiếp dưới dạng tiền tệ bao gồm: Tiền và

các khoản tương đương tiền. Tiền mặt bao gồm một phần tiền mặt tại doanh nghiệp

và phần lớn là tiền gửi ngân hàng. Trong khi đó các khoản tương đương tiền bao

gồm các khoản đầu tư ngắn hạn mà có thể nhanh chóng chuyển thành tiền mặt trong

thời gian ngắn (Nguyễn Thu Thủy, 2011).

Trong quá trình kinh doanh, vốn bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả

năng thanh toán các khoản nợ, để mua sắm vật tư hàng hoá, tương ứng với quy mơ

kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo tài chính cho doanh nghiệp hoạt động

bình thường. Tuy nhiên nếu dự trữ tiền quá nhu cầu thực tế của hoạt động sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gây hiện tượng ứ đọng vốn làm cho hiệu quả sử

dụng vốn bị giảm đi, nhưng nếu dự trữ vốn bằng tiền quá thấp sẽ gây khó khăn cho



20



doanh nghiệp trong chi tiêu, đầu tư mua sắm hàng hoá, hạn chế mức luân chuyển

hàng hố.

b)



Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

Chính vì tiền là tài sản không sinh lãi nên các doanh nghiệp muốn duy trì một

lượng tài sản có tính lỏng cao thường để chúng dưới dạng đầu tư tài chính ngắn hạn

hơn là giữ tiền. Các khoản đầu tư ngắn hạn chính là trái phiếu, cổ phiếu được mua

bán ở thị trường tài chính một cách dễ dàng theo mức giá đã định (Vũ Duy Hào,

Đàm Văn Huệ, 2009).

Khác với giữ tiền, việc đầu tư tài chính ngắn hạn này mang lại thu nhập cho

doanh nghiệp. Đó là tiền lãi của trái phiếu, cổ phiếu và sự tăng giá thị trường của cổ

phiếu. Trong các khoản mục của tài sản lưu động thì đầu tư tài chính ngắn hạn có

tính lỏng chỉ kém vốn bằng tiền và hơn các khoản phải thu, dự trữ tồn kho. Với sự

phát triển của cơng nghệ thơng tin hiện nay, người ta có thể mua bán các khoản đầu

tư tài chính ngắn hạn này chỉ bằng một lần gọi điện thoại. Từ tiền sang đầu tư tài

chính ngắn hạn và ngược lại, đó là sự chuyển dịch rất linh động, là lĩnh vực để các

nhà tài chính thể hiện tiềm năng của mình. Khi lượng tiền trong doanh nghiệp lên

cao hơn bình thường, các nhà tài chính sẽ chuyển bớt tiền thành chứng khốn ngắn

hạn để có thêm thu nhập cho doanh nghiệp và ngược lại, khi lượng tiền giảm xuống

dưới mức bình thường thì họ lại bán bớt chứng khốn để duy trì lượng tiền mặt luôn

luôn ở mức hợp lý.

1.1.2.2 Hàng tồn kho

Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh

doanh thì vật tư, sản phẩm dở dang, hàng hoá tồn kho là những bước đệm cần thiết

cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

Hàng tồn kho tồn tại dưới dạng nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành

phẩm. Hàng tồn kho là thành tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp. Tương tự các khoản phải thu, hàng tồn kho phụ thuộc và

doanh thu bán hàng. Tuy nhiên khác với các khoản phải thu, hàng tồn kho phải

được xác định trước khi có doanh thu bán hàng (Nguyễn Thu Thủy, 2011).



21



Quản lý dự trữ là tính tốn, duy trì một lượng nguyên vật liệu, sản phẩm dở

dang, thành phẩm hàng hoá với cơ cấu hợp lý đảm bảo sản xuất kinh doanh được

liên tục và có hiệu quả. Chi phí về dự trữ hợp lý khơng chỉ là chi phí về trơng coi và

bảo quản mà còn là chi phí cơ hội của vốn. Việc dự trữ mặc dù có hao phí nhưng nó

cũng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

1.1.2.3 Các khoản phải thu

Đây là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành vốn lưu động. Khi

doanh nghiệp bán sản phẩm, hàng hố của mình cho những doanh nghiệp khác,

thông thường sự vận động- giao nhận của tiền và hàng hố khơng đồng thời nên

phát sinh quan hệ tín dụng thương mại và chúng tạo nên các khoản nợ phải thu

khách hàng. Quy mô các khoản phải thu không chỉ phụ thuộc vào quy mô kinh

doanh của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào loại hình, chính sách tín dụng của

doanh nghiệp. Nói chung một doanh nghiệp sản xuất thì các khoản phải thu ít hơn

của doanh nghiệp thương mại.

1.1.2.4 Tài sản lưu động khác

Đây là những khoản: Tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tài

sản thiếu chờ xử lý, các khoản ký cược, ký quỹ...

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu vốn lưu động

* Nhân tố về mặt sản xuất: gồm các nhân tố qui mơ sản xuất, tính chất sản

xuất, trình độ sản xuất, qui trình cơng nghệ, độ phức tạp của sản phẩm khác nhau thì

tỷ trọng vốn lưu động ở các khâu dự trữ - sản xuất - lưu thông cũng khác nhau

(Dương Hữu Hạnh, 2009).

* Nhân tố về cung ứng tiêu thụ

Trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường cần rất nhiều vật tư,

hàng hoá và do nhiều đơn vị cung cấp khác nhau. Nếu đơn vị cung ứng vật tư, hàng

hoá càng nhiều, càng gần thì vốn dự trữ càng ít.

Trong điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng có ảnh hưởng nhất định đến cơ cấu

vốn lưu động. Khối lượng tiêu thụ sản phẩm mỗi lần nhiều hay ít, khoảng cách giữa



22



doanh nghiệp với đơn vị mua hàng dài hay ngắn đều trực tiếp ảnh hưởng đến cơ

cấu vốn lưu động.

* Nhân tố về mặt thanh toán

Sử dụng thể thức thanh toán khác nhau thì vốn chiếm dụng trong q trình

thanh tốn cũng khác nhau. Do đó nó ảnh hưởng đến việc tăng giảm vốn lưu động

chiếm dùng ở khâu này.

1.2 Quản trị vốn lưu động

1.2.1 Khái niệm và nội dung quản trị vốn lưu động

1.2.1.1 Khái niệm, nguyên tắc, mục tiêu và ý nghĩa của quản trị vốn lưu động

- Khái niệm: Quản trị VLĐ là q trình phân tích, hoạch định, lựa chọn, ra các

quyết định, tổ chức thực hiện song song với việc kiểm soát, điều chỉnh một cách

hợp lý các quyết định tài chính ngắn hạn liên quan trực tiếp tới VLĐ trong doanh

nghiệp để qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như thực

hiện được mục tiêu tối đa hóa giá trị cho doanh nghiệp (Bùi Văn Vần, Vũ Văn Ninh,

2015).

- Nguyên tắc quản trị vốn lưu động:

+ Cần xác định được nhu cầu vốn lưu động cần thiết, tối thiểu trong kỳ kinh

doanh để đảm bảo đủ vốn lưu động cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh

được tiến hành thường xuyên liên tục, tránh ứ đọng vốn, thúc đẩy tốc độ luân

chuyển vốn dẫn đến nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

+ Tổ chức khai thác tốt các nguồn tài trợ vốn lưu động: Doanh nghiệp cần khai

thác triệt để các nguồn vốn nội bộ và các khoản vốn có thể chiếm dụng một cách

hợp pháp, thường xuyên. Nếu số vốn lưu động còn thiếu, doanh nghiệp tiếp tục khai

thác đến nguồn vốn bên ngoài như: Vốn liên doanh, vốn vay, phát hành trái phiếu.

Khi huy động các nguồn vốn bên ngoài cần lưu ý đến yếu tố lãi suất tiền vay.

+ Phải ln có giải pháp bảo tồn và phát triển vốn lưu động.

+ Phải thường xuyên tiến hành phân tích tình hình quản trị vốn lưu động thơng

qua các chỉ tiêu tài chính. Nhờ các chỉ tiêu này mà nhà quản trị có thể kịp thời điều

chỉnh các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động.



23



- Mục tiêu:

+ Tối đa hóa lợi nhuận thơng qua việc quản trị tốt vốn lưu động.

+ Đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận cao hơn tốc độ tăng vốn lưu động.

+ Tối thiểu hóa các chi phí dự trữ nguyên vật liệu, tiền và tương đương tiền,

các khoản phải thu nhưng vẫn đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh

đạt hiệu quả cao nhất.

+ Đảm bảo duy trì cơ cấu vốn lưu động hợp lý: Để đảm bảo nguyên tắc này

doanh nghiệp phải phân bổ lượng vốn cho từng bộ phận của vốn lưu động một cách

hợp lý, phù hợp với tính chất, đặc điểm kinh doanh của ngành và phù hợp với điều

kiện cụ thể của doanh nghiệp.

+ Đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp luôn ở mức tốt: Công tác

quản trị vốn lưu động ảnh hưởng tới một số hệ số khả năng thanh toán của doanh

nghiệp. Hệ số khả năng thanh tốn thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Một doanh nghiệp đảm bảo được hệ số khả năng thanh toán tốt sẽ tạo được tin

tưởng ở bạn hàng và chủ nợ, uy tín của doanh nghiệp vì thế được nâng cao.

+ Đảm bảo nhu cầu vốn cho sản xuất và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả:

Mỗi một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần phải có một lượng vốn lưu động

thường xuyên tương ứng với quy mô mà doanh nghiệp đang hoạt động. Lượng vốn

này giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục.

- Ý nghĩa:

+ Quản trị vốn lưu động đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động qua các

giai đoạn của quá trình sản xuất. Tốc độ này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng

vốn lưu động càng lớn và ngược lại (Nguyễn Minh Kiều, 2006).

+ Quản trị vốn lưu động đem lại hiệu quả cao nhất khi mà số vốn lưu động cần

cho một đồng luân chuyển là ít nhất. Quan niệm này thiên về chiều hướng càng tiết

kiệm được bao nhiêu vốn lưu động cho một đồng ln chuyển thì càng tốt. Nhưng

nếu hàng hóa sản xuất ra khơng tiêu thụ được thì hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng

không cao.



24



+ Quản trị vốn lưu động giúp cho thời gian ngắn nhất để vốn lưu động quay

được một vòng. Quan niệm này có thể nói là hệ quả của quan niệm trên.

+ Quản trị vốn lưu động rất cần thiết khi đầu tư thêm vốn lưu động một cách

hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm

bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn lưu động (Ngô Kim Phượng,

2009).

1



Nội dung quản trị vốn lưu động

a. Dự toán vốn lưu động

Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết doanh nghiệp

có thể sử dụng các phương pháp khác nhau. Tuỳ theo điều kiện cụ thể doanh

nghiệp có thể lựa chọn phương pháp thích hợp.

Sau đây là một số phương pháp chủ yếu:

- Phương pháp trực tiếp:

Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng

trực tiếp đến việc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu dùng sản phẩm để xác định

nhu cầu của từng khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn

bộ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp (Ngô Kim Phượng, 2009).

Sau đây là phương pháp xác định nhu cầu VLĐ cho từng khâu kinh doanh

của doanh nghiệp (Ngô Kim Phượng, 2009).

+ Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu dự trữ sản xuất:

VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: giá trị các loại nguyên vật liệu

chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, vật đóng gói, cơng cụ, dụng cụ.

* Xác định nhu cầu vốn vật liệu chính

Vnl= Mn x Nnăng lực

Trong đó: Vnl:



Nhu cầu vốn NVL chính năm kế hoạch



Mn:



Mức tiêu dùng bình qn 1 ngày về chi phí VLC



Nl:



Số ngày dự trữ hợp lý



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×