Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các công cụ để kích cầu đầu tư

Các công cụ để kích cầu đầu tư

Tải bản đầy đủ - 0trang

bắt buộc, hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối. Có nhiều loại cơng cụ chính sách

tiền tệ. Tuy nhiên ta chỉ xét 2 cơng cụ chủ yếu của chính phủ tác động mạnh đến

kích cầu đầu tư

5.1.1. Cơng cụ lãi suất tín dụng

Đây được xem là cơng cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự

thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu

thơng, mà nó có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Cơ chế điều hành lãi suất

được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của ngân

hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng

thời kỳ nhất định. Về mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư, mức lãi suất càng thấp thì

mức đầu tư càng cao và ngược lại. Điều nàu có thể giải thích là đầu tư, nguồn vốn

có thể là được tài trợ bằng vốn tự có hay là đi vay mượn. Bất luận dự án đầu tư đầu

tư được tài trợ bằng phương thức nào, mức lãi suất cũng là một phần chi phí cơ hội

của dự án đó. Tiền trả lãi cho khoan vay là để đầu tư cho sản xuất là chi phí trực

tiếp. Những nguồn vốn tự có của một doanh nghiệp có thể dùng để cho vay một

mức lãi suất nào đó. Tiền lãi mà doanh nghiệp bị mất khi sử dụng nguồn vốn tự có

để tài trợ cho dự án riêng của mình, thay vì dùng để cho vay được gọi là chi phí cơ

hội. Mức lãi suất càng thấp thì chi phí cơ hội của dự án càng thấp, càng có nhiều sự

án đầu tư mang lại lợi nhuận và vì vậy mức đầu tư sẽ gia tăng.

5.1.2. Tăng hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại

Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các NHTM phải chấp

hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khác với loại vay thơng thường ngân hàng

khơng xác định kì hạn nợ cho từng món vay mà chỉ khống chế theo mức tín dụng.

Khi chính phủ tăng hạn mức tín dụng sẽ kích thích các chủ doanh nghiệp vay vốn

để đầu tư phát triển. Trong điều kiện kinh tế suy thoái hoặc khủng hoảng, các doanh

nghiệp gặp phải khó khăn rất lớn nhưng đó cũng là cơ hội để doanh nghiệp khẳng

định mình, gia tăng thị phần, xây dựng thương hiệu...

Như vậy các ưu đãi về lãi suất hoặc các khoản vay tín dụng là các cơ hội cho

các doanh nghiệp sống lại trong khủng hoảng và cùng góp phần giúp nền kinh tế

tăng trưởng trở lại sau suy thoái.

32



5.1.3. Những hiệu quả của chính sách tiền tệ

Bên cạnh những mặt tích cực thì chính phủ cần phải chú ý đến hiệu quả của

chính sách tiền tệ khi áp dụng để kích cầu đầu tư. Trong nhiều trường hợp đầu tư

không tăng mặc dù lãi suất đã giảm đi rất nhiều.

Bẫy thanh khoản:Khi nền kinh tế vào pha suy thoái, ngân hàng trung ương sẽ

nới lỏng chính sách tiền tệ bằng việc giảm lãi suất để kích thích tiêu dùng và kích

cầu đầu tư tư nhân dẫn tới tăng tổng cầu, thoát khỏi suy thoái. Tuy nhiên, việc giảm

liên tục và xuống thấp quá mức, dẫn đến mọi người sẽ giữ tiền mặt chứ khơng gửi

vào ngân hàng hay mua chứng khốn. Hậu quả là đầu tư tư nhân khó có thể thúc

đẩy vì ngân hàng khơng huy động được tiền gửi thì cũng khơng thể cho xí nghiệp

vay và chứng khốn khơng bán được thì xí nghiệp cũng khơng huy động được vốn.

Chính sách tiền tệ trở nên bất lực trong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là bất

lực trong kích cầu đầu tư.

Khi đầu tư khơng thay đổi lãi suất:Chính sách tiền tệ làm thay đổi lãi suất,

qua đó thay đổi đầu tư của xí nghiệp và điều chỉnh tổng cầu. Đây là giả thiết rằng

đầu tư của xí nghiệp có phản ứng trước các thay đổi của lãi suất. Tuy nhiên, trong

một số trường hợp dù lãi suất có giảm thì đầu tư cũng khơng tăng so niềm tin của

các nhà đầu tư vào nền kinh tế lúc này là rất thấp, ví dụ như khi tình hình chính trị

của nước đó khơng ổn định. Nếu đầu tư không phản ứng trước thay đổi của lãi suất,

thì chính sách tiền tệ bị vơ hiệu hóa.

5.2.



Nhóm chính sách tài khóa



Các nguồn vốn hỗ trợ từ kênh chính sách tài khóa có tác dụng bù đắp sự giám

sát nguồn thu so suy thoái của các chủ thể trong nền kinh tế, hạn chế tốc độ sụt

giảm nhu cầu tiêu dùng của cả tư nhân và doanh nghiệp, bằng cách đó cho phép các

chủ thể tồn tại qua các giai đoạn khó khăn và khơi phục năng lực tiêu dùng khi nền

kinh tế qua khỏi giai đoạn suy giảm.

5.2.1. Tăng chi tiêu chính phủ

Nhà nước với nguồn vốn lớn từ thuế và các khoản vay trong và ngoài nước khi

phát hành trái phiếu chính phủ chính là nhà đầu tư và tiêu dùng lớn trong nền kinh



33



tế. Khi kinh tế gặp khó khăn, chính phủ có thể tăng chi tiêu ngân sách để tác động

vào tổng cầu, kích thích việc mua bán hàng hóa, giúp các doanh nghiệp có khả năng

cạnh tranh tốt, đứng vững trong suy đồng thời đào thải những doanh nghiệp làm ăn

kém hiệu quả, mô hình hoạt động lạc hậu. Chính phủ cũng có thể kích cầu đầu tư

thơng qua các cơng trình xây dựng cơ sở hạ tầng đầu tư cho công nghệ, mang lại lợi

ích lớn cho xã hội cũng như trong doanh nghiệp. Ngồi ra những khu vực khó khăn,

đời sống nhân gặp nhiều khó khăn, khu vực nhân dân khơng sẵn sàng đầu tư thì

chính phủ cần có chính sách khuyến kích, hỗ trợ đầu tư, tạo động lực cho các nhà

đầu tư để thúc đẩy khu vực tăng trưởng và phát triển.

5.2.2. Các chính sách thuế

Thuế là một nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận kì vọng, cũng như lợi nhuận thực

tế của doanh nghiệp. Do đó cơng cụ hữu hiệu là miễn và giảm thuế, đặc biệt là thuế

thu nhập doanh nghiệp và các khoản thu từ khu vực sản xuất. Cơng cụ khơng chỉ có

ý nghĩa tích cực trong kích thích khu vực sản xuất mà đồng thời góp phần giảm giá

thành, kích thích người dân tiêu dùng. Việc giảm thuế và các khoản thu từ nhà nước

sẽ kích thích các thành phần kinh tế bình đẳng hơn, tao nên sự cân bằng giữa kinh tế

nhà nước và kinh tế tư nhân. Ngoài ra xu hướng giảm thuế khi nền kinh tế chậm lại

còn là xu hướng chung của thế giới, cũng như tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn

hơn thu hút đầu tư nước ngoài.

5.2.3. Hiệu quả của chính sách tiền tệ

Độ trễ trong chính sách tài khóa

Ở nhiều nước, chính phủ muốn tiến hành đầu tư thường phải thơng qua quốc

hội phê duyệt. Vì thế, khơng phải cứ muốn thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng

thơng qua tăng chi tiêu chính phủ là ln có thể làm được. Giả sử được quốc hội

thơng qua thì cũng đã làm mất thời gian chờ đợt quốc hội xem xét thảo luận. Sau

đó, để triển khai còn phải tiến hành các hoạt động như lập kế hoạch dự án, khảo sát

thiết kế để triển khai đầu tư. Những việc này cũng mất khơng ít thời gian. Chính vì

vậy, có một độ trễ để chính sách tài chính nới lỏng bắt đầu phát huy tác dụng.

6. Kinh nghiệm kích cầu đầu tư trên thế giới



34



6.1.



Biện pháp kích cầu tiêu dùng đối với người dân



Một cách làm tăng cầu là làm tăng tiêu dùng của hộ gia đình. Điều này có thể

thực hiện một cách hiệu quả nhất bằng cách định hướng các gói kích cầu tới những

hộ gia đình có xu hướng tiêu dùng hơn là xu hướng tiết kiệm tiền được trợ cấp.

Nhóm biện pháp mà các nước kích cầu sử dụng chủ yếu dưới dạng trợ cấp cho dân

trực tiếp hoặc miễn giảm thuế cho dân. Tuy nhiên các sáng kiến của các nước này

lại khá đa dạng, bao gồm các biện pháp cụ thể như cấp tiền trợ cấp trực tiếp hoặc

phát phiếu tiêu dùng cho người dân(Nhật), hồn thuế cho người dân, gia đình có thu

nhập thấp, trợ cấp cho các gia đình có trẻ em (Mỹ, Hàn Quốc ), trợ cấp cho người

nghèo, người thất nghiệp (Mỹ, Đài Loan ), cũng như hỗ trợ đối với đối tượng khó

khăn trong hồn cảnh cụ thể của nền kinh tế (hỗ trợ mua nhà gặp khó khăn ở Mỹ,

Australia, Đài Loan, hỗ trợ cho ngư dân, người già ở Hàn Quốc.

6.2.



Biện pháp kích cầu chi đầu tư của Chính phủ



Các hạng mục đầu tư của chính phủ để kích cầu thường là các gói đầu tư vào cơ

sở hạ tầng, cơng trình cơng cộng, giao thông, đường xá, y tế, giáo dục (Mỹ,

Australia, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc), hỗ trợ chính quyền địa phương qua

việc giảm thuế (Mỹ) hoặc cho phép chính quyền địa phương đi vay( Ấn Độ).

6.3. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc

Trung Quốc mở rộng thị trường trong nước là một chiến lược đúng đắn. Các

nhà đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc khơng phải vì sản xuất những mặt hàng xuất

khẩu rẻ mà là sản xuất những mặt hàng mà thị trường Trung Quốc đang cần.

Phương châm mở rộng kích cầu nội địa của Trung Quốc giúp cho phát triển kinh tế

thế giới trở nên cân bằng hơn. Trung Quốc đã sử dụng gói kích cầu để ứng phó với

khủng hoảng kinh tế thế giới theo hướng tạo tiền đề để cải tổ toàn diện nền kinh tế;

đổi mới cơ cấu và công nghệ, tăng năng suất lao động; đầu tư phát triển cơ sở hạ

tầng, y tế, giáo dục. Đảm bảo tăng trưởng trong tương lai, kích cầu tác động trực

tiếp vào những lĩnh vực cần thiết. Gói kích cầu này khơng trực tiếp hỗ trợ doanh

nghiệp, cũng không trực tiếp nâng cao sức cầu nội địa, mà là nhằm chi tiêu cho các

dự án hạ tầng lớn, do đó lợi ích sẽ chuyển vào các doanh nghiệp nhanh hơn. Trung

Quốc lựa chọn đầu tư vào cơ sở hạ tầng làm thế mạnh kích cầu vì quốc gia đông



35



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các công cụ để kích cầu đầu tư

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×