Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
   Kết cấu luận văn

   Kết cấu luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VĂN HĨA DOANH

NGHIỆP

1.1. Khái qt về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp

1.1.1. Khái quát về văn hóa

1.1.1.1. Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm gắn liền với sự ra đời của nhân loại, mang nội hàm

rất rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và

tinh thần của con người. Tylor (1971) đã chỉ ra rằng: “Văn hóa là một tổng thể phức

tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và

toàn bộ những kĩ năng thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên

của xã hội”. Định nghĩa này đã nêu lên được khá đầy đủ các khía cạnh của văn hóa

tinh thần, nhưng lại ít có sự quan tâm đến văn hóa vật chất, một bộ phận khá là

phong phú trong kho tàng văn hóa nhân loại.Trong từ điển Tiếng Việt (2014), văn

hóa được định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh

thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”.Trần Ngọc Thêm (2001),

Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, đã đưa ra rằng: “Văn hóa là một hệ thống các giá

trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động

thực tiễn, trong sự tương tác với mơi trường tự nhiên và mơi trường xã hội của

mình”.

Từ những khái niệm khác nhau về văn hóa nêu trên, khóa luận xin đề xuất

khái niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất

và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong q trình hoạt động thực tiễn,

trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.

1.1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của văn hóa

Theo Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam thì văn hóa

có 4 đặc trưng cơ bản như sau:



12



Thứ nhất, tính hệ thống của văn hóa: Văn hóa trước hết phải có tính hệ thống,

đặc trưng này là rất cần thiết để phân biệt hệ thống với tập hợp, giúp phát hiện ra

những mối liên hệ mật thiết giữa các sự vật, hiện tượng thuộc một nền văn hóa,

đồng thời phát hiện ra các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của

nó.Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội, cung

cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với mơi trường tự nhiên và

mơi trường xã hội của mình.

Thứ hai, tính giá trị: Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị,

các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh

thần, theo thời gian có thể phân biệt được giá trị nhất thời và giá trị vĩnh cửu, theo ý

nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ.Chính nhờ

có tính giá trị mà văn hóa đã thực hiện được chức năng định hướng xã hội, giúp cho

xã hội duy trì được trạng thái cân bằng, khơng ngừng tự hồn thiện và thích ứng với

những biến đổi của mơi trường, giúp định hướng được các chuẩn mực, làm động

lực cho sự phát triển của xã hội.

Thứ ba, tính nhân sinh: Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh, văn

hóa trở thành sợi dây nối giữa con người với con người, lúc này văn hóa thực hiện

chức năng giao tiếp giúp con người với con người có thể liên kết lại với nhau. Nếu

như ta coi ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa chính là nội dung của nó.

Thứ tư, tính lịch sử: Văn hóa còn có tính lịch sử, được tích lũy qua nhiều đời,

nhiều thế hệ, nó cũng chỉ ra được trình độ phát triển của từng thời kỳ từng giai

đoạn. tính lịch sử tạo cho văn hóa một chiều sâu buộc văn hóa phải thường xuyên tự

điều chỉnh tiến hành phân loại và phân bổ các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng

truyền thống văn hóa. Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục, văn hóa thực hiện

chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định có từ lâu đời mà còn

bằng cả những giá trị đang hình thành. Nhờ đó mà văn hóa là một yếu tố hết sức

quan trọng để quyết định trong việc hình thành tính cách, đạo đức của con người.

1.1.2. Văn hóa doanh nghiệp

1.1.2.1. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp



13



Trong những năm gần đây, khái niệm văn hóa doanh nghiệp ngày càng được

sử dụng phổ biến và rộng rãi, vấn đề văn hóa doanh nghiệp giờ đây khơng chỉ được

giới nghiên cứu quan tâm mà vấn đề này cũng được các nhà quản trị doanh nghiệp

đặc biệt chú ý. Tất cả các doanh nghiệp không chỉ là doanh nghiệp lớn mà còn là ở

cả những doanh nghiệp nhỏ đều tập hợp những con người có thể khác nhau về vùng

miền, trình độ chun mơn, trình độ văn hóa, mức độ nhận thức, quan hệ xã hội, tư

tưởng văn hóa,…chính sự khác nhau này tạo ra một mơi trường làm việc đa dạng và

phức tạp. Cùng với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường và xu hướng hội nhập, buộc

các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển thì phải liên tục tìm tòi những cái mới, và

văn hóa doanh nghiệp cũng góp một phần khơng nhỏ trong việc tạo ra những cái

mới đó. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì một nền nếp văn

hóa đặc thù, riêng biệt để phát huy năng lực và thúc đẩy sự đóng góp của tất cả mọi

người và đạt được mục tiêu chung của tổ chức – đó là Văn hóa doanh nghiệp.

Theo Kotler, J.P & Hesket, J.L (1992): “Văn hóa doanh nghiệp là những niềm

tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp”.

Theo Tổ chức lao động quốc tế thì: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc

biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và

lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.

Theo chuyên gia người Mỹ Edgar H. Schein (2016): “Văn hóa doanh nghiệp

là tổng thể những thủ pháp và quy tắc mà các thành viên của doanh nghiệp thu

nhận được trong quá trình giải quyết vấn đề thích ứng bên ngồi và thống nhất bên

trong doanh nghiệp”.

Theo Dương Thị Liễu (2008): “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tinh

thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và

hành vi của tất cả thành viên trong doanh nghiệp”

Nói tóm lại, dù được định nghĩa bằng những cách khác nhau, ở những thời

điểm khác nhau thì văn hóa doanh nghiệp được hiểu theo một nghĩa chung nhất đó

là: “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các giá trị, quan niệm và các nguyên tắc

hoặc chuẩn mực hành vi được phổ biến và chia sẻ rộng rãi bên trong tổ chức hoặc



14



doanh nghiệp và có ảnh hưởng đến cách thức, cảm nhận, suy nghĩ và hành động

của các thành viên bên trong tổ chức hoặc doanh nghiệp đó”.

1.1.2.2.Cấp độ và cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp

Văn hóa doanh nghiệp là một phạm trù trừu tượng và không dễ dàng để nắm

bắt. Có rất nhiều cách để phân chia văn hóa doanh nghiệp thành các yếu tố khác

nhau như vật thể, phi vật thể… nhưng cách phân chia rất nổi tiếng và đã được thừa

nhận và được áp dụng rất nhiều thì khơng thể khơng nhắc tới Edgar H. Schein.

Schein có một cách tiếp cận độc đáo đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn

hóa, từ những cái mà mắt thường có thể nhìn đến những cái khơng thể nhìn thấy

được mà chỉ có thể cảm nhận được qua sự quan sát và bằng các giác quan của mình.

Schein đã chia văn hóa doanh nghiệp thành 2 cấp độ, hai cấp độ này có thể được gọi

là tính hữu hình và vơ hình hoặc tính trực quan và phi trực quan trong biểu hiện của

các giá trị văn hóa đó. Hai cấp độ của văn hóa doanh nghiệp được minh họa như

sau:

- Kiến trúc nội ngoại thất

Cấp độ thứ nhất (hữu hình)

- Cơ cấu tổ chức, các văn bản quy định nguyên tắc…

Những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp

- Lễ nghi, lễ hội, logo, mẫu mã sản phẩm



- Những giá trị được công bố: các chiến lược, mục tiêu, triết lý kin

- Cácnhận

quy định, nguyên tắc hoạt động

Những giá trị được chấp



Cấp độ thứ hai (vơ hình)



- Những quan niệm chung: Những niềm tin, suy nghĩ, tình cảm mang tính vơ thức, m

Những quan niệm chung



Hình 1.1. Sơ đồ các cấp độ văn hóa doanh nghiệp

(Nguồn: Mơ hình văn hóa doanh nghiệp của Edgar H. Schein 2016)



15



(1) Các giá trị được tuyên bố

Các doanh nghiệp có vị thế trên thị trường thường có những tuyên bố rất rõ

ràng về sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi và triết lý kinh doanh giống như một thông

điệp mà họ muốn gửi tới xã hội, công chúng và đối thủ cạnh tranh. Thông điệp có

tính chất tun ngơn này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng niềm tin

của công chúng cũng như của chính các thành viên của doanh nghiệp đó, đồng thời

cũng là định hướng phát triển dài hạn của doanh nghiệp. Vì vậy, đây phải là những

tun bố có tính chất khẳng định được xây dựng dựa trên thực lực và các giá trị

sẵn có hoặc các chuẩn mực đang được theo đuổi. Do đó, việc xác định đúng sứ

mệnh, tầm nhìn; nhận diện đúng giá trị cốt lõi và triết lý kinh doanh sẽ có ý nghĩa

vơ cùng quan trọng trong việc xây dựng bản sắc văn hoá riêng cho doanh

nghiệp.Bất kể doanh nghiệp nào cũng có các triết lý, mục tiêu, quy định, nguyên

tắc và chiến lược kinh doanh riêng của mình, chỉ có điều nó được thể hiện ở mức

độ, phạm vi và nội dung khác nhau. Đó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của

toàn bộ nhân viên trong doanh nghiệp và được doanh nghiệp công bố rộng rãi để

các thành viên cùng thực hiện.

Sứ mệnh: Sứ mệnh của doanh nghiệp là một khái niệm dùng để xác định các

mục tiêu của doanh nghiệp, những lí do doanh nghiệp đó ra đời và là căn cứ tồn tại,

phát triển của doanh nghiệp đó. Sứ mệnh của doanh nghiệp chính là bản tun ngơn

của doanh nghiệp đó đối với xã hội, nó chứng minh tính hữu ích và các ý nghĩa

trong sự tồn tại của doanh nghiệp đối với xã hội.

Tầm nhìn: Tầm nhìn là những thứ mà doanh nghiệp viết ra điều mà mình

mong muốn đạt được trong tương lai.

Giá trị cốt lõi: Giá trị cốt lõi là hệ thống niềm tin ảnh hưởng tới cách cư xử

giữa con người với con người hay giữa tập thể này với tập thể khác, nó được xem là

linh hồn và ăn sâu vào trong doanh nghiệp, giúp hình thành nên tâm lý chung, tạo

nên mơi trường văn hóa.

Phong cách lãnh đạo: Theo Newstrom, Davis (1993) phong cách lãnh đạo là

phương thức và cách tiếp cận của một nhà lãnh đạo để đề ra các phương hướng,



16



thực hiện kế hoạch và tạo động lực cho nhân viên. Dưới góc nhìn của một nhân

viên, phong cách đó thường được thể hiện qua các hành động hoặc rõ ràng hoặc

ngầm ý từ lãnh đạo của họ.

(2) Những giá trị và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp

Đó là những q trình, những yếu tố đầu tiên có thể bắt gặp khi một người

nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy được khi tiếp xúc với một tổ chức như kiến trúc,

logo, cơ sở vật chất, khẩu hiệu, đồng phục, nghi lễ, môi trường làm việc, chuẩn mực

hành vi, giai thoại, bài ca truyền thống. Lớp này cũng bao gồm cả những hành vi

ứng xử của nhân viên và các nhóm nhỏ trong tổ chức. Đặc trưng cơ bản của tầng

này là rất dễ nhận thấy nhưng lại khó phán đốn được ý nghĩa đích thực của nó. Các

giá trị hữu hình này bao gồm:

Đặc trưng kiến trúc: Đây là một đặc điểm nhận dạng nổi bật của doanh

nghiệp. Những dấu hiệu đặc trưng kiến trúc của một tổ chức gồm kiến trúc ngoại

thất và thiết kế nội thất bên trong. Phần lớn những doanh nghiệp thành đạt hoặc

đang phát triển muốn gây ấn tượng đối với mọi người về sự khác biệt, sự thành

công và sức mạnh của họ bằng những cơng trình kiến trúc đặt biệt đó. Những cơng

trình kiến trúc này được sử dụng như một biểu tượng và hình ảnh về doanh nghiệp.

Nhìn vào kiến trúc xây dựng bên ngoài cũng như bên trong doanh nghiệp, khách

hàng và đối tác cũng có thể phần nào đánh giá được văn hóa của doanh nghiệp

đó.Cơng trình kiến trúc cũng có thể được coi như một “linh vật” biểu thị một ý

nghĩa nào đó của một tổ chức, một xã hội. Ví dụ, Văn Miếu Quốc Tử Giám và Hồ

Hồn Kiếm của Việt Nam, Kim Tự Tháp của Ai Cập, tháp Eiffel của Pháp, Vạn lý

Trường Thành của Trung Quốc…đã trở thành những biểu tượng về giá trị tinh thần

cho mỗi quốc gia. Những thiết kế nội thất cũng rất được các công ty, tổ chức quan

tâm. Từ những vấn đề rất lớn như tiêu chuẩn hoá về màu sắc, kiểu dáng của bao bì

đặc trưng, thiết kế nội thất như mặt bằng, quầy, bàn ghế, phòng, giá để hàng, lối đi,

loại dịch vụ, trang phục… đến những chi tiết nhỏ nhặt như ổ cắm điện, vị trí cơng

tắc điện, thiết bị và vị trí của chúng trong phòng vệ sinh… Tất cả đều được sử dụng

để tạo ấn tượng thân quen, thiện trí và được quan tâm. Đây cũng là một cách để



17



doanh nghiệp khẳng định uy tín và vị trí của mình trước đối thủ và khắc ghi hình

ảnh của mình trong tâm trí của khách hàng và đối tác.

Logo của doanh nghiệp: Logo tạo ra sự nhận biết rất mạnh về thị giác, nhờ

đó có thể được ghi nhớ lâu hơn trong tâm trí đối tác và khách hàng. Logo là biểu

tượng linh hồn của toàn bộ hệ thống nhận diện thương hiệu của một doanh nghiệp.

Logo càng dễ nhận biết, càng gây ấn tượng thì sẽ càng tốt cho cả việc quảng cáo và

giúp xây dựng được văn hóa cho doanh nghiệp. Chẳng hạn như hình ảnh một quả

táo bị khuyết một góc sẽ được tiếp nhận và ghi nhớ nhanh chóng hơn là dòng chữ

Apple, hay hình ảnh bơng sen vàng cách điệu sẽ dễ nhớ hơn dòng chữ Vietnam

Airline.

Đồng phục: Là những trang phục giống nhau về màu sắc, kiểu dáng, thiết

kế…giữa các thành viên trong cùng tập thể. Thể hiện tính thống nhất, sự đoàn kết

của các thành viên trong cùng một tập thể và để có thể phân biệt được giữa tập thể

này với tập thể khác, doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.

Khẩu hiệu: Khẩu hiệu là cách diễn đạt cô đọng nhất của triết lý hoạt động

kinh doanh của một doanh nghiệp, một tổ chức. Khẩu hiệu thường rất ngắn gọn, sử

dụng các ngôn từ đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu. Một ví dụ điển hình, T.J.Watson – con

trai của người sáng lập công ty International Business Machines đã sử dụng cách ẩn

dụ “vịt trời” để gọi nhân viên của mình. Quan điểm của ơng là: “Bạn có thể biến vịt

trời thành vịt nhà chứ không thể biến vịt nhà thành vịt trời”, tức là việc để cho các

nhân viên của mình tự do và tránh thuần hóa các nhân viên giàu tính sáng tạo trong

doanh nghiệp của mình.

Nghi lễ, nghi thức: Một trong số những biểu trưng quan trọng của văn hoá

doanh nghiệp là nghi thức (rituals) và nghi lễ (cereminies). Đó là những hoạt động

đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng dưới hình thức các hoạt động,

chương trình, sự kiện văn hố - xã hội chính thức, nghiêm trang, được thực hiện

định kỳ hay bất thường nhằm thắt chặt mối quan hệ của doanh nghiệp và thường

được tổ chức vì lợi ích của những người đến tham dự. Những người quản lý có thể

sử dụng các nghi lễ như một cơ hội quan trọng để giới thiệu về những giá trị được



18



doanh nghiệp coi trọng. Đó cũng là những dịp đặc biệt để nhấn mạnh những giá trị

riêng biệt của doanh nghiệp, tạo cơ hội cho mọi thành viên cùng sẻ chia, để nêu

gương và khen tặng những tấm gương tiêu biểu trong doanh nghiệp góp phần làm

gắn kết mọi người trong doanh nghiệp. Theo tác giả Nguyễn Mạnh Quân (2012),

Chuyên đề văn hóa doanh nghiệp, có 4 loại nghi lễ trong doanh nghiệp như sau:

- Nghi lễ chuyển giao: bao gồm các hoạt động như khai mạc, giới thiệu thành

viên mới, chức vụ mới hay lễra mắt tạo thuận lợi cho việc thâm nhập vào cương vị

mới, vai trò mới.

- Nghi lễ củng cố: Doanh nghiệp trao thưởng cho nhân viên nhằm củng cố

văn hóa doanh nghiệp và tơn thêm vị thế của nhân viên trong doanh nghiệp.

- Nghi lễ nhắc nhở: gồm các hoạt động sinh hoạt văn hóa, chun mơn khoa

học, mục đích của hoạt động này là nhằm duy trì cơ cấu xã hội và tăng năng lực tác

nghiệp cho nhân viên.

- Nghi lễ liên kết: các dịp lễ hội, liên hoan, dã ngoại, đi du lịch nhằm khôi

phục và khích lệ, chia sẻ tình cảm nhằm tạo sự gắn bó đồn kết giữa các thành viên

trong doanh nghiệp.

Giai thoại: Thường được thêu dệt từ những sự kiện có thật của doanh

nghiệp, được các thành viên chia sẻ. Những giai thoại này có thể là những sự kiện,

tấm gương điển hình, những câu chuyện cho việc thực hiện thành cơng hay thất bại

một giá trị, một chiến lược mà doanh nghiệp có thể sử dụng nó làm bài học kinh

nghiệm để các thành viên trong doanh nghiệp có thể truyền bá cho những thế hệ đi

sau. Các giai thoại này có thể truyền đạt thơng tin, làm cho nhân viên cảm thấy gần

gũi hơn, đó cũng chính là nguồn động lực, tấm gương cho các nhân viên, giúp họ

hoàn thành cơng việc của mình tốt hơn.

Các ấn phẩm: Các ấn phẩm bao gồm những tư liệu chính thức có thể giúp

khách hàng, đối tác có thể nhận thấy rõ được về cấu trúc văn hóa của một doanh

nghiệp. Các ấn phẩm này có thể bao gồm: bản tun ngơn sứ mệnh, báo cáo thường

niên, tài liệu giới thiệu về doanh nghiệp, sổ vàng truyền thống, tạp chí hàng tháng,



19



ấn phẩm định kỳ hay đặc biệt, tờ rơi, lịch giấy, tài liệu quảng cáo giới thiệu sản

phẩm và doanh nghiệp…

Phong cách ứng xử:

Văn hóa ứng xử của cấp trên với cấp dưới: Văn hóa ứng xử của cấp trên đối

với cấp dưới là hết sức quan trọng, nó quyết định tính chất mối quan hệ giữa nhân

viên với người lãnh đạo: nếu xây dựng được mối quan hệ khăng khít, bền chặt thì

sự hợp tác của hai bên là vơ cùng thuận lợi, ngược lại, nếu lãnh đạo chưa hoặc

không tạo được mối quan hệ bền vững với nhân viên thì sẽ có nguy cơ tạo ra những

rào cản trong cơng việc có thể làm ảnh hưởng tới doanh nghiệp.

Văn hóa ứng xử của cấp dưới với cấp trên: Cấp dưới cần thể hiện thái độ tôn

trọng và cư xử đúng mực với cấp trên. Ngoài ra, nhân viên cần phải nỗ lực, nhiệt

tình, thực hiện tốt những cơng việc được giao, thể hiện thái độ tôn trọng, hợp tác

với lãnh đạo.

Văn hóa ứng xử giữa các nhân viên: Doanh nghiệp khơng chỉ là mơi trường

làm việc mà còn là mơi trường sống cho người lao động. Trong đó mối quan hệ giữa

các thành viên cần cởi mở, thân thiện, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng làm việc và cùng

tiến bộ.

(3) Những quan niệm và các giả định nền tảng

Trong bất cứ hình thức văn hóa nào cũng đều có các quan niệm chung, được

tồn tại trong thời gian dài, chúng ăn sâu vào trong tâm trí của hầu hết các thành viên

thuộc nền văn hóa đó và trở thành điều hiển nhiên được cơng nhận.Để hình thành

các quan niệm chung này, mỗi hình thức văn hóa đều phải trải qua một q trình lâu

dài, phải trải qua sự thành cơng và thất bại. Chính vì vậy, khi đã hình thành, các

quan niệm chung rất khó bị thay đổi. Khi một doanh nghiệp đã hình thành cho mình

được quan niệm chung, tức là các thành viên trong doanh nghiệp cùng nhau chia sẻ

và hành động theo quan niệm chung đó.

Niềm tin: Nếu khơng có niềm tin vào sứ mệnh, chiến lược và cam kết của

lãnh đạo thì chắc chắn chẳng có mấy nhân viên muốn đi theo doanh nghiệp để phấn

đấu, để làm việc, chấp nhận rủi ro thách thức để xây dựng doanh nghiệp. Cũng có



20



những người họ coi việc đi làm của mình chỉ là nghĩa vụ để có thể được trả lương

cao, nếu lương thấp thì đi làm chỗ khác. Nhưng đối với đa số các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, nếu ban lãnh đạo và các thành viên khơng có niềm tin vào thành cơng trong

tương lai thì sẽ rất khó có được sức mạnh để hợp tác lâu dài.Thiếu đi niềm tin, con

người có thể mất phương hướng và khơng có cách nào tìm được lối đi đúng cho

mình. Đối với doanh nghiệp cũng vậy, khơng có niềm tin chung vào mục tiêu mình

theo đuổi thì doanh nghiệp khó có thể tập hợp được lực lượng cho việc phát triển

doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai.

Lý tưởng: Là động lực ý nghĩa cao cả sâu sắc, giúp nhân viên nhận thức

được tầm quan trọng, công việc, sứ mệnh của bản thân.

Các giả định nền tảng: Là những điều, những thứ mà tổ chức cho rằng nó sẽ

mang lại kết quả tích cực hoặc tiêu cực trong hoạt động của mình.

1.1.2.3. Tác động của văn hóa doanh nghiệp đối với sự phát triển của doanh nghiệp

và đối với xã hội

Nếu cơ sở vật chất, trang thiết bị được coi là “phần xác” thì văn hóa doanh

nghiệp chính là “phần hồn” trong mỗi doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là một

tài sản vơ cùng q giá góp phần tạo nên hình ảnh, uy tín và sức mạnh lớn lao của

doanh nghiệp.

(1) Tác động tích cực của văn hóa doanh nghiệp

* Đối với nhân viên công ty

Thứ nhất, văn hóa doanh nghiệp cho mỗi thành viên hiểu được giá trị của

bản thân họ đối với doanh nghiệp. Một tổ chức, một doanh nghiệp chỉ có thể phát

triển khi tất cả mọi thành viên đều hiểu được họ đang đi đâu? Họ đang làm gì? Họ

có vai trò như thế nào trong tổ chức ấy? Nhân viên nhận ra được giá trị của bản thân

mình đồng nghĩa với việc họ sẽ hăng say cống hiến, chia sẻ ý tưởng, họ được cơng

nhận là những mắt xích khơng thể thiếu trong cơng ty. Hiện nay, trên thế giới nói

chung và ở Việt Nam nói riêng đã có rất nhiều doanh nghiệp thực hiện chính sách

bán cổ phần của doanh nghiệp cho nhân viên, chúng ta khơng thể phủ nhận lợi ích

và hiệu quả của việc làm này. Nhân viên cảm thấy họ được tôn trọng, họ là một



21



phần vô cùng quan trọng của doanh nghiệp, và hơn ai hết họ bỏ sức lực, trí óc của

mình để cống hiến cho chính bản thân họ.

Thứ hai, văn hóa doanh nghiệp tạo cho tất cả mọi người có một mơi trường

làm việc thân thiện, hòa đồng, đồn kết, cùng nhau chung tay chung sức làm việc và

vượt qua mọi tình thế khó khăn, đồng thời để giảm xung đột giữa các thành viên

trong doanh nghiệp. Sự đồn kết đồng lòng cùng nhau vượt qua khó khăn là điều

hết sức cần thiết đối với khơng chỉ những cơng ty đang trong thời kỳ khó khăn, thử

thách mà còn là với tất cả các cơng ty đang rất vững mạnh. Dẫn chứng tiêu biểu cho

văn hóa này đó là Lee Iacocca và nhân viên cơng ty Chrysler của ông. Lần đầu tiên

khi mà ông vừa đặt chân tới công ty, công ty đang rơi vào tình trạng phá sản, hơn

100.000 nhân viên có nguy cơ bị thất nghiệp. Lee Iacocca đã đưa ra văn hóa của sự

hy sinh quên bản thân mình. Tất cả mọi người cùng cố gắng làm việc, nhưng có một

điều khơng thể phủ nhận đó là để vượt qua tình thế khó khăn thì sự hy sinh của một

người là khơng đủ, mà tất cả mọi người cùng nắm tay, đồng lòng giúp đỡ nhau thì

mọi khó khăn mới có thể qua đi.

Thứ ba, văn hóa doanh nghiệp giúp tăng cường sự sáng tạo và đổi mới cho

nhân viên đồng thời tạo sự khích lệ, động lực cho nhân viên. Khi doanh nghiệp

quan tâm tới xây dựng văn hóa doanh nghiệp thì sẽ giúp nhân viên có động lực để

đóng góp các ý tưởng mới cho doanh nghiệp đó. Nhân viên được tự do, tự chủ trong

cơng việc, họ có hướng đi và mục tiêu của riêng mình, mục tiêu ấy gắn liền với mục

tiêu của doanh nghiệp. Vì vậy, nhân viên được khuyến khích để tích cực làm việc,

được đưa ra nhiều sáng kiến từ đó giúp doanh nghiệp có thể được cải tiến và đổi

mới.Sự thành công của một doanh nghiệp khơng còn được đo bằng sự thành cơng

của một cá nhân, mà nó được đo bằng sự thành cơng của một tập thể. Đứng trên góc

độ khách quan mà nói, một cá nhân sẽ khơng bao giờ được gọi là thành công nếu

tập thể của anh ta không thành cơng. Sống trong một mơi trường văn hóa lành mạnh

với sự quan tâm thỏa đáng của các cấp lãnh đạo cũng như sự quan tâm của đồng

nghiệp sẽ làm cho mọi người cảm thấy lạc quan và cống hiến hết mình cho mục tiêu

của doanh nghiệp. Đó được coi là động lực để các cá nhân nỗ lực làm việc và cùng

nhau phát triển để đạt được mục đích của doanh nghiệp. Tinh thần của tập thể là



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

   Kết cấu luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×