Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ CHÂT LƯỢNG TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ CHÂT LƯỢNG TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ - 0trang

ngành, với nhiều loại hình và quy mơ hoạt động lớn, vừa và nhỏ, không những xâm

nhập vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà còn xâm nhập vào nhiều lĩnh vực như dịch

vụ, đời sống. Tín dụng ngân hàng có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển

của nền kinh tế xã hội.

1.1.1.2. Tín dụng chính sách

Tại Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 10/6/1993 Hội nghị lần thứ năm Ban

chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VII), “về việc tiếp tục đổi mới

và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”, Đảng ta chủ trương có chế độ tín dụng ưu đãi

đối với hộ nghèo, hộ chính sách, vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng

căn cứ cách mạng; mở rộng hình thức cho vay thơng qua tín chấp đối với các hộ

nghèo… Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng và Chiến lược quốc gia về xóa

đói giảm nghèo, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg “về việc

thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo”, đặt trong ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn Việt Nam, hoạt động khơng vì mục tiêu lợi nhuận, để cung cấp nguồn

vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất. Sau đó để triển khai luật các tổ chức tín

dụng trong việc thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và tách tín dụng ưu

đãi ra khỏi tín dụng thương mại ngân hàng nhà nước đã tách ngân hàng phục vụ người

nghèo ra khỏi Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, thành lập

NHCSXH. Như vậy có thể thấy rằng bản chất hoạt động tín dụng tại NHCSXH là tín

dụng ưu đãi hay TDCS.

Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ“về tín dụng đối

với người nghèo và các đối tượng chính sách khác” có đưa ra khái niệm về Tín dụng

đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác “là việc sử dụng các nguồn lực

tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác

vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần

thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xố đói, giảm nghèo, ổn định xã hội”.

Căn cứ vào nghị định số 78/2002/NĐ-CP, NHCSXH đã ban hành rất nhiều văn

bản liên quan đến hoạt động tín dụng cho nhiều đối tượng khác nhau nhằm đáp ứng các

14



mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ như: Quyết định số

157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng chính phủ về tín dụng học sinh sinh

viên (HSSV), Quyết định số 31/2007/QĐ-TTG ngày 05/3/2007 về tín dụng đối với hộ

gia đình sản xuất, kinh doanh ở vùng khó khăn, Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày

23/02/2013 về tín dụng đối với hộ cận nghèo, Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày

21/7/2015 về tín dụng cho hộ mới thoát nghèo….

Hiện nay NHCSXH đang thực hiện cho vay đối với 8 đối tượng khác nhau,đó

là:Hộ nghèo; Hộ cận nghèo; Hộ mới thốt nghèo; Học sinh sinh viên (HSSV) có hồn

cảnh khó khăn; Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm; Các đối tượng chính

sách đi lao động có thời hạn ở nước ngồi; Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất kinh

doanh tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135; Các đối tượng khác khi có

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

1.1.2. Những đặc trưng cơ bản về tín dụng chính sách

Một là,đây là kênh tín dụng khơng vì mục tiêu lợi nhuận; mục tiêu của tín dụng

ngân hàng chính sách là nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời

sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu XĐGN, ổn định kinh tế - chính trị và

bảo đảm an sinh xã hội.

Hai là, đối tượng vay vốn tín dụng tại NHCSXH chủ yếu là người nghèo và các

đối tượng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ. Ngoại trừ một số dự án quốc tế

để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, dự án nước sạch và vệ sinh mơi trường nơng thơn

có đối cả đối tượng vay vốn khơng phải là đối tượng chính sách.

Ba là, nguồn vốn để cho vay tại NHCSXH chủ yếu là vốn của Nhà nước, tức là

nguồn vốn từ Ngân sách và có nguồn gốc từ NSNN. Nguồn vốn huy động từ bên ngồi

thơng qua các hình thức gửi tiết kiệm theo lãi suất thị trường của dân cư, tổ chức kinh

tế chỉ chiếm một phần rất nhỏ.

Bốn là, người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn được ưu đãi

về lãi suất cho vay, điều kiện vay vốn (hầu hết các chương trình cho vay khơng phải thế

chấp tài sản), thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn TDCS xã hội.

15



Năm là, mức cho vay của tín dụng NHCSXH thường nhỏ dưới 50 triệu và

khơng u cầu người vay có tài sản thế chấp.

Sáu là, phương thức cho vay được xã hội hóa thơng qua hình thức tổ tiết kiệm

vay vốn hay cho vay thông qua các tổ chức xã hội như hội Người mù, hội Cựu chiến

binh, hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên.

1.1.3. Vai trò của tín dụng chính sách

Hoạt động tín dụng của NHCSXH mang đầy đủ vai trò của tín dụng ngân hàng

thương mại như: huy động, tập trung vốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đáp ứng nhu

cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục, tạo cơng ăn việc làm góp phần nâng cao

đời sống của dân cư và ổn định trật tự xã hội. Thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mơ

của Chính phủ. Tuy nhiên, tín dụng tại NHCSXH có đặc trưng là tín dụng ưu đãi và nó

được ra đời bắt nguồn từ mục đích góp phần thực hiện có hiệu quả các chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước đã đề ra về giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển

nguồn nhân lực cũng như đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị và phát triển kinh

tế-xã hội vì thế mà nó cũng có những vai trò hết sức to lớn:

Thứ nhất, hoạt động TDCS cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản

xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể này có

thể nâng cao đời sống vật chất thúc đẩy phát triển sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm,

góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội.

- Một hệ thống các hình thức hoạt động TDCS đa dạng khơng những thỏa mãn

nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các hoạt động

TDCS trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn

cho các chủ thể kinh doanh.

- Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức hoạt động TDCS sẽ tạo sự

chủ động cho các cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh khi nó

khơng phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân.

Thứ hai, TDCS xã hội là một kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các

mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế (bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo

16



công ăn việc làm). Việc đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hòa phụ thuộc

một phần vào khối lượng và cơ cấu hoạt động TDCS xét cả về mặt thời hạn cũng như

đối tượng hoạt động TDCS. Vấn đề này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào các điều kiện

hoạt động TDCS như lãi suất, điều kiện vay yêu cầu thế chấp, cầm cố và chủ trương

mở rộng hoạt động TDCS được quy định trong chính sách hoạt động TDCS từng thời

kỳ. Như vậy thông qua việc thay đổi, điều chỉnh các điều kiện hoạt động TDCS, Nhà

nước có thể thay đổi quy mô hoạt động TDCS hoặc chuyển hướng vận động của hoạt

động TDCS, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về quy mô cũng

như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới dạng tác động của chính sách hoạt động

TDCS sẽ tác động ngược lại với tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân

bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động của chính sách hoạt động

TDCS sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết.

Thứ ba, TDCS là một trong các công cụ thực hiện các chính sách xã hội của

Chính phủ. Các chính sách xã hội, về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ

khơng hồn lại từ NSNN hoặc một số tổ chức phi chính phủ. Song phương thức tài trợ

khơng hồn lại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả. Để khắc phục hạn chế

này, phương thức tài trợ khơng hồn lại có xu hướng thay thế bởi phương thức tài trợ

có hồn lại của hoạt động TDCS nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện

mở rộng quy mơ hoạt động TDCS. Thông qua phương thức tài trợ này, các mục tiêu

chính sách được đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả hơn. Khi các đối tượng chính

sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hồn trả đúng thời hạn

thì kỹ năng lao động của họ cũng sẽ được cải thiện từng bước. Đây là sự bảo đảm chắc

chắn cho sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có

thể tồn tại độc lập với nguồn tài trợ. Đó chính là mục đích của việc sử dụng phương

thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường hoạt động TDCS vĩ mô.

Thứ tư, hoạt động TDCS góp phần làm cho chính sách của Chính phủ được thực

hiện thành công. Hoạt động TDCS tạo sự phát triển kinh tế đúng hướng và ổn định xã

hội, góp phần quan trọng vào việc xóa bỏ cho vay nặng lãi ở nơng thơn. Hoạt động

17



TDCS góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn,

thực hiện việc phân công lại lao động xã hội, góp phần xây dựng nơng thơn mới.

1.2. Chất lượng tín dụng chính sách và các yếu tố ảnh hưởng

1.2.1. Chất lượng tín dụng ngân hàng

Khi nghiên cứu về chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại có

nhiều cách tiếp cận của nhiều nhà khoa học khác nhau. Theo giả Nguyễn Thị Thu Đơng

(2012), hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại có thể coi là hoạt động dịch vụ,

cũng như các sản phẩm dịch vụ khác khi đánh giá chất lượng thì có rất nhiều tiêu chí

để đánh giá như:

- Sự thỏa mãn, hài lòng của khách hàng: đây là tiêu chí quan trọng đánh giá chất

lượng tín dụng của khách hàng, khi khách hàng hài lòng với dịch vụ của ngân hàng thì sẽ

tiếp tục sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng và sẽ gắn bó lâu dài với ngân hàng.

- Sự hồn hảo của dịch vụ: nó được hiểu là việc giảm thiểu các sai sót trong giao

dịch với khách hàng và rủi ro trong kinh doanh ngân hàng.

- Quy mô và tỉ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ ngân hàng không ngừng

tăng lên.

- Một số các chỉ tiêu khác như mức độ cạnh tranh, thị phần của từng loại dịch vụ

không ngừng tăng lên sẽ gia tăng uy tín cho ngân hàng.

Với những nhận định như vậy thì tác giả Nguyễn Thị Thu Đơng đưa ra quan

điểm về chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại như sau “Chất lượng tín dụng là

mức độ các ngân hàng thực hiện các hoạt động tín dụng đáp ứng vốn cho sự phát triển

kinh tế của đất nước và đạt được những mục tiêu đề ra về quy mô, an toàn, sinh lời phù

hợp với quy định pháp luật hiện hành trong nước và thông lệ quốc tế hay chất lượng tín

dụng là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động tín dụng của ngân hàng thương

mại. Chất lượng tín dụng thể hiện năng lực quản lý hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng

yêu cầu phát triển kinh tế và hạn chế rủi ro nhằm đảm bảo an toàn về vốn và khả năng

sinh lời của ngân hàng thương mại”



18



Dựa vào lợi ích các bên tham gia trong quan hệ tín dụng,có thể xem xét khái

niệm chất lượng tín dụng trên ba khía cạnh:

Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng của

khách hàng với lãi suất, kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục giản đơn thu hút được khách hàng

nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.

Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thơng

hàng hố, góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy q trình tích tụ và tập trung sản xuất.

Đối với NHTM: Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực

của bản thân ngân hàng, đảm bảo được nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi của tín

dụng, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động, mang lại lợi nhuận

và đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng.

1.2.2. Chất lượng tín dụng chính sách

Về bản chất, hoạt động tín dụng của NHCSXH giống với hoạt động tín dụngcủa

NHTM đều dựa trên ngun tắc có hồn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định

nhưng mục đích cấp các khoản tín dụng có sự khác nhau. NHCSXH cấp tín dụng

khơng vì mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng mà nhằm mục tiêu thực hiện tốt nhất các

chương trình xã hội của Chính phủ về xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội, tất nhiên

khách hàng vay vốn vẫn cần phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn nhằm bảo toàn và

gia tăng nguồn vốn cho NHCSXH hạn chế tình trạng NSNN phải cấp bù vốn cho hoạt

động của NHCSXH. Vì vậy, khi xem xét chất lượng tín dụng tại NHCSXH thì tác giả

xem xét trên các góc độ khác nhau, cụ thể là:

Đối với NHCSXH: hoạt động tín dụng phải đảm bảo có thể đáp ứng đầy đủ nhu

cầu vay vốn của khách hàng, tiết kiệm được chi phí mà vẫn đảm bảo an tồn vốn cho

ngân hàng.Cần nhìn nhận một cách sâu sắc rằng NHCSXH cũng là một ngân hàng một tổ chức tín dụng của nhà nước nhằm tạo ra một kênh tín dụng ưu đãi một phần lãi

suất và các điều kiện tín dụng khác để hỗ trợ các hộ nghèo, hộ chính sách vay vốn phát

triển sản xuất kinh doanh, thu hồi được vốn cho ngân hàng để tiếp tục cho vay, chứ

khơng phải đây là một tổ chức tài chính tài trợ bao cấp. Với tính chất khơng hoạt động

19



vì mục tiêu lợi nhuận nên trước khi quyết định cho vay NHCSXH cần phải xem xét

thận trọng về khách hàng vay vốn, khơng phải đối tượng nghèo, đối tượng chính sách

nào cũng được vay. Vì thực tế ở nước ta có rất nhiều ngườinghèo, khơng phải ai cũng

có khả năng vay vốn và trả nợ. Chỉ những đối tượng đáp ứng được các yêu cầu về khả

năng trả nợ mới được vay vốn, đây là yếu tố cốt lõi để NHCSXH hoạt động hiệu quả,

đảm bảo an toàn vốn.

Đối với khách hàng: một khoản tín dụng được coi là có chất lượng nếu người

nghèo, các đối tượng chính sách và đối tượng vay vốn khác có thể tiếp cận một cách tốt

nhất vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước.

Người nghèo, các đối tượng chính sách và các đối tượng được vay vốn ưu đãi

của chính phủ được hưởng những ưu tiên nhất định về lãi suất, thủ tục, điều kiện vay

vốn khi vay tại NHCSXH. Trên thực tế thì có rất nhiều hộ nghèo và hộ chính sách

muốn được vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, tuy nhiên nguồn vốncho vay của

ngân hàng lại rất hạn chế vì vậy không phải bất kỳ người nghèo nào cũng dễ dàng tiếp

cận được nguồn vốn vay ưu đãi này.

Đối với việc thực hiện các mục tiêu của Chính phủ: hoạt động tín dụng

củaNHCSXH được coi là có chất lượng khi nó thực hiện được các mục tiêu quốc gia

về xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội mà khơng làm gia tăng gánh nặng về tài chính

cho quốc gia.

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi được cấp chủ yếu từ NSNN, có một phần được

NHCSXH huy động từ bên ngồi với lãi suất thị trường. Nhưng khi cho vay thì lại cho

vay với lãi suất ưu đãi, thậm chỉ có thể thấp hơn lãi suất huy động, vì vậy NSNN vẫn

phải cấp bù phần lãi suất chênh lệch. Điều này tạo nên gánh nặng tài chính cho NSNN

khi vừa phải thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi vừa phải cấp kinh phí để duy

trì NHCSXH. Vì vậy, việc các đối tượng chính sách vay vốn sử dụng vốn đúng mục

đích và có hiệu quả giúp chính bản thân họ thốt nghèo, vươn lên làm giàu, có thể trả

được nợ và lãi sẽ tạo điều kiện tái quay vòng vốn cho những đối tượng khác vay và

không làm gia tăng gánh nặng tài chính cho NSNN.

20



Trên phương diện NHCSXH thực hiện hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng tốt

nhất nhu cầu tín dụng của khách hàng và phù hợp với các mục tiêu của chính phủ trong

từng thời kỳ. Tác giả đưa ra quan điểm về chất lượng tín dụng của NHCSXH: chất

lượng hoạt động tín dụng NHCSXH là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động tín

dụng của NHCSXH. Thể hiện năng lực quản lý hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng nhu

cầu tín dụng cho khách hàng vay vốn để đạt được các mục tiêu về xóa đói giảm nghèo,

an sinh xã hội của chính phủ và đảm bảo về an toàn vốn cho ngân hàng.

1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng chính sách

(1) Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mơ cung cấp vốn tín dụng của NHCSXH

Dư nợ tín dụng: chỉ tiêu này phản ánh mức độ cho vay của NHCSXH tại một

thời điểm xác định. Hiện nay dư nợ tín dụng được phân loại theo nhiều tiêu chí như:

theo thời gian, theo đối tượng vay vốn, theo chương trình vay vốn.

Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng

Tốc độ tăng trưởng dư nợ (%) =



Dư nợ cho vay kỳ thực hiện – Dự nợ cho vay kỳ trước

Dư nợ cho vay kỳ trước



x 100%



Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng trong một thời

kỳ xác định. Nếu tốc độ tăng trưởng quá nhanh trong thời gian ngắn khơng tương xứng

với gia tăng nguồn vốn thì NHCSXH có thể gặp phải rủi ro an tồn vốn và làm gia tăng

gánh nặng tài chính cho NSNN.

(2) Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng tiết kiệm chi phí

- Vòng quay vốn tín dụng

Doanh số thu nợ trong năm

Dư nợ bình qn trong năm



Vòng quay vốn tín dụng =



Vòng quay vốn tín dụng trong năm thể hiện tốc độ luân chuyển của nguồn vốn

tín dụng. Đây là chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu

vốn của khách hàng. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ nguồn vốn của ngân

hàng đã luân chuyển nhanh, thu hồi vốn tốt. Với một số vốn nhất định, vòng quay vốn

tín dụng càng nhanh thì càng nhiều khách hàng được vay vốn, được thụ hưởng chính

sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước. Ngân hàng Chính sách càng tiết kiệm được chi phí

để thu hồi, quả lý nợ và lãi quá hạn.

21



- Tỷ lệ cấp bù lãi suất

Tỷ lệ cấp bù lãi suất (%) =



Số tiền chính phủ cấp bù lãi suất cho NHCSXH

Tổng số tiền lãi NHCSXH phải chi ra



x 100%



Trong điều kiện NHCSXH vẫn đảm bảo được nguồn vốn để thực hiện các

chương trình cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ mà tỷ lệ cấp bù lãi suất thấp thì càng

tốt, vì như vậy có nghĩa là NHCSXH đã tìm kiếm được những nguồn vốn khác như

vốn tài trợ, vốn ủy thác với lãi suất thấp để cho vay mà không cần phải huy đông vốn

trên thị trường với lãi suất cao, điều này sẽ giúp tiết kiệm chi phí cho ngân hàng. Vì

trên thực tế lãi suất cho vay của NHCSXH thấp hơn lãi suất huy động vốn của

NHCSXH.

(3) Nhóm chỉ tiêu về mức độ an toàn vốn

- Tỷ lệ nợ quá hạn:

Nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất để đo lường,đánh giá chất lượng

hoạt động tín dụng của ngân hàng, chỉ số này càng thấp thì mức độ an tồn vốn của

ngân hàng càng cao và ngược lại. Điều này thể hiện chất lượng tín dụng của

NHCSXH. Nợ quá hạn là loại rủi ro tín dụng gây ra sự tổn thất về tài chính cho ngân

hàng do người vay chưa hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết

hoặc mất khả năng thanh toán. Do đặc thù hoạt động của NHCSXH và vốn củangân

hàng là vốn huy động từ nhiều nguồn khác nhau nên nợ quá hạn ảnh hưởng trực tiếp

đến tình hình tài chính của NHCSXH, đến khả năng hồn trả vốn cho các nguồn vốn

huy động phải hoàn trả và đặc biệt đến khả năng cấp tín dụng ở các chu kỳ tiếp

theo.Tùy theo tiêu thức phân loại mà các loại nợ quá hạn được gọi với những tên khác

nhau, để có thể đánh giá tổng thể, người ta thường sử dụng chỉ tiêu:

Tỷ lệ nợ quá hạn (%) =



Nợ quá hạn

Tổng dư nợ



x 100%



Tỷ lệ nợ bị chiếm dụng: nợ bị chiếm dụng là loại nợ bị chiếm và sử dụng một

cách trái phép. Có thể hiểu, khách hàng vay vốn tại NHCSXH nhưng không sử dụng

vốn vay mà người khác sử dụng.Nợ bị chiếm dụng tại NHCSXH có thể do Ban quản lý

tổ TK&VV (TK&VV) thu lãi, thu tiền gửi tiết kiệm của tổ viên không nộp cho

NHCSXH theo quy định hoặc Ban quản lý Tổ vay lại, vay ké của tổ viên; cán bộ Hội

22



đoàn thể, chính quyền địa phương, cán bộ NHCSXH hoặc Ban quản lý Tổ trong quá

trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ đã lợi dụng lòng tin của người vay khi thu tiền

gốc, lãi, tiền gửi tiết kiệm không nộp ngân hàng.Nợ bị chiếm dụng cũng là một trong

những chỉ số quan trọng để đo lường chất lượng tín dụng của NHCSXH. Chỉ số này

phải bằng không (= 0) mới thể hiện được chất lượng tín dụng tốt.

- Tỷ lệ thu lãi; lãi tồn đọng

Số lãi thực thu

Số lãi phải thu



Tỷ lệ thu lãi (%) =



x 100%



Trong đó:Số lãi phải thu = số lãi phát sinh (trong tháng) + số lãi tồn được giao.

Tỷ lệ thu lãi cao cho thấy chất lượng tín dụng tốt và ngược lại.

Lãi tồn đọng = Số lãi phải thu - Số lãi thực thu

Lãi tồn đọng gồm lãi phát sinh của nợ quá hạn và lãi tồn của nợ trong hạn. Chỉ

tiêu lãi tồn đọng cũng là một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình tàichính

của NHCSXH. Đây là một chỉ số quan trọng để đo lường chất lượng tín dụng của

NHCSXH. Chỉ số này thấp sẽ cho thấy chất lượng tín dụng tốt và ngược lại. Lãi tồn

đọng là do người vay không thực hiện nghĩa vụ trả lãi theo đúng hạn (hàng tháng) cho

NHCSXH.

- Tỷ lệ nợ khoanh thu hồi được

Tỷ lệ nợ khoanh thu hồi được (%) =



Doanh số nợ khoanh thu hồi được trong kỳ

Tổng doanh số nợ khoanh phát sinh trong kỳ



x 100%



Chỉ tiêu này phản ánh khả năng xử lý nợ rủi ro của NHCSXH, tỷ lệ này càng

cao càng tốt vì nó giúp NHCSXH hạn chế được tổn thất và bảo toàn được nguồn vốn

để hoạt động bền vững hơn. Ngoài ra việc tăng cường thu hồi nợ khoanh còn giúp cho

các đối tượng vay vốn nâng cao được ý thức trong việc sử dụng và hoàn trả vốn vay

cho NHCSXH.

- Tỷ lệ nợ được gia hạn nợ

Tỷ lệ nợ được gia hạn (%) =



Dư nợ được gia hạn nợ trong kỳ

Tổng dư nợ trong kỳ



x 100%



Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu phần trăm dư nợ trong tổng dư nợ trong kỳ

của NHCSXH mà người vay vốn khơng có điều kiện để trả nợ đúng hạn và phải xin gia

hạn nợ. Tỷ lệ này càng thấp càng tốt vì NHCSXH sẽ hạn chế được rủi ro trong cho vay,

23



tiết kiệm được cách chí phí xử lý nợ có rủi ro và đặc biệt là tăng được vòng quay vốn

tín dụng để tiết kiệm chi phí huy động vốn và chí phí cấp bù lãi suất cho NSNN.

- Tỷ lệ nợ được xóa nợ

Tỷ lệ nợ được xóa (%) =



Dư nợ được xóa trong kỳ

Tổng dư nợ trong kỳ



x 100%



Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu phần trăm dư nợ trong tổng dư nợ trong kỳ

của NHCSXH được xử lý xóa nợ. Tỷ lệ này càng thấp thì càng tốt vì NHCSXH sẽ bảo

tồn được nguồn vốn trong hoạt động cho vay.

(4) Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý hoạt động tín dụng

- Triển khai các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ tín dụng.

- Tổ chức, điều hành hoạt động tín dụng.

- Cơng tác lập kế hoạch tín dụng (tháng/q/năm): cụ thể/chi tiết không?

- Tổ chức Tổ giao dịch lưu động và Điểm giao dịch tại xã.

- Công tác tham mưu cho Cấp ủy, Chính quyền địa phương và Ban đại diện

Hộiđồng quản trị.

- Cơng tác phối hợp với các Hội Đồn thể và tổ TK&VV.

- Về thu tiền gửi tiết kiệm qua tổ TK&VV (phạm vi triển khai huy động tiết

kiệm).

- Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế xã hội đạt được: hiệu quả kinh tế xã hội mà tín

dụng ưu đãi mang lại thể hiện qua một số chỉ tiêu như:Số hộ nghèo vay vốn thoát

nghèo; Số lao động được giải quyết việc làm từ nguồn vốn vay NHCSXH; Tỉ lệ học

sinh, sinh viên được vay vốn từ NHCSXH; Số cơng trình nước sạch vệ sinh mơi trường

được xây dựng; Sự tăng lên của thu nhập tại các hộ vay vốn…

1.2.4. Vai trò của nâng cao chất lượng tín dụng chính sách

Thứ nhất, trên phương diện quản lý vĩ mơ

Việc nâng cao chất lượng tín dụng NHCSXH giúp NHCSXH thực hiện tốt vai

trò là trung gian tín dụng giữa chính phủ và người nghèo, các đối tượng chính sách,

thơng qua đó đáp ứng được các nhu cầu về vốn của các đối tượng này. Giúpcải thiện thị

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ CHÂT LƯỢNG TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×