Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



1.1.2 Hệ thống thanh toán điện tử

1.1.2.1 Khái niệm ngân hàng điện tử

Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi mọi người đều q bận rộn với cơng việc

của mình thì các dịch vụ được cung cấp dựa trên các ứng dụng mới về công nghệ đang

là một trảo lưu không thể thiếu của cuộc sống. Ngân hàng với vai trò là người cung cấp

các dịch vụ cao cấp, dịch vụ tài chính cho các khách hàng đang cố gắng làm cho việc

giao dịch qua ngân hàng trở nên ngày càng nhanh chóng và thuận tiện hơn. Các dịch

vụ ngân hàng điện tử lần lượt ra đời trên thế giới từ các hệ thống thanh toán liên ngân

hàng nhỏ lẻ phát triển thành những hệ thống thanh tốn tồn cầu, các máy rút tiền tự

động ATM được lần đầu tiên ra mắt công chúng vào năm 1969 tại Chemical Bank ở

New York (Mỹ). Sự ra đời của máy ATM thực sự là một dấu mốc quan trọng trong sự

phát triển của ngân hàng điện tử, ngân hàng Chemical đã tuyên bố: “Kể từ ngày 2/9,

ngân hàng chúng tôi sẽ mở cửa lúc 9 giờ sáng và sẽ không bao giờ đóng cửa nữa". Đó

thực sự là một sự tiện lợi tuyệt với cho các chủ sở hữu thẻ tín dụng.

Tuy chưa có một định nghĩa đầy đủ về ngân hàng điện tử nhưng ngân hàng điện

tử được hiểu như là một phương thức cung cấp các sản phẩm mới và sản phẩm truyền

thống đến người tiêu dùng thông qua con đường điện tử và các kênh truyền thông

tương tác. Các chuyên gia công nghệ ngân hàng cho rằng, xu hướng tồn cầu hố mơi

trường kênh phân phối điện tử trong lĩnh vực ngân hàng đang dịch chuyển sự tập trung

từ chú trọng sản phẩm thành chú trọng khách hàng.

Các dịch vụ ngân hàng điện tử ngày nay không chỉ giới hạn trong các kênh

truyền thống như ATM mà phát triển dựa trên một nền tảng khoa học công nghệ mới

mà Internet chính là cầu nối mang lại sự phát triển cho ngân hàng điện tử. Sự tiện lợi

của Internet khi mà bạn có thể ngồi ở bất cứ đâu trong phòng riêng, tại văn phòng cơ

quan hay thậm chí tại một quán cafe Internet mà vẫn có thể sử dụng được các dịch vụ

ngân hàng. Internet đã tạo ra một nền tảng lớn lao cho sự phát triển dựa trên một hệ

thống mạng toàn cầu (world wide web). Các ứng dụng mua sắm trực tuyến như sendo,



20



tiki, lazada, shopee… ngày càng phổ biến thì nhu cầu đối với các cách thức thanh tốn

trực tuyến thơng qua các dịch vụ ngân hàng điện tử lại càng lớn do việc mua sắm qua

mạng đặt ra yêu cầu đối với phương thức thanh tốn nhanh chóng, tiện lợi mà lại an

tồn, đảm bảo được lợi ích cho cả hai bên mua và bán.

1.1.2.2 Khái niệm hệ thống thanh toán điện tử

Hệ thống thanh toán điện tử đã ra đời từ lâu và vẫn đang phát triển vượt bậc.

Thanh toán điện tử là kinh doanh trên môi trường điện tử nhằm kết nối người bán và

người mua. Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để tạo thuận lợi

cho cơng việc kinh doanh. Hệ thống thanh tốn điện tử là một tập hợp công nghệ, ứng

dụng và quy trình kinh doanh nhằm liên kết tổ chức, khách hàng và cộng đồng thông

qua những giao dịch điện tử và sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thơng tin. (tài liệu đào

tạo về TTĐT của Microsoft - Fundamentals of Ebusiness)

1.1.2.3 Một số các cơng cụ thanh tốn trong hệ thống thanh toán điện tử

a, Các điểm chấp nhận thanh toán( EFTPOS- Electronic Fund Transfer At Point

Of Sale)

Các thiết bị vi tính được trang bị trong siêu thị hay tại các cửa hàng cho phép

khách hàng thanh toán một cách nhanh chóng các hóa đơn cho hàng hóa và dịch vụ tại

nơi mua hàng thông qua hệ thống điện tử. Hệ thống này được đặt tại các điểm bán lẻ

khách hàng sau khi lựa chọn loại hàng hóa mình cần thì tiến hành thanh tốn bằng cách

đưa thẻ cho nhân viên thanh toán kiểm tra thẻ trên máy. Khách hàng xác nhận giao

dịch bằng cách kí vào hóa đơn hay sử dụng mã số cá nhân PIN (Personal Identity

Number). Ngân hàng sau khi có thơng tin về giao dịch anfy sẽ lập tức hạch toán nợ vào

tài khoản của khách hàng và ghi có tương ứng vào tài khoản cảu cảu hàng. Hoạt động

thanh toán sử dụng thẻ qua các máy thanh toán tại điểm bán hàng làm giảm chi phí về

in ấn hóa đơn, kiểm đếm cũng như làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thơng. Cả thẻ tín

dụng (Credit Card) và thẻ ghi nợ (Debit Card) đều có thể sử dụng hình thức này.



21



Đây là hình thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt thơng dụng hiện nay. Ở các

nước hiện đại, việc sử dụng tiền mặt để thanh tốn cho hàng hóa hay dịch vụ là việc

hiếm gặp, trừ các trường hợp mà giá trị hóa đơn nhỏ như việc bạn đi mua 1 cốc cafe

hay thanh toán cho 1 chiếc pizza gọi đến nhà. Điều này góp phần đáng kể đến việc làm

giảm lượng tiền mặt lưu thơng vì lượng tiền được sử dụng trong hoạt động mua sắm

tiêu dùng là khá lớn. Hiện nay tỷ lệ sử dụng tiền mặt ở Việt Nam là rất cao, lên tới hơn

90% việc thanh toán là sử dụng tiền mặt, Đặc biệt là đối với các cá nhân khi mà việc

thanh tốn thơng qua các điểm chấp nhận thanh tốn còn hạn chế trên nhiều phương

diện, nhiều khi khơng thuận tiện hoặc gây khó khăn cho khách hàng. Còn đối với các

doanh nghiệp thì việc sử dụng tiền mặt tuy tỷ lệ có thấp hơn nhưng cũng ở mức khá

sao so với mức trung bình của thế giới

b, Ngân hàng trực tuyến (Internetbanking)

Internet Banking là kênh phân phối dịch vụ của ngân hàng cho phép khách

hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản tại nhà, văn phòng, công ty.

Để sử dụng được dịch vụ này khách hàng cần có:

 Máy tính cá nhân.

 Điện thoại

Dịch vụ ngân hàng điện tử này chủ yếu phục vụ đối tượng là khách hàng doanh

nghiệp, quy trình giao dich được thực hiện phức tạp hơn để đảm bảo giao dịch không

bị lợi dụng một cách bất hợp pháp. Đầu tiên, người soạn thảo lệnh, thường là kế toán

của doanh nghiệp, dùng mã số truy cập và mật khẩu của mình để đăng nhập vào trang

chủ của ngân hàng lập lệnh hay sử dụng các mẫu có sẵn, sau đó dùng chữ kí điện tử để

xác nhận. Bước tiếp theo là xác nhận lệnh. Người xác nhận lệnh, thường là lãnh đạo

doanh nghiệp, cũng dùng mã số truy cập và mật khẩu của minh đăng nhập vào trang

chủ của ngân hàng ký xác nhận lệnh cụ thể như kiểm tra số tiền, số tài khoản



22



nhận....Nếu chứng từ giao dịch đúng so với chứng từ gốc, lãnh đạo doanh nghiệp sử

dụng chữ kí điện tử xác nhận lệnh, lúc này lệnh mới bắt đầu có hiệu lực.

Ngồi ra, ngân hàng sẽ thống nhất với doanh nghiệp một số quy định khác nhằm

đảm bảo an toán cho tài khoản như: hạn mức giao dịch (bao nhiêu lần/ngày, số tiền/1

lần giao dịch)...

Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch thực hiện trên Internet Banking

chuyển khoản, thanh tốn hóa đơn, kiểm tra số dư, kiểm tra giao dịch nợ/có, liệt kê tài

khoản, chuyển đổi ngoại tệ, cung cấp các thơng tin về biểu phí dịch vụ, lãi suất tiền gửi

và nhiều tiện ích khác nữa.

Internet Banking mang lại cho khách hàng nhiều tiện ích, tiêu biểu như tiết kiệm

thời gian, chi phí đi lại vì không phải trực tiếp đến các chi nhánh ngân hàng, thuận tiện

giao dịch mọi lúc mọi nơi, giám sát được tình hình tài khoản của mình hay của doanh

nghiệp một cách nhanh chóng, chính xác.

c, Ví điện tử

Trong hệ thống thanh tốn điện tử thì ví điện tử cũng là một cơng cụ thanh tốn

hữu hiệu. Đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã cấp phép cho hơn 20 ví điện tử được cung

ứng các dịch vụ trung gian thanh toán tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong số đó chỉ có vài

cái tên được dùng nhiều và phổ biến trên thị trường như:

Momo

Momo là một ứng dụng thanh tốn thơng minh thuộc công ty CP Dịch vụ Di

động trực tuyến – M_Service. Cho đến nay, ứng dụng ví Momo được coi là đơn vị tiên

phong trong lĩnh vực thanh toán di động tại Việt Nam khi có tới hơn 5 triệu người

dùng, đối tác với 12 Ngân hàng và thẻ quốc tế. Trong năm 2016, Momo nhận được một

khoản đầu tư khủng 28 triệu đô từ Standard Chartered và Goldman Sachs để phát triển

sản phẩm.

Bankplus



23



Bankplus là dịch vụ ngân hàng di động khơng còn xa lạ với nhiều người. Ra mắt

lần đầu tiên vào năm 2009 với hình thức một ứng dụng được tích hợp vào SIM điện

thoại, dịch vụ BankPlus do Viettel phối hợp với MBBank triển khai cho phép người

dùng có ngay một tài khoản Bankplus để thực hiện các giao dịch như tra cứu số dư

,lịch sử giao dịch, nộp/rút tiền, chuyển tiền, ví điện tử, thanh tốn hóa đơn, nạp tiền cho

thuê bao di động trả trước của Viettel, và thanh tốn các loại hóa đơn khác…

d, QRPAY

Thiết bị di động đang làm thay đổi Ngành Tài chính - Ngân hàng, đồng thời tạo

ra nhiều cách thức để thanh toán hơn bao giờ hết. Các ngân hàng tại Việt Nam đã đẩy

mạnh đầu tư sang lĩnh vực thanh tốn qua di động để hướng tới nhóm khách hàng sử

dụng Smartphone. Một trong những hình thức thanh tốn trên di động đang được quan

tâm là QR Pay - thanh toán bằng cách quét QR Code (Quick response code - mã phản

hồi nhanh, mã vạch ma trận).

QR Code sẽ được kết hợp với thanh tốn điện tử thay vì chỉ dùng để quét ra

thông tin về website, số điện thoại, địa chỉ… của doanh nghiệp như trước đây. Người

tiêu dùng cũng có thể mua hàng trên website, mua sắm tại các trung tâm thương mại,

cửa hàng tiện ích… mà không cần dùng tiền mặt hay các loại thẻ.

Đây là hình thức thanh tốn đơn giản, khơng cần đầu tư nhiều cho cơ sở hạ tầng,

có thể dễ dàng triển khai rộng, nhanh với chi phí thấp. QR Pay có thể ứng dụng đa

dạng trong đời sống như: Thanh toán tại quầy, thanh tốn trên hóa đơn, thanh tốn trên

website, Facebook, Catalogue, tờ rơi, biển quảng cáo... Tất cả các kênh quảng cáo đều

có thể trở thành kênh bán hàng hiệu quả. Ngồi ra, thanh tốn QR Pay rất an toàn và

bảo mật với mọi giao dịch cá nhân.

1.1.3 Khái niệm phát triển hệ thống thanh toán điện tử

Phát triển hệ thống thanh toán điện tử là trách nhiệm chung của cả ngành ngân

hàng nhằm đạt tới các mục tiêu mở rộng phạm vi cung ứng dịch vụ thanh toán, hướng

tới mơ hình lý tưởng của một Ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự



24



thay đổi hồn tồn trong mơ hình kinh doanh và phong cách quản lý. Ngân hàng sẽ tận

dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ các giải pháp tài

chính cho khách hàng với chất lượng tốt nhất. Từ những bước ban đầu là cung cấp các

sản phẩm và dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sử

dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối

tượng khách hàng chuyên biệt. (Theo Briggs, A. & Brooks, L. (2011). Phát triển hệ

thống thanh toán điện tử ở một nước đang phát triển: Vai trò của các sắp xếp thể chế.

Tạp chí điện tử về các hệ thống thông tin ở các nước đang phát triển, 49 (3), 1-16 –

“Briggs, A. & Brooks, L. (2011). Electronic Payment Systems Development in a

Developing Country: The Role of Institutional Arrangements. The Electronic Journal

on Information Systems in Developing Countries, 49(3), 1-16”).

1.1.4 Vai trò của hệ thống thanh tốn điện tử của ngân hàng thương mại

Việc phát triển hệ thống thanh toán điện tử tiên tiến giúp chu chuyển vốn tăng

nhanh và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu thanh toán của nền kinh tế đất nước đang thay

đổi nhanh chóng. Chính điều đó sẽ làm cho luồng tiền từ mọi phía chảy vào Ngân hàng

sẽ rất lớn và được điều hòa với hệ số hữu ích cao, làm thay đổi cơ cấu tiền lưu thông,

chuyển từ nền kinh tế tiền mặt qua nền kinh tế chuyển khoản.

Thông qua hệ thống thanh tốn điện tử, Ngân hàng có thể kiểm sốt hầu hết các

chu chuyển tiền tệ, cũng từ đó có thể hạn chế được các vụ rửa tiền, chuyển tiền bất hợp

pháp, tham nhũng…

Với các nguồn dữ liệu được truy cập kịp thời, chính xác qua hệ thống mạng

thơng tin, Ngân hàng có thể phân tích, lựa chọn các giải pháp, sử dụng các cơng cụ

điều tiết, kiểm sốt cung ứng tiền tệ tối ưu nhằm điều hòa, ổn định tiền tệ đối nội và đối

ngoại chủ động, có đủ điều kiện để đánh giá tình hình cán cân thương mại, cán cân

thanh toán, và diễn biến tốc độ phát triển kinh tế. Ngân hàng sẽ nâng cao hơn vai trò

của mình, phát huy hết chức năng của mình nếu như việc ứng dụng Ngân hàng điện tử

ngày càng được đẩy mạnh trong hệ thống Ngân hàng.



25



Mạng thông tin giúp cho hoạt động thanh tra, giám sát Ngân hàng chặt chẽ, kịp

thời chấn chỉnh những vi phạm, giữ vững an toàn hệ thống. Việc quản lý hệ thống kho

quỹ, in ấn tiền, tổ chức điều hành văn phòng, quản lý hồ sơ cán bộ, đào tạo huấn luyện

nghiệp vụ, hội họp từ xa trong nước và quốc tế… đều có thể ứng dụng qua mạng thông

tin sẽ rất thuận tiện, giảm được đáng kể chi phí đi lại, chi phí tổ chức, tiết kiệm thời

gian…

Đầu tư tín dụng cũng sẽ thay đổi lớn. Các dự án đầu tư cũng có thể được đưa lên

mạng để chào mời các Ngân hàng thương mại. Máy tính điện tử phân tích các dữ liệu

truy cập, đưa ra các phương án để lựa chọn tối ưu. Ngân hàng thương mại thấy rõ

những điều cần tư vấn để bổ khuyết vào dự án đảm bảo khả năng thực thi.

Ngồi ra, mạng thơng tin cung cấp cho các tổ chức tín dụng nắm được diễn biến

của các thị trường: tiền tệ, chứng khoán, hối đoái. Những diễn biến về lãi suất, giá cổ

phiếu, tỷ giá hối đoái. Các luồng vốn khả dụng được chào mời trên thị trường liên

Ngân hàng phản ánh qua mạng sẽ giúp cho Ngân hàng có các chính sách đúng đắn và

hoạch định các phương án hoạt động phù hợp

Có thể nói, hệ thống thanh tốn điện tử có vai trò vơ cùng to lớn trong hệ thống

Ngân hàng, nó đang tác động đến các Ngân hàng, xúc tiến việc sáp nhập, hợp nhất,

hình thành các Ngân hàng lớn, nâng cao nguồn vốn tự có đủ sức trang bị cơng nghệ

thơng tin hiện đại để đương đầu với cuộc cạnh tranh khốc liệt giành lợi thế về mình.

Mặt khác, nó cũng đẩy mạnh việc liên kết, hợp tác giữa các Ngân hàng ngày

càng chặt chẽ, phát triển đa dạng, mạnh mẽ, rộng khắp trong nước và thế giới… để

thiết lập các đề án phát triển nghiệp vụ kinh doanh sản phẩm và dịch vụ mới, sử dụng

mạng lưới thanh toán điện tử, thơng tin rủi ro, tư vấn pháp luật, kiểm tốn phòng ngừa,

lập quỹ bảo tồn tiền gửi, xây dựng các chương trình đồng tài trợ, lập chương trình

phối hợp đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ nhân viên, kể cả các hình thức hợp tác trong

lĩnh vực dịch vụ và văn hóa xã hội…



26



1.2. Sự phát triển của hệ thống thanh toán điện tử

1.2.1 Các giai đoạn phát triển của Ngân hàng điện tử

Năm 1989, Ngân hàng tại Mỹ (WellFargo), lần đầu tiên cung cấp dịch vụ Ngân

hàng qua mạng, đến nay, có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm, thành công cũng như thất bại

trên con đường xây dựng hệ thống Ngân hàng điện tử hoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho

khách hàng. Tổng kết những mơ hình đó, nhìn chung, hệ thống Ngân hàng điện tử được

phát triển qua những giai đoạn sau:

-



Website quảng cáo (Brochure-Ware): Là hình thái đơn giản nhất của Ngân



hàng điện tử. Hầu hết các NH khi mới bắt đầu xây dựng Ngân hàng điện tử là thực hiện

theo mơ hình này. Việc đầu tiên chính là xây dựng một website chứa những thơng tin

về NH, về sản phẩm lên trên mạng nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc,…

thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngồi những kênh thơng tin truyền thống

(báo chí, truyền hình, …), mọi giao dịch của NH vẫn thực hiện qua hệ thống phân phối

truyền thống, đó là các chi nhánh Ngân hàng.

-



Thương mại điện tử (E-commerce): với TMĐT, Ngân hàng sử dụng Internet



như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như: xem thông tin tài

khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khốn… Internet chỉ đóng vai trò như một dịch

vụ cộng thêm để tạo thuận lợi thêm cho khách hàng. Hầu hết, các Ngân hàng vừa và

nhỏ đang ở hình thái này.

-



Quản lý điện tử (E-business): Trong hình thái này, các xử lý cơ bản của Ngân



hàng cả ở phía khách hàng (front-end) và phía người quản lý (back-end) đều được tích

hợp với Internet và các kênh phân phối khác. Giai đoạn này được phân biệt bởi sự gia

tăng về sản phẩm và chức năng của NH với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và

quan hệ của khách hàng đối với NH. Hơn thế nữa, sự phối hợp, chia sẽ dữ liệu giữa hội

sở NH và các kênh phân phối như chi nhánh, mạng Internet, mạng không dây… giúp

cho việc xử lý yêu cầu và phục vụ khách hàng được nhanh chóng và chính xác hơn.

Internet và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẽ thông tin giữa NH, đối tác,



27



khách hàng, cơ quan quản lý… Một vài NH tiên tiến trên thế giới đã xây dựng được

mơ hình này và hướng tới xây dựng được một Ngân hàng điện tử hoàn chỉnh.

-



Ngân hàng điện tử (E-bank): chính là mơ hình lý tưởng của một Ngân hàng



trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hồn tồn trong mơ hình kinh

doanh và phong cách quản lý. Những NH này sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của mạng

toàn cầu nhằm cung cấp tồn bộ các giải pháp tài chính cho khách hàng với chất lượng

tốt nhất. Từ những bước ban đầu là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiện hữu thơng

qua nhiều kênh riêng biệt, NH có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp

nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tượng khách hàng chuyên biệt.

1.2.2 Sự phát triển của hệ thống thanh toán điện tử tại các Ngân hàng thương

mại Việt Nam

Trước đây, nhiệm vụ chủ yếu của ngân hàng là quản lý việc phát hành giấy bạc

và tổ chức lưu thông tiền tệ, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất…

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1955-1975), việc tổ chức lưu thông tiền tệ chủ

yếu qua vận chuyển và thanh toán tiền mặt. Căn cứ kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản

phẩm, tiền lương… của từng tỉnh, tiền mặt được phân phối đi các địa phương bằng xe

chuyên dụng và giao cho NHNN chi nhánh các tỉnh quản lý.

Sau chiến tranh, các khoản bội chi của Chính phủ phải dựa vào việc in tiền để

duy trì, thêm vào đó vòng xoáy giá- lương- tiền đã làm nên lạm phát phi mã tới 774,7%

vào năm 1986 và luôn nằm ở mức 2 đến 3 chữ số cho tới đầu thập kỷ 90 của thế kỷ

trước. Trước diễn biến trên cùng với các nhu cầu cấp thiết, Thống đốc NHNN đã ra

quyết định số 06/1992. Theo quyết định này, khách hàng đã không phải tự vận chuyển

những khối lượng tiền mặt lớn giữa các địa phương mà chỉ cần nộp tiền tại NHNN địa

phương thì người nhận ở nơi khác có thể rút được tiền. Giải pháp này đã giúp thu về

một lượng tiền lớn từ lưu thơng, điều hòa cung ứng tiền giữa các tỉnh, bảo vệ an toàn là

giảm chi phí trong hoạt động sản xuất và lưu thơng hàng hóa.



28



Tiếp theo quyết định 06/1992, Thống đốc NHNN đã ra quyết định 39/1992 triển

khai thí điểm chuyển tiền điện tử qua NHNN. Đây là lần đầu tiên NHNN áp dụng cơng

nghệ thơng tin trong hoạt động thanh tốn, đáp ứng nhu cầu thanh tốn Séc cho các

khách hàng ngồi phạm vi tỉnh, thành phố. Hệ thống chuyển tiền điện tử qua NHNN là

tiền thân của các hệ thống thanh toán điện tử hiện đại đã được triển khai trong giai

đoạn đổi mới.

Hiện nay, các NHTM đã xây dựng được cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, hệ

thống thông tin quản lý, đưa vào sử dụng các sản phẩm dịch vụ mới an toàn, hiệu quả,

hiện đại như thẻ ATM, dịch vụ thanh tốn trong ngày, quản lý tín dụng và chuyển

tiền…

1.2.3 Tính ưu việt của hệ thống thanh tốn điện tử

a) Một số lợi ích chung

- Hồn thiện và phát triển thương mại điện tử:

Xét trên nhiều phương diện, thanh toán điện tử là nền tảng của các hệ thống

thương mại điện tử, khả năng thanh toán điện tử đã tạo nên sự khác biệt cơ bản giữa

thương mại điện tử với các ứng dụng khác cung cấp trên Internet. Do vậy, việc phát

triển thanh toán điện tử sẽ hồn thiện hóa thương mại điện tử theo đúng nghĩa của nó:

giao dịch hồn tồn qua mạng. Một khi thanh tốn trong thương mại điện tử an tồn,

tiện lợi, việc phát triển thương mại trên toàn cầu là một điều tất yếu với dân số đông

đảo và không ngừng tăng của mạng Internet.

- Tăng q trình lưu thơng tiền tệ và hàng hóa:

Thanh tốn điện tử giúp thực hiện thanh tốn nhanh, an tồn, đảm bảo quyền lợi

cho các bên tham gia thanh toán, hạn chế rủi ro so với thanh tốn bằng tiền mặt, mở

rộng thanh tốn khơng dùng tiền mặt, tạo lập thói quen mới trong dân chúng về thanh

toán hiện đại.



29



- Hệ thống thanh toán điện tử tạo ra một loại tiền mới - tiền số hóa - không chỉ

thỏa mãn các tài khoản ngân hàng mà hồn tồn có thể dùng để mua hàng hóa thơng

thường. Q trình giao dịch đơn giản và nhanh chóng, chi phí giao dịch giảm bớt đáng

kể, và giao dịch sẽ trở nên an tồn hơn.

b) Một số lợi ích đối với ngân hàng và các doanh nghiệp

*Tăng doanh thu

-



Mở rộng hệ thống khách hàng và tăng khả năng tiếp cận với thị trường thế giới



-



Tăng doanh số bán hàng từ những khách hàng hiện tại



-



Tăng doanh số bán hàng từ các dịch vụ tạo ra giá trị khác



*Giảm chi phí tăng hiệu quả kinh doanh:

-



Tiết kiệm chi phí kinh doanh.



-



Tiết kiệm được chi phí bán hàng



-



Tiết kiệm chi phí giao dịch



Phí giao dịch Ngân hàng điện tử được đánh giá là ở mức rất thấp so với giao dịch

truyền thống, đặc biệt là giao dịch qua Internet, từ đó góp phần tăng thu nhập cho

Ngân hàng. Số liệu về phí giao dịch Ngân hàng khảo sát ở Mỹ đã minh chứng cho

điều đó:

Bảng 1.1 Số liệu về phí giao dịch ngân hàng

Stt



Hình thức giao dịch



Phí bình qn 1 giao dịch (USD)



1



Giao dịch qua nhân viên Ngân hàng



1,07



2



Giao dịch qua điện thoại



0,54



3



Giao dịch qua ATM



0,27



4



Giao dịch qua Internet



0,015



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×