Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tác động của gói kích cầu thứ 2

Tác động của gói kích cầu thứ 2

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Kinh tế, thương mại, đầu tư phục hồi khá nhờ đà phục hồi của kinh tế thế giới,

kim ngạch xuất khẩu đạt 72,24 tỷ USD, tương đương 80,28% GDP; kim ngạch

nhập khẩu đạt 84,84 tỷ USD tương đương 68,46% GDP, tăng 20,1% so với

năm 2009.



Biểu đồ tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010

(Đơn vị: Tỷ USD)

Vốn FDI thực hiện tăng 10% so với năm 2009, đạt 11 tỷ USD.



Biểu đồ: Vốn đăng ký và vốn thực hiện FDI.

(đơn vị: tỷ USD)



3.2.



Tác động tiêu cực.

62



Bên cạnh những thúc đẩy to lớn về kinh tế thì chất lượng tăng trưởng kinh tế

vẫn ở mức thấp.

Thứ nhất, tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào đầu tư trong khi hiệu quả đầu tư

thấp.

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, lợi thế lao động rẻ đang giảm dần, trong

khi năng suất lao động tăng với tốc độ chậm và giữ ở mức khiêm tốn tỷ trọng đóng

góp trong tăng trưởng GDP (28,94%). Có thể nhận thấy, vốn đầu tư đóng vai trò

ngày càng quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Hiện tại, vốn đầu tư đóng góp tới

51,16% trong tăng trưởng kinh tế chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng khi tăng

trưởng vốn đầu tư luôn gấp đôi tăng trưởng kinh tế. Do ảnh hưởng của tình trạng

lấn át đầu tư (crowding out efect), hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vẫn ở mức thấp, hệ

số ICOR tăng dần, đặc biệt giai đoạn 2006-2010 đã đạt trung bình 6,1 lần.

Thứ hai, thâm hụt ngân sách lớn, kéo dài nợ công tăng nhanh.

Ngân sách nước ta là ngân sách “trường kỳ thâm hụt”. Trong hàng chục năm,

ngân sách nhà nước thường xuyên thâm hụt khoảng 5% GDP/năm. Cộng với hiệu

quả đầu tư cơng thấp, tình trạng này đang kht sâu sự yếu kém cơ cấu và tích đọng

các nguy cơ mất cân đối vĩ mô. Việc tiếp tục thực hiện gói kích cầu thứ hai đồng

nghĩa với việc sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách cho năm sau, vượt qua mức “trường

kỳ” vốn có. Tuy năm 2009 thâm hụt ngân sách ước đoán (6,5% GDP) sẽ thấp hơn

đáng kể so với mức Quốc hội cho phép (8% GDP), do lượng tiền kích cầu chưa

bơm ra nhiều, song khơng phải vì thế mà đặt vấn đề ngân sách năm 2010 được phép

chi tiêu kích cầu “bù” một cách dễ dàng.

Hơn nữa, thâm hụt ngân sách luôn kéo theo nợ công tăng cao. Tính đến

31/12/2010, nợ cơng tiếp tục tăng cao ở mức 56,6% GDP, trong đó nợ chính phủ ở

mức 44,3% GDP. Điều này đã hạn chế một phần rất lớn khả năng huy động các

nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế đồng thời hạn chế kỳ vọng tăng trưởng khi tính

đến nghĩa vụ trả nợ tương lai.



63



Thứ ba, nhập siêu và thâm hụt cán cân thanh toán.

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng cao hơn kim ngạch nhập khẩu, nhập siêu

vẫn ở mức cao tương đương năm 2009 (12,4 tỷ USD). Điều này cho thấy sự tăng

nóng của tổng cầu, đầu tư, tiêu dùng trong nước trong khi trình độ sản xuất và khả

năng sản xuất hàng thay thế nhập khẩu vẫn chưa có chuyển biến đáng kể. Mặc dù

có sự cải thiện so với năm 2009 (mức thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể đã giảm

3,5 tỷ USD), năm 2010 là năm thứ hai liên tiếp cán cân thanh tốn quốc tế thâm hụt

làm xói mòn dự trữ quốc gia và ảnh hưởng tới các cân đối vĩ mô tổng thể nền kinh

tế như tiết kiệm, đầu tư, thâm hụt ngân sách, rủi ro lạm phát, sự suy giảm của luồng

vốn đầu tư nước ngoài.



Những năm qua, mặc dù có chuyển biến tốt nhưng cán cân thương mại vẫn

thâm hụt nghiêm trọng.

Thứ tư, năng lực cạnh tranh thấp.

Bất ổn và rủi ro vĩ mô tăng lên: lạm phát tăng cao, thâm hụt ngân sách lơn, nợ

công cao, dự trữ ngoại hối suy giảm khiến năng lực cạnh tranh của Việt Nam vẫn ở

mức thấp, sau Singapore (hạng 3), Trung Quốc (hạng 27), Malaysia (hạng 26), Thái

64



Lan (hạng 38), Indonesia (hạng 44). Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu tại

Diễn đàn kinh tế tế giới (WEF) 2010 – 2011, mặc dù đã có sự cải thiện so với năm

2009, Việt Nam được đánh giá thấp hơn so với các nước trong khu vực xét trên 4

tiêu chí: thể chế, hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục tiểu học.

IV.



So sánh với các nước đã thành cơng trong kích cầu, bài học rút ra cho

việc hoạch định chinh sách ở Việt Nam.



Nhìn lại và phân tích các gói kích thích kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc và

Mỹ để thấy rõ hơn ta đã làm gì, nước khác làm khác ta ra sao và mục tiêu dài hạn

của giải pháp này là gì. Liệu Việt Nam đã tính hết những rủi ro từ chính sách chưa

và giải pháp tiếp theo ra sao?

Trong năm 2009, nhiều “gói kích thích kinh tế” (economic stimulus package),

hay như báo chí trong nước gọi là các gói kích cầu, được sử dụng tại nhiều nước

trên thế giới để giúp nền kinh tế khỏi rơi vào suy thoái nặng nề do tác động của

cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu. Mỗi một nước, do đặc thù của mình và do

mức độ ảnh hưởng, đã lựa chọn cách thức và đối tượng để “cứu giúp” khác nhau.

Việt Nam, tất nhiên là khơng ngoại lệ.

1. So sánh:

Đặc điểm của gói kích cầu của khối Anh-Mỹ là ra đời sau một gói cứu trợ

ngành ngân hàng. Do cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu bắt đầu từ khu vực các

nước phát triển, tác động đặc biệt to lớn lên những thị trường tài chính Anh - Mỹ,

nên các nước này phải lựa chọn giải pháp ứng cứu ngành kinh doanh bị tổn thất

nặng nề trước và hy vọng giảm nhẹ tác động lây lan của nó. Sau khi tạm thời bình

thường hóa được hoạt động của khối ngân hàng, các nước này mới đưa ra chương

trình kích thích kinh tế của mình. Đặc điểm của gói kích thích này là nhắm vào kích

thích nhu cầu tiêu dùng nội địa, chú trọng vào giảm các dòng thuế (thuế thu nhập cá

nhân, thuế giá trị gia tăng, hoãn nộp thuế cho doanh nghiệp...). Nhìn chung, các gói

kích thích kinh tế kiểu Mỹ và châu Âu nhắm vào duy trì vào tái tạo việc làm - thị

trường bị tác động nặng nề trong khủng hoảng và làm ảnh hưởng đến tổng cầu xã

hội, cố gắng kích cầu cá nhân. Các khoản hỗ trợ thuế trực tiếp cho doanh nghiệp

chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn trong gói kích thích kinh tế này. Có thể gọi, đây là

trường phái kích cầu tiêu dùng cá nhân trực tiếp (trước gói kích cầu này Mỹ đã từng

đưa ra một chương trình kích cầu là đập xe cũ mua xe mới - clash for clunkers).

Kích cầu kiểu Trung Quốc là một chương trình tái thiết hệ thống cơ sở hạ tầng

khổng lồ. Phần lớn nhất chương trình kích cầu được Ngân hàng Thế giới (WB) ước

65



tính khoảng 586 tỉ đô la Mỹ (khoảng 12% GDP năm 2009 của Trung Quốc) nhắm

vào xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông (trong đó các chương trình xây dựng các

tuyến xe lửa rất gây ấn tượng với các nước phương Tây), xây dựng hạ tầng nông

thôn, tái thiết sau động đất. Phần còn lại của gói kích cầu này nhắm vào cải thiện

công nghệ, xây dựng nhà ở, cải thiện hệ thống y tế, năng lượng và mơi trường. Gói

kích cầu này không đi trực tiếp vào hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng cũng không đi trực

tiếp vào nâng sức cầu nội địa, mà là nhắm vào chi tiêu cho các dự án hạ tầng lớn và

lợi ích sẽ chuyển vào các doanh nghiệp nhanh hơn.

Đặc điểm nổi bật của gói kích cầu của Việt Nam nằm ở hai gói hỗ trợ lãi suất.

Gói kích cầu của Việt Nam cũng có điểm tương đồng với gói kích cầu phương Tây

là hỗ trợ thuế (theo ước tính của WB gói hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp trị giá 9.900

tỉ đồng, cao gấp đôi so với hỗ trợ cho thuế thu nhập cá nhân). Mặc dù không được

chỉ ra rõ ràng, nhiều khoản mục hỗ trợ kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 cũng

nhắm vào một số loại cơ sở hạ tầng, như tạm ứng ngân sách 2010 cho một số dự án,

chuyển nguồn đầu tư từ kế hoạch 2008 sang 2009. Tuy nhiên nổi bật nhất và có tác

động lớn nhất đến kinh tế Việt Nam vẫn là hai gói hỗ trợ lãi suất của Việt Nam,

trong đó câu chuyện 17.000 tỉ đồng hỗ trợ 4% cho lãi suất ngắn hạn (mà theo ước

tính khi ban hành là sẽ tạo ra một lượng tín dụng 600.000 tỉ đồng cho nền kinh tế)

thu hút nhiều tranh luận của các chuyên gia kinh tế của Việt Nam, trong đó có ý

kiến cho rằng đây là kích cung chứ khơng phải kích cầu. Đây là kích cầu qua hỗ trợ

lãi suất hay trợ giá lãi suất (WB dùng từ “interest rate subsidy” để nói về chương

trình này). Đặc điểm đáng chú ý của gói kích cầu này là kết hợp chi tiêu tài khóa (để

trợ giá) với chính sách tiền tệ - vì xem như đã giảm lãi suất thực hiệu lực của các

khoản vay từ doanh nghiệp đi một mức 4% nữa, một chính sách giảm lãi suất trong

khu vực kinh doanh chứ không cho toàn nền kinh tế - đồng thời tiền hỗ trợ lãi suất

lấy từ dự trữ ngoại hối chứ không phải ngân sách.

2. Chính sách kích cầu của Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như sau:

Vấn đề thứ nhất, định hướng chính sách kích cầu là khơng rõ ràng và khơng có

sự phân định giữa các khái niệm kích cầu hay kích cung, kích cầu hay giải cứu,…

Tất cả các gói chính sách đều được gộp vào dưới cái tên “kích cầu” trong khi nó

chưa chắc chắn đã nhằm làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế. Như chính sách hỗ trợ

lãi suất sẽ là kích cầu nếu doanh nghiệp vay vốn đó để đầu tư. Nhưng nếu DN đó

vay vốn để đảo nợ thì sẽ khơng còn gọi là kích cầu được nữa, mặc dù nó vẫn có thể

có tác dụng tích cực nào đó.



66



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tác động của gói kích cầu thứ 2

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×