Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mục tiêu cụ thể:

Mục tiêu cụ thể:

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá. Cụ

thể, thông tin về chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt

Nam – Chi nhánh Hạ Long được thu thập để tiến hành so sánh, phân tích và đánh giá

nhằm đạt được mục đích nghiên cứu.

6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1. Tổng quan về chất lượng tín dụng ngân hàng

Chương 2. Thực trạng chất lượng tín dụng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Việt Nam – Chi nhánh Hạ Long

Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và

Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hạ Long



14



CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1.1.Tín dụng ngân hàng

1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng

Trong nền kinh tế hàng hố, ln tồn tại những người tạm thời có nguồn vốn

nhàn rỗi và có nhu cầu cho người khác vay nhằm thu lãi, đồng thời có một số người

tạm thời thiếu vốn và có nhu cầu đi vay để thực hiện các mục đích khác nhau. Điều

này làm nảy sinh sự dịch chuyển dòng vốn từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu và

cần vốn với điều kiện hoàn trả cả tiền vốn và một khoản tiền lãi vay – lợi nhuận thu

được từ vốn cho vay. Đây chính là quan hệ tín dụng: Quan hệ tín dụng được hình

thành từ rất sớm, ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã, mối qua hệ

thô sơ nhất đã xuất hiện. Trải qua thời gian phát triển dài quan hệ tín dụng có bước

phát triển qua nhiều hình thức từ đơn giản đến phức tạp như ngày nay. Cùng với sự

phát triển của nền kinh tế thị trường sự giao lưu hợp tác qua từng thời kỳ, từng giai

đoạn, từng hình thái kinh tế mà dần hình thành nên cách hình thức tín dụng đa dạng,

trình độ cao. Trong các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng, tín

dụng là hoạt động cơ bản quan trọng nhất chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số tài

sản. Đây cũng chính là hoạt động tạo ra mức thu nhập từ lãi lớn nhất nhưng đồng

thời cũng là hoạt động tiềm ẩn những rủi ro cao nhất. Công tác tín dụng cần phải

được quan tâm và chú trọng quyết định chủ yếu đến sự tồn tại và phát triển của

ngân hàng. Một số khái niệm về tín dụng ngân hàng được các nhà kinh tế học đưa

ra như sau:





Tín dụng (credit): là cách chuyển dịch quỹ (vốn) từ người cho vay (chủ thể thặng dư

tiết kiệm) sang người đi vay (chủ thể thiếu hụt tiết kiệm) (Frederic S.Mishkin,

2015).







Đối với các quan hệ tài chính cụ thể: Tín dụng là những giao dịch tài sản có sự đảm

bảo hồn trả giữa 2 chủ thể. Ví dụ điển hình tiêu biểu nhất và thường xuyên diễn ra

trong nền kinh tế đó là giao dịch giữa ngân hàng và các tổ chức, doanh nghiệp và cá



15



nhân, ngân hàng sẽ cung cấp tiền cho vay cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân

này và sau một thời gian nhất định theo thoả thuận người vay phải thanh toán cả gốc

và số tiền lãi tương ứng.





Tín dụng còn được hiểu là một số tiền mà các tổ chức tài chính chính cho khách

hàng vay







Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam, điều 49 ghi: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, các nhân

dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo

lãnh, cho th tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà

nước ”.

Tín dụng Ngân hàng là mối quan hệ vay mượn thực hiện giữa ngân hàng với

các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong xã hội. Vốn không được dịch chuyển

trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà được dịch chuyển gián tiếp

thơng qua trung gian đó chính là các Ngân hàng. Nó cũng mang bản chất vay mượn

có hồn trả cả gốc và lãi sau thời gian xác định, chuyển quyền sử dụng vốn bình

đẳng vì mục đích cả 2 bên cùng có lợi: Ngân hàng thu lãi từ khoản vay, người vay

có vốn để thực hiện nhu cầu của bản thân hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh.

1.1.2. Đặc trưng của hoạt động tín dụng ngân hàng

Thực chất tín dụng là một quan hệ về kinh tế giữa người đi vay và người cho

vay, sự vận động của vốn từ người cho vay sang người đi vay và trở lại với người

cho vay sau một khoảng thời gian nhất định với mức giá trị cao hơn. Ba yếu tố

chính cấu thành nên tín dụng và cũng là đặc trưng của hoạt động này đó là: lòng tin,

thời hạn và sự hứa hẹn hồn trả. Cụ thể:





Tín dụng là có lòng tin



“Tín dụng” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Khái niệm “tín

dụng” cũng đã chỉ ra rằng đây là sự cho vay có hứa hẹn về thời gian hồn trả và



16



mức lãi cho khoản vay. “Tín dụng” là mức tín nhiệm, lòng tin của người, đơn vị cho

vay dành cho người đi vay. Yếu tố lòng tin tuy chỉ là yếu tố vơ hình nhưng là cơ sở

để hình thành tín dụng. Lòng tin được hình thành từ cả 2 phía, người cho vay tin

tưởng vào người đi vay sẽ hoàn trả đúng thời gian, đúng số lượng như đã thoả thuận

người đi vay cảm nhận được người cho vay có khả năng đáp ứng đủ lượng vốn

trong khoảng thời gian mong muốn với mức lãi suất có thể chấp nhận được. Nếu

khơng thì quan hệ tín dụng khơng thể hình thành. Tuy nhiên lòng tin của người cho

vay đối với người đi vay đóng vai trò quan trọng hơn bởi họ là người đem tài sản,

tiền bạc, nguồn vốn của mình cho người khác sử dụng nên rủi ro sẽ cao hơn.





Tín dụng là có tính thời hạn



Khơng giống với quan hệ mua bán hàng hố thơng thường tín dụng chỉ

chuyển quyền sử dụng vốn chứ không chuyển quyền sở hữu khoản vay đó. Người đi

vay được phép sử dụng giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ trong một

khoảng thời gian đã thống nhất với người cho vay. Sau khi hết thời hạn cam kết

người đi vay có nghĩa vụ hồn trả tồn bộ giá trị của khoản vay ban đầu cùng với

khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất theo thoả thuận ban đầu. Như vậy có thể thấy

người cho vay chỉ bán “giá trị sử dụng” (quyền sử dụng) chứ không bán “giá trị”

của khoản vay trong thời gian xác định cụ thể.





Tín dụng là có tính hồn trả



Là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, tạo nên sự khác biệt

với các phạm trù kinh tế khác. Sau khi đi hết một vòng tuần hồn, hồn thành một

chu kỳ sản xuất và trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng sẽ được hoàn trả lại cho

người cho vay cộng thêm phần lãi tương ứng. Một mối quan hệ tín dụng được gọi là

“hồn hảo” nếu có được các đặc trưng trên, có nghĩa là người đi vay hồn trả được

gốc và lãi đầy đủ, đúng thời hạn.

1.1.3. Nguyên tắc tín dụng ngân hàng

1.1.3.1. Mục đích cho vay



17



Đồng vốn khi cho vay phải thực hiện theo phương hướng mục tiêu, kế hoạch

sản xuất kinh doanh hay nói cách khác là được người đi vay sử dụng phù hợp với kế

hoạch sản xuất và phát triển kinh tế của xã hội, được nhà nước cho phép và có hiệu

quả. Người vay vốn phải có phương án sử dụng rõ ràng, phục vụ kế hoạch kinh

doanh khả thi. Tuy nhiên thực tế hiện nay không phải cá nhân, doanh nghiệp nào

sau khi vay vốn cũng thực hiện đúng mục đích như đã thoả thuận.

1.1.3.2. Khả năng sinh lời

Bất cứ đồng vốn nào khi tham gia đầu tư đều với mục đích tìm kiếm lợi

nhuận. Do vậy các khoản vốn vay Ngân hàng cung cấp cho khách hàng vay cũng

nhằm thực hiện mục tiêu này. Ngân hàng thực hiện huy động vốn từ các nguồn tiền

nhàn rỗi trong xã hội tập trung và cung cấp lại cho các cá nhân, doanh nghiệp có

nhu cầu vay vốn để sử dụng cho tiêu dùng và kinh doanh. Sự chênh lệch giữa lãi

suất cho vay và lãi suất đi vay sẽ tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng. Đây là nguồn lãi

chủ yêu cho toàn bộ hoạt động của tồn Ngân hàng. Do đó cần phải tính toán để đưa

ra mức lãi suất hợp lý, đảm bảo khả năng sinh lời cho hoạt động tín dụng nhưng vẫn

phải hài hồ lợi ích các bên.

1.1.3.3. Đa dạng hóa rủi ro

Nhu cầu về vốn vay tới từ các thành phần kinh tế khác nhau với các đặc điểm

khác nhau. Để gia tăng lợi nhuận, Ngân hàng cần đáp ứng được tất cả các nhu cầu

đa dạng này. Điều này khơng chỉ giúp tăng lợi nhuận mà còn đa dạng hố rủi ro tức

là Ngân hàng sẽ có nhiều lựa chọn đầu tư hơn để giảm thiểu việc tập trung rủi ro

vào một loại tín dụng duy nhất.

1.1.3.4. Tính an toàn

Mọi đồng vốn khi cung cấp đều phải được đảm bảo về khả năng sinh lãi và

thu hồi đúng hạn. Do vậy hầu hết các khoản vay Ngân hàng đều đi kèm với các quy

định bắt buộc và tài sản bảo đảm. Tài sản bảo đảm chính là yếu tố để tạo lòng tin



18



của khách hàng trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Ngân hàng căn cứ

vào giá trị của tài sản để xác định mức cho vay và thời gian vay tối ưu.

1.1.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng

1.1.4.1. Với ngân hàng

Cũng giống như mọi doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế tham gia vào hoạt

động sản xuất kinh doanh, mục đích cuối cùng của các ngân hàng đó là tối đa hố

lợi nhuận, phát triển và mở rộng quy mơ. Ngân hàng tìm kiếm nguồn thu thông qua

việc cung cấp các hoạt động dịch vụ như thanh tốn, tư vấn, trong đó nguồn thu lớn

nhất đến từ hoạt động cho vay (hoạt động tín dụng). Chính vì vậy mọi ngân hàng

đều chú trọng và tìm kiếm nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh tín dụng.

Ngân hàng có tư cách là trung gian tài chính, hoạt động trên nguyên tắc huy

động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hôi và tiến hành hoạt động cho vay dưới

nhiều hình thức khác nhau, tuỳ thuộc vào nhu cầu đi vay và sử dụng của khách

hàng. Điều tất yếu đó là mức lãi suất cho vay sẽ cao hơn lãi suất đi vay và khoản

chênh lệch này chính là điều tạo nên nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng. Đây

chưa phải là toàn bộ khoản lợi nhuận mà ngân hàng thu được tuy nhiên trong toàn

bộ các nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện thi nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ

yếu nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất.

Nền kinh tế hội nhập hoạt động theo cơ chế thị trường, mơi trường cạnh

tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi hoạt động tín dụng của ngân hàng phải phát triển và

trở nên đa dạng nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng và tăng khả năng cạnh

tranh. Hệ thống ngân hàng thương mại ln phải tìm cách để nâng cao chiến lược

tín dụng của mình bằng cách mở rộng tín dụng và cải tiến chất lượng.

1.1.4.2. Với khách hàng

Hoạt động tín dụng ngân hàng khơng chỉ đáp ứng cho nhu cầu về vốn của

các tổ chức, doanh nghiệp mà còn phục vụ cho mọi tầng lớp dân cư xá hội. Bất cứ



19



ai đều có lúc cần tới lượng tiền để thực hiện các nhu cẩu của bản thân hay mục đích

kinh doanh, đầu tư khác,… Tuy nhiên khơng phải khi nào chúng ta cũng có sẵn tiền,

tài sản để sử dụng ngay. Khi đó việc tìm đến các khoán tiền vay là lựa chọn được

nhiều người áp dụng. Trong nền kinh tế ngồi các ngân hàng còn có các tổ chức tín

dụng khác cung cấp nguồn vốn cho vay với nhiều hạn mức đa dạng, đáp ứng tối đa

mọi nhu cầu.Với loại vốn này, khách hàng sẽ nhanh chóng được cấp vốn để phát

triển kinh tế gia đình, mua sắm hay chi tiêu sinh hoạt,…Ngồi ra nhà nước còn thực

hiện nhiều chính sách ưu đãi nhằm phát triển đời sống người dân, giúp các gia đình

thuộc diện nghèo đói dễ dàng tiếp cận các khoản vốn vay với lãi suất thấp, cải thiện

cuộc sống, tạo công ăn việc, xố đói giảm nghèo và giảm tỉ lệ thất nghiệp, ổn định

trật tự xã hội.

1.1.4.3. Với nền kinh tế

Có thể nói mọi hoạt động kinh doanh trong các tổ chức kinh tế đều phải cần

có vốn. Lượng vốn phải cung cấp đủ mới có thể duy trì và phát triển sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ,… Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về vốn càng tăng lên.

Đối với nước ta, tại đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng đã

chỉ rõ "để cơng nghiệp hố - hiện đại hố cần huy động nhiều nguồn vốn trong nước

là quyết định, nguồn vốn bên ngồi là quan trọng..".

Tín dụng ngân hàng đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hố. Chúng ta đều biết rằng muốn phát

triển kinh tế, thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh thì trước hết là phải có vốn

(vốn bằng tiền). Và để có lượng vốn lớn, cần phải có tổ chức đủ thẩm quyền, có đủ

năng lực đứng ra huy động và tập trung, sẵn sàng cung cấp để đem đi sử dụng. Thực

tế ở bất kỳ quốc gia nào đều có 2 tổ chức chun thực hiện cơng việc này đó là quỹ

tài chính (tổ chức tài chính) và quỹ tín dụng (tổ chức tín dụng). Tuy nhiên phần lớn

là do tài chính tín dụng thực hiện.

Có thể khái qt vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế đó là đã

góp phần làm giảm lượng tiền nhàn rỗi, tăng cường lưu thông tiền tệ và nâng cao



20



hiệu quả sử dụng vốn, là công cụ quan trọng, hữu hiệu phát triển và mở rộng kinh tế

trong nước, tăng cường giao lưu hợp tác, là công cụ hữu hiệu để thực hiện các chiến

lược quốc gia. Khi vốn tín dụng ngân hàng được thể hiện đúng chức năng và vai trò

của mình sẽ đem lại những hiệu quả nhất định trong tồn xã hội, góp phần khơng

nhỏ để thực hiện thắng lợi đường lối cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.

1.1.5. Các hình thức cấp tín dụng ngân hàng

1.1.5.1. Cho vay đối với các tổ chức cá nhân

Bao gồm các hình thức cho vay như sau:





Thấu chi: Ngân hàng cho vay cho phép người vay được phép chi vượt (bội chi) mức

số dư tiền gửi thanh toán. Ngân hàng sẽ thu lãi đối với phần tiền mà khách hàng đã

chi vượt.

Một ví dụ minh hoạ dễ hiểu: khách hàng được cấp hạn mức thấu cho trên tài

khoản của mình là 10 triệu có nghĩa là khi tài khoản hết tiền (số dư bằng 0), khách

hàng vẫn có thể rút/thanh tốn âm tối đa thêm 10 triệu. Sau đó khi nộp tiền vào tài

khoản, số tiền nộp sẽ bù vào phần tiền âm. Ngân hàng sẽ chỉ tính lãi với số tiền âm

trong tài khoản.

Hiện nay chưa có một quy định thống nhất về điều kiện cho phép vay thấu

chi ở các ngân hàng thương mại. Tuy thuộc vào chiến lược kinh doanh, mỗi ngân

hàng sẽ có quy định khác nhau. Có hai dạng thấu chi là:

+ Vay thấu chi tín chấp: cho vay dựa trên tài khoản trả lương mà không cần tài sản

đảm bảo. Tuy nhiên hạn mức vay của hình thức này thường khơng được cao.

+ Vay thấu chi thế chấp: vay có tài sản đảm bảo, những loại tài sản có giá trị cao.

Hạn mức vay của hình thức này cao hơn rất nhiều.







Cho vay trực tiếp từng lần: Hình thức cho vay này được áp dụng đối với những

khách hàng cá nhân, tổ chức không có nhu cầu vay thường xun hay các trường



21



hợp khơng có đủ điều kiện dể cấp hạn mức thấu chi. Có nhiều mức kỳ hạn được đưa

ra nhằm đáp ứng mọi nhu cầu vay. Khi hết kỳ hạn, ngân hàng sẽ thu cả gốc và lãi.





Cho vay theo hạn mức: Ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín

dụng. Hạn mức tín dụng được tính trên cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tối đa mà

khách hàng nhận được tại thời điểm tính. Đặc điểm của hình thức cho vay này đó là

khơng xác định trước kì hạn nợ và thời hạn tín dụng. Việc thu nợ được ngân hàng

thực hiện khi khách hàng có thu nhập.







Cho vay luân chuyển: nghiệp vụ cho vay dựa trên luận chuyển của hàng hố. Hình

thức cho vay này thường được áp dụng với các doanh nghiệp kinh doanh thương

nghiệp hoặc sản xuất có chu kỳ tiêu thụ sản phẩm ngắn ngày, hoạt động vay trả

thường xun, có tính ổn định. Doanh nghiệp khi mua hàng hoá, vật tư, trang thiết

bị có thể thiếu vốn và ngân hàng cho vay để thực hiện mua và sẽ thu nợ khi doanh

nghiệp tiến hành bán hàng. Cho vay luận chuyển đồi hỏi Ngân hàng lẫn doanh

nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch sản xuất, luân chuyển hàng hoá để dự báo

ngân quỹ phù hợp, đảm bảo nguồn vốn chính xác.







Cho vay trả góp: Ngân hàng cho phép khách hàng trả tiền gốc làm nhiều đợt trong

thời hạn xác định. Hình thức cho vay trả góp ngày nay rất phổ biến, thường được áp

dụng với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu

bền







Cho vay gián tiếp: Hình thức cho vay thơng qua các tổ chức trung gian, thường

được áp dụng tại những nơi có nhiều khoản vay nhỏ lẻ, khách hàng không tập trung,

phân tán, cách xa ngân hàng

1.1.5.2. Chiết khấu cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá

Khách hàng có thể sử dụng thương phiếu và các giấy tờ có giá để xin chiết

khấu trước hạn. Số tiền mà Ngân hàng cấp (ứng trước) sẽ phụ thuộc vào mức lãi

chiết khấu, thời hạn chiết khấu và giá trị của cổ phiếu hay các giấy tờ cầm cố.

Thường là ngân hàng kí với khách hợp đồng chiết khấu. Sau đó bất cứ khi nào có



22



nhu cầu, khách hàng chỉ cần gửi phiếu lên ngân hàng chiết khấu. Độ an toàn của

thương phiếu cao do có ít nhất là 2 người cùng cam kết trả tiền.

1.1.5.3. Cho th tài chính

Là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Ngân hàng sẽ tiến hành mua tài sản

cho khách hàng thuê với thời hạn được tính tốn sao cho sau khi hết hạn, Ngân hàng

phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị tài sản cho th cộng lãi. Khách hàng có thể

mua lại chính tài sản đó sau khi hết hạn thuê.

1.1.5.4. Bảo lãnh

“Là sự cam kết của Ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện

nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của Ngân hàng trong trường hợp khách

hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết”. Hợp đồng bảo lãnh thường có 3

bên, bao gồm: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh, và bên bảo lãnh. Ngân hàng

chính là bên bảo lãnh chịu trách nhiệm.



23



1.2. Chất lượng tín dụng ngân hàng

1.2.1. Khái niệm chung về chất lượng tín dụng ngân hàng

Để đạt hiệu quả kinh doanh và gia tăng lợi nhuận thì các ngân hàng khơng

chỉ tăng cường huy động vốn mà còn phải thu hút được nhiều khách hàng vay. Để

thực hiện được điều này các NHTM nói chung phải thoả mãn được các yêu cầu đa

dạng của khách hàng cả về chất và lượng, giá cả, từng bước nâng cao chất lượng tín

dụng.

Ngày nay chất lượng tín dụng là một trong những tiêu chí hàng đầu mà

khách hàng quan tâm khi đánh giá lựa chọn ngân hàng. Về cơ bản có thể hiểu nó là

sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong hoạt động vay vốn phù hợp với luật pháp

hiện hành, định hướng nhà nước, sự phát triển kinh tế, xã hội tạo nên sự tồn tại và

phát triển, tìm kiếm lợi nhuận của ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường chất

lượng tín dụng là một phạm trù rất rộng chứa đựng nhiều nội dung, nhiều tiêu chí

đánh giá được đề cập trong phần sau.

Vậy chất lượng tín dụng là gì? Đó là ngân hàng đáp ứng được nhu cầu về

vay vốn của các đối tượng khách hàng đồng thời khách hàng khi vay vốn phải đảm

bảo hoàn trả đúng hạn cả tiền gốc và lãi cho khoản tiền vay. Đối với khách hàng khi

vay vốn chất lượng tín dụng chính là nguồn vốn vay được sử dụng hiệu quả, đáp

ứng tốt các nhu cầu mong muốn và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp (Phan Thị

Thu Hà, 2004). Như vậy chất lượng tín dụng được thể hiện qua mối quan hệ với 3

chủ thể đó là:





Đối với lợi ích của khách hàng: chất lượng tín dụng ngân hàng chính là chính sách,

thủ tục, mức lãi suất mà ngân hàng áp dụng. Thủ tục phải đơn giản, thuận tiện, dễ

hiểu, thực hiện nhanh chóng. Lãi suất và kỳ hạn hợp lý nhưng vẫn đảm bảo các

nguyên tắc của tín dụng. Tất cả nhằm mục đích đó là đáp ứng nhu cầu về vốn của

khách hàng, tạo điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp, cá nhân thuận lợi trong kinh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mục tiêu cụ thể:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×