Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn kích cầu đầu tư

Giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn kích cầu đầu tư

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việc kích cầu đầu tư có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế xã

hội, nhưng kết quả của kích cầu đầu tư lại khơng phải chỉ ngay trong thời gian ngắn

mà có được, nó phải trải qua một quá trình dài. Vì vậy, điều đáng lưu ý là thời điểm

thực thi chính sách kích cầu vì hiệu lực của chính sách này có độ trễ. Đó là khoảng

thời gian khi mà chính sách kích cầu được thực thi và phát huy hết hiệu lực đối với

nền kinh tế. Độ trễ này xảy ra do nền kinh tế phải có thời gian trải qua q trình số

nhân khi mà chính sách ban đầu có tác động lan tỏa đến sự vận hành tổng thể của

nền kinh tế. Mục tiêu của chính sách kích cầu là “đi ngược chiều gió” kích thích nền

kinh tế đang bị suy thối. Vì vậy, việc tính tốn, lựa chọn thời điểm thực thi là rất

quan trọng bởi lẽ nếu lựa chọn không đúng thì khi chính sách kích cầu phát huy tác

dụng mà nền kinh tế đã chuyển sang giai đoạn phục hồi và phát triển, chính sách

kích cầu thậm chí còn phản tác dụng. Đó là kích thích nền kinh tế khi nó đang nóng.

Kết quả sẽ là lạm phát.

2.2.



Phân bổ nguồn vốn hợp lý



Theo các chuyên gia, kích cầu vào đâu, kích như thế nào là vấn đề cần được

cân nhắc kỹ để đúng trọng tâm và mang lại hiệu quả thiết thực. Có lẽ sẽ hiệu quả

hơn nếu phân chia lĩnh vực rõ ràng đối với đầu tư công và đầu tư tư nhân (trong

nước và nước ngồi). Nói chung đầu tư công nên được thực hiện đối với những

hàng hóa có đặc tính của hàng hóa cơng cộng, những hàng hóa cần thiết cho sản

xuất và tiêu dùng nhưng khu vực tư nhân khó có thể cung cấp do tính khó khai thác

hoặc khơng có nhiều cơ hội lợi nhuận. Đầu tư tư nhân sẽ tập trung vào những hàng

hóa có đặc tính của hàng hóa tư nhân. Động cơ lợi nhuận sẽ giúp các doanh nghiệp

tính tốn sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả nhất. Để tăng đầu tư, chính phủ

có thể trực tiếp tăng đầu tư của khu vực cơng và gián tiếp kích thích đầu tư của khu

vực tư nhân. Trong giai đoạn đầu của tăng trưởng, xây dựng tốt một cơ cấu cơ sở hạ

tầng vật chất và nâng cao mặt bằng nguồn vốn nhân lực là một nền tảng cần thiết

giúp giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả lao động của các doanh nghiệp. Do vậy,

tất nhiên tăng đầu tư của chính phủ vào giáo dục, y tế, các cơng trình cơ sở hạ tầng

như sân bay, bến cảng, đường xá, cầu cống là hết sức cần thiết. Nhưng điều đáng

nói ở đây là hiệu quả vốn đầu tư vì nguồn vốn đầu tư này khơng phải là miễn phí,

nó có chi phí cơ hội. Với nguồn ngân sách của chính phủ có giới hạn thì việc tập

trung vào đầu tư hàng hóa cơng cộng có lẽ là sự ưu tiên nhất vì đây cũng là hình

thức gián tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp do giúp làm giảm chi phí sản xuất. Để kích

thích đầu tư của khu vực tư nhân phát triển, bên cạnh việc miễn giảm thuế doanh

nghiệp, tạo dựng mơi trường đầu tư thơng thống hơn thì việc hỗ trợ vốn trực tiếp



74



cho các doanh nghiệp như hình thức hỗ trợ lãi suất có lẽ nên được xem xét cẩn thận

vì vấn đề này cũng có hai mặt: tính hiệu quả và tính cơng bằng. Xét về tính cơng

bằng thì tất cả các doanh nghiệp đều nên được tiếp cận đến hỗ trợ vốn của chính

phủ như nhau. Tuy nhiên xét về tính hiệu quả thì sẽ có các doanh nghiệp làm ăn

hiệu quả trong khi các doanh nghiệp khác thì khơng cho nên với nguồn lực có giới

hạn, nếu thực hiện tràn lan sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí, khơng tạo được cú hích

mạnh. Tác động của nó đến sức sản xuất của nền kinh tế cũng khơng phát huy được

tối đa. Suy thối cũng là một hình thức để đào thải những doanh nghiệp làm ăn

khơng hiệu quả. Do vậy, lại có sự đánh đổi và tùy theo mục tiêu đưa ra mà cần có sự

lựa chọn ưu tiên cho các doanh nghiệp nhận hỗ trợ vốn của chính phủ.

 Nên ưu tiên cho dự án quay nhanh vòng vốn

Một số ý kiến cho rằng Nhà nước cần tập trung vốn để hoàn thành các dự án

thuộc lĩnh vực giao thông, thủy lợi... đang dở dang nhằm tránh lãng phí. Điều này sẽ

thúc đẩy việc hoàn thành các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản. Đồng thời tạo điều

kiện để bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu thực hiện an sinh xã hội. Tuy nhiên,

trên thực tế, phần lớn chủ đầu tư những dự án trên là các tập đoàn, tổng công ty Nhà

nước đã từng sử dụng vốn chệch mục tiêu, sử dụng vốn chưa hiệu quả, cơng trình

triển khai khơng đúng thời gian quy định. Vì thế, trước khi quyết định rót tiền, kích

cầu đầu tư lại đối với các dự án này, Chính phủ cần rà sốt lại hiệu quả hoạt động

của các đơn vị đang quản lý các dự án; kiểm tra giám sát thường xuyên việc sử

dụng vốn Nhà nước. Chính phủ nên dành tiền vào những dự án đồng vốn có thể

quay vòng nhanh. Khơng phải cứ doanh nghiệp (DN) nào kêu khó là cứu DN đó.

Đối với khối DN nhỏ và vừa, mặc dù khơng được hưởng lợi ích từ gói kích cầu trực

tiếp nhưng họ được hưởng gián tiếp khi Chính phủ kích cầu vào các ngành và đối

tượng khác, tiêu dùng tăng lên, lãi suất giảm xuống, sản xuất sẽ được khơi thơng,

kích thích. Đó mới là lợi ích thiết thực nhất. Hiện nay đối tượng bị tác động bởi

cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nhiều nhất là các DN xuất khẩu. Vì vậy, bên

cạnh chủ trương dãn, giảm thuế, hỗn nợ... Chính phủ cần có những ưu đãi riêng, ví

dụ như cho vay vốn với lãi suất đặc biệt ưu đãi. Mặt khác, kích cầu đầu tư khơng

chỉ dùng tiền mà còn phải tăng cường vai trò cầu nối, xúc tiến thương mại, mở

mang các thị trường mới để DN “trú bão”, đồng thời bảo đảm sự phát triển bền

vững cho xuất khẩu

 Hỗ trợ các dự án thu hút nhiều lao động



75



Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay là làm sao thực hiện được mục tiêu bảo

đảm an sinh xã hội. Bởi trên thực tế, do khó khăn nên nhiều DN đã phải cắt giảm

nhân công, sa thải cơng nhân, cho cơng nhân nghỉ ln phiên... Vì thế, cần phải bảo

đảm công ăn việc làm cho người lao động, bằng cách đẩy mạnh thực hiện các dự án

thu hút nhiều lao động. Khi việc làm ổn định trở lại, thu nhập bảo đảm, họ sẽ tiêu

dùng nhiều hàng hóa hơn. Khi đó, tự khắc việc sản xuất của DN sẽ trơi chảy. Gói

giải pháp kích cầu đầu tư cần ưu tiên hỗ trợ cho nhóm DN sản xuất, cần nhiều nhân

công. Việc bơm vốn cho đối tượng nào đều phải có tiêu chí cụ thể. DN thụ hưởng

nguồn vốn ưu đãi phải giải trình phương án sử dụng vốn khả thi và tiết kiệm. Đối

với khu vực nông thôn, chú trọng đầu tư các dự án giao thông nối liền với thành thị

để tiết giảm chi phí vận chuyển, từ đó giảm giá thành sản phẩm. Việc bơm vốn cho

các dự án ở nông thôn sẽ giải quyết được việc làm của những lao động có nguồn

gốc từ nông thôn hiện đang bị các khu công nghiệp ở các TP lớn sa thải, góp phần

bảo đảm an sinh xã hội. DN đầu tư thiết bị để tăng năng lực sản xuất cũng cần được

ưu tiên. Ngân hàng có thể cho DN vay vốn giá rẻ để cải tiến cơng nghệ, giảm chi

phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm tạo lực đẩy tiêu thụ hàng hóa. Ngồi ra, Nhà

nước cần tăng cường hỗ trợ cho DN xuất khẩu về lãi suất, xúc tiến thương mại;

khuyến khích DN sản xuất hàng hóa thay thế hàng hóa nhập khẩu nhằm hạn chế

nhập siêu...

II. Kết hợp với chính sách tiền tệ, tỷ giá, khuyến khích xuất khẩu, thu hút đầu



Chính phủ vẫn có thể sử dụng chính sách tiền tệ để kích thích đầu tư và tiêu

dùng trong nền kinh tế. Ngồi ra, một chính sách bộ trợ cần thiết là thực hiện tỷ giá

linh hoạt hơn nữa cho phù hợp với thị trường. Cùng với việc mở rộng chính sách tài

khóa và nới lỏng chính sách tiền tệ để kích cầu, sức ép nhập khẩu sẽ tăng lên, vừa

làm giảm bớt hiệu quả của việc kích cầu, vừa gây thêm căng thẳng lên cán cân

thương mại và tài khoản vãng lai vốn đã thâm hụt ở mức cao và kéo dài trong nhiều

năm. Tỷ giá linh hoạt đóng vai trò quan trọng như một chiếc van điều chỉnh giúp

giảm những sức ép này một cách kịp thời để tránh đổ vỡ mà nhiều nước đã gặp phải

do chính sách tỷ giá quá cứng nhắc. Một chính sách tỷ giá cứng nhắc sẽ làm đồng

nội tệ bị định giá cao và do đó vừa tước đi của doanh nghiệp xuất khẩu và cạnh

tranh với nhập khẩu một vũ khí cạnh tranh quốc tế sắc bén, lại vừa vơ hiệu hóa

chiếc van an toàn quan trọng này. Nếu vào giữa năm 2008 khi lạm phát ở mức rất

cao, chính sách tỷ giá được điều hành thận trọng không để đồng tiền Việt Nam mất

giá nhằm giúp chống “nhập khẩu” lạm phát là rất phù hợp, thì nay trong bối cảnh



76



lạm phát thấp trên tồn cầu, thậm chí đã có những sức ép về giảm phát, chính sách

tỷ giá cần chuyển trọng tâm ưu tiên sang đảm bảo cán cân thanh toán lành mạnh

thông qua việc làm cho tỷ giá linh hoạt lên đáng kể. Các nước khác cũng đang thực

hiện gói kích cầu, và khi kích cầu thì khơng nhất thiết là chỉ kích thích tiêu dùng

hàng sản xuất trong nước của các nước này, đặc biệt là khi gói kích cầu tại các nước

này là rất lớn. Việt Nam có thể tận dụng để đẩy mạnh XK, do nhiều mặt hàng xuất

khẩu của Việt Nam là những mặt hàng thiết yếu! Chúng ta cũng có thể hỗ trợ doanh

nghiệp mở rộng sang các địa bàn XK phi truyền thống khác. Đồng thời với việc hỗ

trợ xuất khẩu, Việt Nam cũng nên học tập Ấn Độ trong việc coi đây là cơ hội để cải

thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.

III.



Giám sát và đánh giá kết quả gói kích cầu



Cùng việc triển khai nhanh, giải ngân sớm các gói kích cầu đầu tư thì cơng tác

thanh tra, kiểm tra cũng cần được tiến hành kịp thời để phát hiện những bất hợp lý

giúp Chính phủ sớm điều chỉnh, bổ sung. Để thực hiện gói kích cầu đối với nền

kinh tế hiệu quả nhất, chúng ta phải nghiên cứu và triển khai việc giám sát thực hiện

gói kích cầu cũng như đánh giá kết quả thực hiện gói kích cầu.

1. Vai trò giám sát của Quốc Hội

Kinh nghiệm kích cầu trên thế giới cho thấy, để đảm bảo việc thực hiện gói

kích cầu đạt hiệu quả, chống lãng phí cũng như tham nhũng, vai trò của một cơ

quan giám sát là vơ cùng quan trọng. Ví dụ như tại Hoa Kỳ, gói kích cầu của Tổng

thống mới đắc cử Obama phải được Quốc hội Mỹ phê duyệt cả về qui mơ của gói

kích cầu (chi bao nhiêu tiền) cũng như cách thức thực hiện gói kích cầu (chi như thế

nào, vào đâu). Gói kích cầu mặc dù được chính phủ Mỹ đưa ra, nhưng lại được

quốc hội Mỹ ban hành thành Đạo Luật kích thích kinh tế 2008. Tại Việt Nam, theo

ý kiến của chúng tôi, Quốc hội với vai trò là cơ quan giám sát cần được nhấn mạnh

và nâng cao hơn nữa. Quốc hội cần có tiếng nói và tham gia mạnh mẽ trong việc

quyết định có nên có gói kích cầu hay khơng, qui mơ của gói kích cầu là bao nhiêu,

cũng như địa chỉ của gói kích cầu.

2. Đánh giá kết quả thực hiện gói kích cầu

Việc thực hiện gói kích cầu, nếu khơng có sự giám sát và đánh giá có thể dẫn

tới nhiều hệ hụy, vừa gây lãng phí cho ngân sách, vừa khơng đạt được kết quả mong

muốn là kích cầu, mà còn có thể làm méo mó nền kinh tế, gây tác động không tốt

cho tăng trưởng lâu dài và bền vững. Do đó, sau khi thực hiện gói kích cầu, vấn đề

đánh giá kết quả của gói kích cầu là hết sức cần thiết, xem xét xem gói kích cầu có

77



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn kích cầu đầu tư

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×