Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Nguồn gốc, đặc điểm một số giống heo ngoại ở Việt Nam

1 Nguồn gốc, đặc điểm một số giống heo ngoại ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

Năng suất

Nhờ khả năng thích nghi tớt nên việc ni nhốt hoặc thả đều được. Heo nuôi

thịt 6 tháng tuổi đạt 90-100 kg, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng khoảng 3-4 kg,

tỉ lệ nạt 51-54%. Trọng lượng sơ sinh trung bình 1–1,3 kg/con. Heo thịt tăng trọng

tốt: Đạt 100kg thể trọng lúc 7-8 tháng tuổi. Quày thịt ngon: Nạc nhiều hơn mỡ. Tỉ

lệ nạc/ thịt xẻ: 54% (Lê Hồng Mận, 2004; Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân,

2000).

2.1.2 Heo Landrace

Nguồn gốc xuất xứ

Theo Lê Quang Minh (2002), Đặng Vũ Bình và Trần Ngọc Phương (2005),

heo Landrace có nguồn gớc từ Đan Mạch còn gọi là heo Danois (Mỹ), được hình

thành vào khoảng 1924-1925 được công nhận giống vào năm 1890, bởi quá trình

tạp giao giữa các giống heo đến từ Anh, Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Trung

Quốc mà thành. Chúng được tạo thành bởi quá trình lai tạo giữa giớng heo

Youtland có nguồn gớc Đức với heo Yorkshire có nguồn từ Anh (Bách khoa tồn

thư mở, Wikipedia). Theo Phạm Sỹ Tiệp (2006), heo Landrace hiện nay ở nước ta

nhập về từ các nước Cu Ba, Nhật Bản và Pháp….

Ngoại hình

Heo Landrace (Hình 2.2) có ngoại hình cái nêm, phần sau phát triển nở nang,

bằng phẳng. Màu lông, da trắng. Hình dáng giống quả thủy lôi. Đầu, mõm dài và

nhỏ. Tai heo lớn, dài, xụ che kín mắt. Đòn dài (16-17 đơi xương sườn), vai nở,

lưng thẳng, đùi mông to và phát triển. Chân yếu (yếu điểm cần lưu y khi tuyển

chọn heo giống), xương nhỏ (Trương Lăng, 2000 và Lê Thị Mến, 2010).



(www.channuoi.com)



Hình 2.2 Heo Landrace



Mục tiêu sản xuất

Giống heo này kiêm dụng được thị trường chấp nhận vừa sản xuất nạc tốt tỉ

lệ nạc chiếm 56-57% vừa có khả năng sinh sản, ni con tốt. Nhu cầu dinh dưỡng

ix



tuy cao nhưng dễ thỏa mãn, sức kháng bệnh và thích nghi tớt ở điều kiện chăn

nuôi Việt Nam. Dùng để lai kinh tế với các giớng heo nội mục đích nâng cao trọng

lượng và tỉ lệ nạc hoặc dùng để nuôi thuần (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 1999).

Lê Hồng Mận (2006) cho rằng đây là giống heo sinh sản tốt mà hiện nay đa

số nhà chăn nuôi chọn nuôi để làm heo giống, được chọn ni th̀n hoặc lai với

giớng ngoại, nội. Làm dòng cái lai với đực Yorshire tạo con lai F1 (Yorkshire x

Landrace), làm dòng đực với nái Yorshire tạo con lai F1 (Landrace x Yorkshire),

tạo nái lai F1 (ngoại x nội), với nái địa phương tạo heo lai nuôi thịt 50% máu

ngoại.

Năng suất

Thích nghi kém ở điều kiện nhiệt đới nóng ẩm (Viện chăn nuôi Quốc Gia,

2004). Heo Landrace nuôi thịt tăng trọng nhanh, 5-6 tháng tuổi đạt 100 kg, hệ sớ

chuyển hóa thức ăn cho 1 kg thức ăn tăng trọng là 2,9 - 3,5 kg, độ dày mỡ lưng

trung bình 20–25 mm. Con đực trưởng thành: 350-400 kg, con cái: 220-300 kg

(Phạm Sỹ Tiệp, 2006; Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2002).

2.1.3 Heo Duroc

Nguồn gốc xuất xứ

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2002), heo Duroc còn được gọi

là “heo Bò”. Xuất xứ từ Mỹ hình thành từ dòng heo Duroc của New York và dòng

heo đỏ Jersey, heo cũng có máu của Tamworth (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị

Dân, 2000; Lê Thị Mến, 2010), được công nhận vào năm 1860, được nhập vào

nước ta năm 1967 và đã hiện diện khắp nơi trên thế giới (Võ Văn Ninh, 2001).

Ngoại hình

Heo Duroc (Hình 2.4) có da màu nâu sẫm như da bò, đầu tương đới nhỏ, mặt

hơi cong, tai ngắn và hơi cụp ra phía trước. Thân mình cân đối, lưng thẳng ngực

sâu và nỡ nang, đùi to rắn chắc, bụng thon, chân khỏe. Nhờ ưu điểm này nên được

nhiều người chọn nuôi vừa để làm giống vừa để nuôi thịt (Phạm Hữu Doanh và

Lưu Kỷ, 1999).



x



(

w

ww.fenderclubprojects.com)



Hình 2.3 Heo Duroc



Mục tiêu sản xuất

Theo Nguyễn Thiện và ctv. (2004) và Nguyễn Xuân Bình (2008). Heo Duroc

là giống heo hướng thịt, có tỉ lệ nạc cao từ 54-55%. Heo còn dùng để phới với các

giớng heo khác tạo heo lai thương phẩm có bớn giớng heo ngoại. Đực Duroc

thường được phối với heo cái lai hai máu (Yorkshire x Landrace) hay (Landrace x

Yorkshire), hoặc cho heo cái Duroc lai với heo đực Pietrain để tạo ra con đực hai

máu và cho lai con đực hai máu hay dùng để phới với các dòng heo khác tạo con

lai ni mau lớn, cho nhiều nạc (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2000).

Năng suất

Heo Duroc đạt khối lượng khoảng 100 kg lúc 6 tháng tuổi, độ dày mỡ lưng

biến thiên từ 17 – 30 mm (Trương Lăng, 2000). Heo thịt tăng trọng 650 – 700

g/ngày; tiêu tốn 2,4 – 2,6 thức ăn/kg tăng trọng. Heo có khả năng thích nghi tớt với

khí hậu nhiệt đới (Đặng Vũ Bình, 2005; Nguyễn Xuân Bình, 2008). Heo Duroc

đực trưởng thành 320-380 kg, nái 220-280kg. Tăng trọng cao, tỉ lệ nạc cao, chất

lượng thịt tốt. Giớng có tính chịu đựng cao (Ngũn Xn Bình, 2008; Việt

Chương và Nguyễn Việt Thái, 2005).

2.1.4 Heo lai nuôi thịt Duroc x (Yorkshire x Landrace)

Heo lai 3 giống Duroc x (Yorkshire x Landrace) lai giữa nái sinh sản 2 giống

YL hay với đực cuối là Duroc sẽ tạo ra con lai: Duroc x (Yorkshire x Landrace)

là con lai 3 giống khi dùng đực cuối là Duroc thuần giao phối với nái YL: Con lai

3 giống này nuôi thịt lớn nhanh, ở 180 ngày tuổi có thể đạt 90 -100 kg, tỉ lệ nạc

trên 65%, độ dày mỡ lưng 10 – 12 mm, thức ăn đòi hỏi dinh dưỡng cao, cân bằng

acid amin, tiêu tốn thức ăn khoảng 3 – 3,2 kg.



xi



xii



(www. google.com)

Hình 2.4 Heo lai 3 giống Duroc x (Yorkshire x Landrace)



2.2 Các chỉ tiêu đánh giá phẩm chất thịt heo

2.2.1 Vị ngon

Vị ngon tốt nhất là sự kết hợp giữa tính mềm, mùi thơm và tính ướt. Nếu bất

kỳ một yếu tớ nào trong các đặc tính trên bị thiếu, vị ngon và kéo theo là mùi vị

của thịt sẽ bị giảm bớt (Baas, 2000).

2.2.2 Tính ướt

Là lượng ẩm độ chứa trong thịt sau khi nấu. Tính ướt của thịt heo tươi được

xác định bởi tính di truyền của heo. Tính ướt bị phủ nhận bởi sự mất dịch nhiều

hay sự giảm khả năng giữ nước trong thịt.

Sự mất dịch: Dịch bị rỉ ra từ việc cắt thịt tươi sau khi được đóng gói và còn

lại trong gói sau thời gian mở ra.

Độ săn chắc: Khả năng để giữ hình dạng của thịt heo. Điều này chỉ sự y là

một chỉ định khác của khả năng giữ nước.

Sự đo lường pH khách quan: Chỉ tiêu này chỉ sự đo lường tính acid của cơ

thăn trong 24h sau khi giết mổ, bằng cách sử dụng máy đo pH. pH cao kết hợp với

sự mất nước thấp, màu sắc đậm hơn, chắc hơn, và tăng độ mềm của sườn ở thắt

lưng tất cả những thuộc tính tích cực.

2.2.3 Tính mềm

Tính mềm chỉ độ mềm dai của thịt, là sự khó dễ khi xé, cắt và nhai của người

khi ăn thịt. Sau khi nhai có cảm giác chung về độ to nhỏ và nhiều ít của bã thịt còn

lại trong miệng. Nhân tớ ảnh hưởng đến độ giòn mềm của thịt rất nhiều như vị trí

thịt, kết cấu thịt, thành phần, tỉ lệ mỡ thịt, loại protein, kết cấu hóa học, tính thích

nước, điều kiện gia cơng đầu tiên, điều kiện bảo quản và thời gian, nhiệt độ gia

công nhiệt, thời gian và kỹ thuật… Rất nhiều nghiên cứu còn chỉ ra rằng, độ mềm

xiii



của thịt có liên quan đến hydroxyproline của thành phần Collagen mô liên hết

trong thịt. Hàm lượng hydroxyproline càng lớn thì cường độ cắt thịt càng lớn, độ

mềm của thịt sẽ càng nhỏ.

Tính mềm có thể được đo lường bằng máy Instron một cách khách quan, sự

đo lường từ việc cắt sản phẩm để nấu. Trong thời gian gần đây sản xuất cá thể sẽ

chắc chắn đưa thông tin này của nơng trại sản xuất với mục đích chứng nhận sự

bảo đảm của tính mềm (Marsh, 1977).

Phần lớn độ mềm có sự khác nhau giữa các loại sản phẩm của thịt do trạng

thái co rút của các sợi cơ hay số lượng sợi co, loại và bản chất của các mô liên kết

(Marsh, 1977). Lớp mỡ trong cơ cũng liên quan đến độ mềm của thịt, trạng thái co

của các sợi cơ hay số lượng sợi cơ, loại và bản chất của mô liên kết.

Độ mềm của thịt bị ảnh hưởng bởi các đặc tính của heo như: Giớng, tuổi, giới

tính và tình trạng vỡ béo và các điều kiện giết mổ và sự chín tới của thịt cũng như

theo kiểu nấu và mức độ chín.

2.2.4 Mùi thơm

Sự khác biệt của vị thịt heo bị ảnh hưởng cao bởi mức độ thịt mỡ và thức ăn

vào trong khẩu phần. Điều này có thể được kiểm sốt trong đàn heo bởi nguồn ly

tưởng từ di truyền, thức ăn, và trọng lượng cớ định khi xuất chuồng. Mục đích của

sự đo lường: Những con sớ chỉ ra nó mơ tả về phần trăm của thịt mỡ ở mẫu thịt cụ

thể đã cắt ra, ví dụ mẫu đầu tiên cắt 1% thịt mỡ. Tỉ lệ thịt mỡ ly tưởng là 3 – 4%.

2.2.5 Màu sắc

Theo Baas (2000) màu sắc ly tưởng của thịt heo tươi được mô tả như đỏ

hồng. Người tiêu dùng quan tâm đến thịt heo là quá tái xanh hoặc quá sậm màu.

Cơ nhợt nhạt bất thường nhanh chóng chuyển sang xám trong quầy bán lẻ và thịt

teo lại. Kết quả mất mát kinh tế trong suốt quá trình chế biến và vị khô sau khi

nấu. Thịt heo sậm màu nhiều sẽ có thời gian bảo quản ngắn hơn bởi vì nó ít acid

hơn bởi sự hỡ trợ của vi khuẩn.Sự quan trọng của màu sắc được phản ánh bởi thị

hiếu của người tiêu dùng và sự có nhiều nước. Màu hồng hơi đỏ được xem như là

tốt bởi do hàm lượng chứa ẩm độ tối ưu của nó.

2.3 Những đặc tính của chất lượng thịt và chọn lọc gen di truyền

Chất lượng thịt heo được đánh giá theo chất lượng dinh dưỡng, chất lượng vệ

sinh an toàn và theo độ ngon (palatability) hay còn được gọi là chất lượng ăn

(eating quality). Độ ngon miếng thịt thường được đánh giá theo chủ quan của

người tiêu dùng thông qua màu sắc, mùi vị và kết cấu. Màu sắc, mùi vị và kết cấu

của miếng thịt sau khi chế biến tạo cảm giác thỏa mãn khi ăn thì đó là miếng thịt

ngon (Vũ Duy Giảng, 2013).

xiv



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Nguồn gốc, đặc điểm một số giống heo ngoại ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×