Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hồn thành được một nghiệp vụ

tài chính nhất định. Trong thời điểm hiện nay, hoạt động của các ngân hàng thương

mại ngày càng đa dạng và phức tạp, do đó việc nhận diện và quản trị rủi ro là hết

sức cần thiết.

1.1.1.2. Phân loại rủi ro trong NHTM

Các loại rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải:

- Rủi ro tín dụng: là rủi ro phát sinh trong trường hợp khách hàng khơng thanh

tốn đầy đủ hoặc đúng hạn cả gốc và lãi của khoản vay.

- Rủi ro thanh khoản: là tình trạng ngân hàng mất khả năng thanh tốn các

nghĩa vụ của mình khi đến hạn hay là khả năng ngân hàng khơng có đủ vốn khả

dụng với chi phí hợp lý và đúng thời điểm mà ngân hàng cần để đáp ứng nhu cầu

thanh khoản.

- Rủi ro lãi suất: là rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường

hoặc các yếu tố liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn that về tài sản hoặc làm giảm thu

nhập của ngân hàng.

- Rủi ro tỷ giá: Là rủi ro xảy ra khi có biến động về tỷ giá của các đồng tiền

trong hoạt động thanh toán của ngân hàng.

- Rủi ro từ hoạt động ngoại bảng: là rủi ro xảy ra do việc quản trị điều hành

không hiệu quả hoăc không đánh giá đúng các tác dụng của các nghiệp vụ ngoại

bảng có thể dẫn đến các tổn thất to lớn cho ngân hàng.

- Rủi ro hoạt động: là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định khơng đầy đủ

hoặc có sai sót, do con người, do hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài.

- Các loại rủi ro khác:

+ Rủi ro quốc gia: Phát sinh trong trường hợp ngân hàng đầu tư cho cơng ty

nước ngồi, khi chính phủ của quốc gia đó cấm hoặc hạn chế việc thanh tốn cho

nước ngồi do dự trữ ngoại hối hạn hẹp hoặc vì lý do chính trị.



8



+ Rủi ro bắt nguồn từ các yếu tố vĩ mô: sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, chính

sách thuế, lĩnh vực ưu tiên…có thể dẫn đến các loại rui ro khác trong hoạt động của

ngân hàng.

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì rủi ro hoạt động là loại rủi ro ảnh

hưởng nhiều nhất và bao trùm lên tất cả các loại rủi ro. Rủi ro hoạt động khơng

mang tính tài chính bởi nó phát sinh từ sự cố trong quy trình, từ hệ thống công nghệ

thông tin, hệ thống báo cáo, những quy định giám sát rủi ro nội bộ hoặc việc tn

thủ những chính sách rủi ro. Chính vì vậy trong quản lý rủi ro nếu quản lý tốt rủi ro

hoạt động sẽ làm giảm thiểu nguy cơ xảy ra các rủi ro khác.

1.1.1.3. Rủi ro hoạt động trong NHTM

Rủi ro hoạt động tổn tại trong hầu hết các bộ phận của ngân hàng. Rủi ro này phát

sinh do hệ thống thơng tin khơng hiệu quả, sai sót kỹ thuật, sai phạm trong kiểm sốt

nội bộ, những biến cố khơng định trước hay những vấn đề hoạt động khác có thể dẫn

đến mất mát không định trước hay những vấn đề liên quan đến danh tiếng.

Rủi ro hoạt động là nguy cơ tổn thất do các quy trình, con người và hệ thống

nội bộ không đạt yêu cầu hoặc không hoạt động, hay do các sự kiện bên ngoài.

Khái niệm rủi ro hoạt động bao gồm cả rủi ro luật pháp, nhưng không bao gồm rủi

ro chiến lược và rủi ro uy tín. (Theo uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng. Tr155)

Như vậy rủi ro hoạt động là do các yếu tố sau tạo nên:

- Con người: Sự cố con người được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả thiếu

chuyên môn lẫn sự gian lận, sự không tuẩn thủ những quy trình và chính sách hiện

hành.

- Quy trình: Những thủ tục và biện pháp kiểm soát báo cáo, theo dõi và quyết

định không thoả đáng; những thủ tục xử lý thơng tin khơng hợp lý như sai sót trong

ghi chép giao dịch hoặc kiểm tra tài liệu pháp lý; trục trặc tổ chức; những rủi ro

không được phát hiện vượt qua giới hạn, sự kém cỏi trong quản lý theo dõi rủi ro.

- Hệ thống: Đầu tư công nghệ khơng phù hợp, lỗi tích hợp từ vận hành hệ

thống, lỗ hổng an ninh, hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc ngừng hoạt động.



9



- Các sự kiện bên ngoài: Các yếu tố nằm ngồi sự kiểm sốt của ngân hàng

cũng góp phần gây ra rủi ro hoạt động. Các thay đổi về pháp lý, chính trị; các hành

vi lừa đảo, trộm cắp hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngồi, thời tiết khắc

nghiệt cũng có thể tạo ra hoặc làm tăng thêm các rủi ro trong ngân hàng.

1.1.1.4 Đặc điểm của rủi ro hoạt động

Rủi ro hoạt động là loại rủi ro tiềm ẩn: RRHĐ gây ra những tổn thất lớn nhưng

khó xác định hoặc dự đốn trước những dấu hiệu của nó, do đó cơng tác quản trị rủi

ro gặp nhiều khó khăn trong q trình triển khai thực hiện.

RRHĐ thường xuyên thay đổi: Phạm vi không gian và thời gian của RRHĐ rất

lớn, không xác định được, có thể thay đổi rất nhanh và tăng lên theo cấp số nhân

trong thời gian rất ngắn. Đây không phải là rủi ro có tốc độ thay đổi cùng chiều với

thay đổi quy mô hoạt động.

RRHĐ luôn hiện hữu trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng,

các sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp tuỳ theo tính chất phức tạp và quy mơ

sản phẩm mà tần suất xảy ra nhiều hay ít.

RRHĐ gắn liền với các sự kiện, sự cố trong hoạt động của ngân hàng. Đây là

một đặc điểm nổi bật của RRHĐ, nằm trong mọi sản phẩm, mọi giao dịch, gắn với

các nhân tố chủ yếu: con người, quy trình, hệ thống, các sự kiện bên ngồi.

RRHĐ có thể gây ra các tác động thứ cấp: rủi ro pháp lý, rủi ro danh tiếng.

RRHĐ được đặc trưng bởi hai yếu tố: tần suất/khả năng xảy ra, chi phí/mức

độ ảnh hưởng.

RRHĐ có mối quan hệ và ảnh hưởng đến hầu hết các loại rủi ro khác. RRHĐ

thường khơng đốn trước và rất khó triệt tiêu trong khi đó rủi ro tín dụng và rủi ro

lãi suất có thể chấp nhận được, có thể dự đốn, tính tốn được, có cơng cụ phòng

ngừa và như một cơ hội kinh doanh. RRHĐ khơng tính tốn, lượng hoá được dễ

dàng.

1.1.2. Các loại rủi ro hoạt động



10



1.1.2.1. Rủi ro do quy chế, quy trình nghiệp vụ

Đây là rủi ro liên quan đến quy trình, quy định và cơ chế do ngân hàng ban

hành không tuân thủ theo u cầu bên ngồi, khơng phù hợp điều kiện hoạt động

thực tế.

Rủi ro liên quan Quy trình và cơ chế khơng được văn bản hố và khơng được

truyền thơng rộng rãi đến các đối tượng liên quan dẫn đến không được thực thi

đúng/ đầy đủ.

Rủi ro liên quan đến mô hình bị phát triển sai/khơng phù hợp, khơng được

kiểm thử đầy đủ/khơng có ý kiến thẩm định độc lập từ bên ngoài.

1.1.2.2. Rủi ro do con người

Rủi ro liên quan đến các hành động cố ý lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, cố ý vi

phạm các quy chế, quy tắc, chính sách của ngân hàng liên quan đến ít nhất một cá

nhân thuộc hệ thống ngân hàng cụ thể:

Thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không được uỷ quyền và/hoặc vượt quá

thẩm quyền cho phép hoặc không đúng chức năng được giao.

Không tuân thủ hoặc tuân thủ không đúng quy định quy trình nghiệp vụ của

ngân hàng, các quy định của NHNN VN và các văn bản pháp luật hiện hành.

Không tuân thủ hoặc tuân thủ không đúng quy định quy trình của hệ thống hỗ

trợ, hệ thống kỹ thuật, có hành động gây khó khăn cho bộ phận nghiệp vụ.

Không chấp hành hoặc chấp hành không đúng nội quy cơ quan, hợp đồng lao

động và các văn bản pháp luật đối với người lao động nơi công sở: an tồn lao

động, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, phòng chống tham nhũng,…

Năng lực trình độ nghiệp vụ khơng đáp ứng được yêu cầu công việc.

Phong cách giao tiếp, ứng xử với khách hàng thiếu văn minh, làm mất khách

hàng, ảnh hưởng khơng tốt đến hình ảnh, thương hiệu và giảm uy tín của ngân hàng.

Phối hợp cơng tác với các phòng ban khác khơng tốt, làm giảm hiệu quả cơng

việc.



11



Che giấu sai sót, né tránh khuyết điểm, né tránh khó khăn.

Vi phạm đạo đức nghề nghiệp, có hành vi lừa đảo, gian lận, biển thủ, trục lợi

cá nhân hoặc hành động phạm tội, câu kết với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho

ngân hàng.

1.1.2.3. Rủi ro do tác động từ bên ngoài

Rủi ro liên quan đến đối tác bên ngoài cung cấp các dịch vụ cho ngân hàng

(điện, mạng,…)không đúng theo yêu cầu về chất lượng/số lượng dẫn đến hoạt động

bị gián đoạn hoặc bị ảnh hưởng.

1.1.2.4. Rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin (CNTT)

Rủi ro liên quan đến cơ sở hạ tầng hệ thống CNTT lỗi thời/ thiếu/ hoặc đáp

ứng yêu cầu hoạt động/ không được kiểm tra đầy đủ.

Rủi ro liên quan cơ sở hạ tầng hệ thống CNTT bị gián đoạn/ quá lẹ thuộc vào

yếu tố khác.

Rủi ro liên quan cơ sở hạ tầng hệ thống CNTT có lỗ hổng cho các truy cập trái

phép/ vượt thẩm quyền.

1.1.2.5. Rủi ro do các nguyên nhân khác

Rủi ro do các hành vi lừa đảo, trộm cắp hoặc phạm tội của các đối tượng bên

ngoài như hành động phá hoại, đánh bom,…

Rủi ro do các sự kiện bên ngoài hoặc do tự nhiên (bão lụt, động đất,…) gây

gián đoạn, thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Rủi ro do các văn bản, quy định của Chính phủ, các ban ngành liên quan có sự

thay đổi hoặc quy định mới làm ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng.

1.2. Quản trị rủi ro hoạt động tại các NHTM

1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro

Quản trị rủi ro là một quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của

một tổ chức tài chính và yêu cầu bắt buộc để các tổ chức tài chính có thể đạt được



12



các mục đề ra và duy trì khả năng tồn tại và sự minh bạch về tài chính. ( Theo ủy

ban Basel về giám sát ngân hàng, tr15)

Quản trị rủi ro là hệ thống cơ bản của một tổ chức tài chính, nó liên quan đến

việc xác định đo lường, giám sát, kiểm soát, quản lý rủi ro nhằm đảm bảo:

- Cá nhân liên quan đến rủi ro và được giao trách nhiệm quản trị rủi ro phải

hiểu rõ về rủi ro.

- Rủi ro của một ngân hàng nằm trong giới hạn xác định bởi Hội đồng quản trị.

- Rủi ro trong việc ra quyết định phải tương xứng với mục tiêu và chiến lược

kinh doanh do Hội đồng quản trị đề ra.

- Quỹ dự phòng rủi ro bù đắp được các loại rủi ro dự kiến xảy ra.

- Rủi ro trong việc quyết định phải rõ ràng minh bạch.

- Có đủ vốn để bù đắp rủi ro.

1.2.2. Khái niệm quản trị rủi ro hoạt động

Trong những năm gần đây quản trị rủi ro hoạt động đã trở thành một hoạt

động quan trọng đối với các NHTM. Mức độ hiện đại hố đòi hỏi các NHTM phải

áp dụng công nghệ ngày càng phức tạp, phát triển đa dạng sản phẩm, dịch vụ, mở

rộng quy mô, cạnh tranh. Quản trị rủi ro hoạt động là quá trình tổ chức tín dụng tiến

hành các hoạt động tác động đến rủi ro hoạt động, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ

chức, xây dựng hệ thống các chính sách, phương pháp quản lý rủi ro hoạt động để

thực hiện q trình quản lý rủi ro đó là xác định, đo lường, đánh giá, quản lý, giám

sát và kiểm tra kiểm soát rủi ro hoạt động nhằm bảo đảm hạn chế tới mức thấp nhất

rủi ro xảy ra. (Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, tr156)

1.2.3. Mục tiêu của quản trị rủi ro hoạt động

RRHĐ không những gây ra những thiệt hại về tài chính, RRHĐ còn ảnh hưởng

đến uy tín của ngân hàng. Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay, RRHĐ ngày

càng gia tăng do môi trường kinh doanh phức tạp hơn, các hành vi trái pháp luật cũng

ngày càng tăng lên trong khi nhu cầu của các ngân hàng là phải đẩy mạnh tốc độ và

khối lượng giao dịch, đạt hiệu quả trong kinh doanh đặt ra áp lực về thay đổi cơ sở hạ



13



tầng, phát triển và phụ thuộc nhiều hơn vào công nghệ làm tăng nguy cơ rủi ro hoạt

động như lỗi phát sinh trong quá trình cung cấp sản phẩm, quy trình, thiết kế hệ

thống, các loại gian lận và những sai sót trong phục vụ khách hàng,…Mặt khác áp lực

công việc và xu hướng phân quyền, trao quyền xử lý cơng việc cho những cấp thấp

hơn cũng đòi hỏi nhu cầu tăng cường quản lý rủi ro hoạt động.

Với những lý do trên cho thấy quản trị rủi ro hoạt động ngày càng trở nên cấp

thiết. Như vậy, Quản trị rủi ro hoạt động nhằm các mục tiêu sau:

+ Hạn chế, giảm thiểu chi phí, tổn thất có thể từ các hoạt động của ngân hàng.

+ Giảm vốn dành cho RRHĐ, tăng thêm vốn đưa vào hoạt động kinh doanh, từ

đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tăng lợi nhuận cho các NHTM.

+ Bảo vệ uy tín ngân hàng, đảm bảo mục tiêu hoạt động kinh doanh an tồn,

hiệu quả.

+ Rủi ro khơng chỉ đơn giản là thảm hoạ cần phải tránh mà trong nhiều trường

hợp, việc tăng năng lực quản trị rủi ro sẽ làm tăng quá trình tạo ra cơ hội và làm

tăng giá trị của nhà đầu tư, tạo ra sự vượt trội.

1.3. Nội dung quản trị rủi ro hoạt động

Để quản trị RRHĐ, các tổ chức tín dụng thường vận dụng các nguyên tắc

trong quản lý rủi ro hoạt động theo Basel II như sau:

- Hội đồng quản trị phải giữ vai trò lãnh đạo trong việc thiết lập văn hoá quản

trị rủi ro một cách rõ ràng. Hội đồng quản trị và quản lý cao cấp phải thiết lập văn

hoá doanh nghiệp được hướng dẫn bởi quản lý rủi ro rõ ràng nhằm hỗ trợ và cung

cấp các chuẩn mực thích hợp và khuyến nghị cách ứng xử có trách nhiệm, chuyên

nghiệp.

- Ngân hàng phát triển, thực hiện và duy trì một khung tích hợp đầy đủ tồn bộ

quy trình quản lý rủi ro của ngân hàng. Khung quản lý RRHĐ do từng ngân hàng

lựa chọn sẽ phụ thuộc vào một khung các nhân tố, bao gồm đặc điểm, quy mô, mức

độ phức tạp và danh mục rủi ro của ngân hàng.



14



- HĐQT phải thiết lập, chuẩn y và tái xét định kỳ khung QTRRHĐ. HĐQT

phải giám sát bộ phận quản lý cao cấp để bảo đảm rằng chính sách, quy trình và hệ

thống được thực hiện hiệu quả tại tất cả các cấp độ ra quyết định.

- HĐQT phải chuẩn y và tái xét khẩu vị rủi ro và báo cáo sức chịu đựng về

RRHĐ xem có phù hợp với đặc điểm, chủng loại và mức độ rủi ro hoạt động mà

ngân hàng sẵn sàng chấp nhận.

- Quản lý cấp cao phải phát triển một cấu trúc quản trị rõ ràng, hiệu quả và

tinh gọn với trách nhiệm để HĐQT chuẩn y. Quản lý cấp cao chịu trách nhiệm trong

toàn đơn vị về sự nhất quán trong khâu thực thi và duy trì các chính sách, quy trình

và hệ thống để công tác QTRRHĐ đối với mọi sản phẩm quan trọng, mọi hoạt

động, mọi quy trình và cả hệ thống nhất quán với khẩu vị rủi ro và sức chịu đựng

rủi ro của ngân hàng.

- Quản lý cấp cao phải đảm bảo nhận diện và đánh giá sự tồn tại của quản trị

rủi ro trong mọi sản phẩm quan trọng, hoạt động, quy trình và hệ thống để đảm bảo

những rủi ro hiện hữu và những động cơ được kiểm soát tốt.

- Quản lý cấp cao phải đảm bảo rằng có một quy trình chấp thuận đối với mọi

sản phấm mới, hoạt động, quy trình và hệ thống đã được đánh giá đầy đủ RRHĐ.

- Quản lý cấp cao phải thực hiện quy trình để giám sát thường xuyên danh

mục quản trị rủi ro và các nguy cơ xảy ra tổn thất nghiêm trọng, một chế độ báo cáo

phù hợp phải đến được HĐQT, quản lý cấp cao, các đơn vị kinh doanh các cấp

nhằm quản lý chủ động RRHĐ.

- Ngân hàng phải tạo mơi trường kiểm sốt mạnh để phát huy chính sách, quy

trình và hệ thống kiểm sốt nội bộ, giảm thiểu và/hoặc chiến lược chuyển rủi ro hợp

lý.

- Ngân hàng phải thiết lập kế hoạch kinh doanh liên tục và linh hoạt nhằm bảo

đảm cho hoạt động diễn ra không ngừng và hạn chế tổn thất trong trường hợp hoạt

động kinh doanh bị gián đoạn bất ngờ.



15



- Ngân hàng phải cơng khai cho phép những người có liên quan được đánh giá

phương pháp QTRRHĐ của ngân hàng.

Theo đó nội dung quản trị RRHĐ thường bao gồm:

1.3.1. Xây dựng môi trường quản trị rủi ro hoạt động phù hợp

Ban lãnh đạo của ngân hàng phải chịu trách nhiệm tạo ra một văn hố tổ chức,

trong đó ưu tiên cao việc quản trị rủi ro hoạt động và tuân thủ các nguyên tắc kiểm

soát hoạt động. Quản trị rủi ro hoạt động của một ngân hàng sẽ đạt hiệu quả cao

nhất khi tại ngân hàng đó, văn hố tổ chức nhấn mạnh các tiêu chuẩn hành vi đạo

đức cho mọi tầng lớp nhân viên. Ngoài ra, hội đồng quản trị và lãnh đạo ngân hàng

nên thiết lập một nền văn hố tổ chức được củng cố vững chắc, thơng qua cả lời nói

lẫn hành vi, kỳ vọng về sự liêm chính của tất cả nhân viên trong hoạt động kinh

doanh ngân hàng.

Thứ nhất hội đồng quản trị nên nhận biết rõ các khía cạnh chính của ngân

hàng. RRHĐ là loại rủi ro cần được quản lý, đánh giá, xem xét định kỳ dựa trên

khung quản lý RRHĐ. Khung này cần phải cung cấp một định nghĩa tổng thể cho

toàn ngân hàng vể RRHĐ, cũng như các nguyên tắc, cách xác định, đánh giá, giám

sát, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro.

Hội đồng quản trị nên phê duyệt thực hiện một khung quản lý RRHĐ cho toàn

ngân hàng và cung cấp cho ban điều hành các hướng dẫn cụ thể và phương hướng

liên quan đến các nguyên tắc của khung này, đồng thời phê chuẩn các chính sách

tương ứng do họ đưa ra. Đồng thời tuyên bố khẩu vị RRHĐ (thể hiện loại và mức

độ RRHĐ mà ngân hàng có khả năng và sẵn sàng chấp nhận từng thời kỳ theo cả

phương pháp định tính và phương pháp định lượng).

Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm thiết lập một cơ cấu quản trị có khả năng

thực hiện đầy đủ khung quản lý RRHĐ. Do một khía cạnh ý nghĩa của quản trị

RRHĐ có liên quan đến việc thiết lập một chế độ kiểm soát nội bộ vững chắc, nên

việc hội đồng quản trị phải xác định rõ trách nhiệm về quản lý, kế tốn và báo cáo

là vơ cùng quan trọng. Ngồi ra phải có sự phân định về trách nhiệm và luồng báo



16



cáo giữa chức năng kiểm soát RRHĐ, mảng kinh doanh và các chức năng hỗ trợ để

tránh sự xung đột lợi ích.

Quản trị rủi ro tại NHTM hiện đại thơng thường được tổ chức theo mơ hình “3

lớp phòng vệ” với các đặc điểm quan trọng như sau:

- HÐQT giám sát rủi ro một cách tách biệt với Ban điều hành.

- Lớp phòng vệ thứ 1 - Bản thân các đơn vị kinh doanh có trách nhiệm quản lý

rủi ro trong phạm vi đơn vị.

- Lớp phòng vệ thứ 2 - Bộ phận quản lý rủi ro tập trung và độc lập có trách

nhiệm phát triển, duy trì và giám sát quản lý rủi ro toàn ngân hàng.

- Lớp phòng vệ thứ 3 - Bộ phận kiểm tốn, kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt

động độc lập, giám sát đảm bảo tính tuân thủ với chiến lược, chính sách và các quy

định quản trị rủi ro đã đặt ra.



17



Hình 1.1: Mơ hình quản trị rủi ro “3 lớp phòng vệ”

(TS. Phạm Tiến Thành và ThS. Dương Thanh Hà, Quản trị công ty và quản lý

rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, tr8)

Nhiều ngân hàng trên thế giới đang thực hiện quản trị RRHĐ bằng cách sử

dụng khung quản trị rủi ro theo gợi ý của Ủy ban Basel II như sau:



Hình 1.2. Khung quản trị rủi ro hoạt động cơ bản

(Nguồn: KPMG International 2007, tr6)

Thành phần chủ chốt của khung quản trị RRHĐ là một tập hợp các tiêu chuẩn

RRHĐ cốt lõi cung cấp hướng dẫn về cơ sở kiểm soát và đảm bảo môi trường hoạt

động. Các khung được bổ sung với các cơng cụ khác nhau nhưng đều có các thành

phần chính:

+ Xác định chiến lược rủi ro (CLRR)



CLRR



Cấu trúc

quản trị



Luồng báo cáo

Chính sách



Cơ sở



Đánh giá



dữ liệu

Chỉ số đo



Giảm thiểu rủi ro



Mơ hình vốn



lường rủi ro

Cơng nghệ thơng tin



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×