Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguồn vốn cho kích thích đầu tư

Nguồn vốn cho kích thích đầu tư

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nguồn vốn này được huy động bằng cách Chính phủ sẽ phát hành Trái phiếu

ra thị trường trong nước để thu hút một lượng tiền từ nền kinh tế. Vấn đề mấu chốt

trong đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ lần này là lãi suất. Khi NHNN đang điều

chỉnh lãi suất theo xu hướng thấp dần nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vay vốn

thì việc đưa ra một mức quá cao cho lãi suất trái phiếu sẽ đi ngược lại mục tiêu này.

Nhưng nếu lãi suất quá thấp sẽ làm giảm tính hấp dẫn của Trái phiếu khiến việc huy

động vốn gặp khó khăn. Một vấn đề khác Chính phủ cũng cần quan tâm khi phát

hành trái phiếu để vay vốn từ nền kinh tế đó chính là khả năng và nguồn trả nợ

trong tương lai. Nguồn vốn này sẽ được sử dụng vào chi tiêu công. Đây là lĩnh vực

lâu nay vẫn được xem là hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Do vậy Chính phủ cần

lựa chọn dự án đầu tư sao cho có hiệu quả, tránh lãng phí. Có như vậy mới bớt được

gánh nặng thâm hụt cho ngân sách quốc gia.

Thêm vào đó, tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nước hiện nay có rất

nhiều biến động gây tâm lý hoang mang lo sợ cho các nhà đầu tư. Đặc biệt là sau

hàng loạt vụ đổ vỡ của các ngân hàng lớn trên thế giới thì hiện nay yếu tố an tồn

được các NHTM đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, Trái phiếu Chính phủ sẽ là kênh

đầu tư hấp dẫn, các đợt phát hành trái phiếu sẽ đảm bảo được tiến độ đề ra và lượng

tiền cần thiết.

4.2.



Chính sách cắt giảm thuế



Việc cắt, giảm, hoãn, nộp chậm thuế cho các đối tượng sản xuất kinh doanh là

một biện pháp tài khoá khá tích cực nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp. Theo kế hoạch

Nhà nước sẽ tiến hành các chính sách như giảm thuế, miễn thuế và lùi thời hạn nộp

thuế. Đối với VAT thì sẽ hồn trước kiểm sau, đối với thuế nhập khẩu thì giãn thời

agian nộp thuế, ân hạn thuế cho các doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhỏ và

vừa, doanh nghiệp trẻ sẽ có bậc ưu tiên cao hơn, mức giảm sâu hơn. Với biện pháp

này, Nhà nước đã chủ động cắt giảm một khoản thu khá lớn của Ngân sách để thực

hiện mục tiêu của gói kích thích. Các doanh nghiệp được ưu đãi về thuế sẽ bớt đi

một phần chi phí, điều này sẽ khiến lợi nhuận của họ cao hơn, tăng lượng vốn tái

đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, giảm giá thành sản phẩm và tăng sức

cạnh tranh. Đi kèm với việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn



28



ưu đãi thì đây là một đòn bẩy hữu hiệu nhằm kích thích khu vực sản xuất kinh

doanh thốt khỏi tình trạng đình đốn.

Ngân sách Chính phủ của Việt Nam đang thâm hụt lớn, thêm vào đó nguồn thu

trong tương lai sẽ giảm đáng kể do sự thu hẹp của nguồn thu từ hoạt động xuất

khẩu. Do đó, việc áp dụng chính sách cắt giảm thuế cùng với tăng chi tiêu Chính

phủ để kích cầu sẽ tăng thêm gánh nặng thâm hụt cho ngân sách. Tuy nhiên với mục

tiêu hiện nay là ngăn chặn đà suy giảm kinh tế thì Chính phủ khơng nên q lo lắng

về thâm hụt ngân sách bởi chính sách cắt giảm thuế đồng thời tăng chi tiêu công

vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động vừa tạo ra nền tảng hạ tầng tốt hơn

cho nền kinh tế, từ đó thu hút thêm vốn đầu tư nước ngồi. Để tăng thu cho ngân

sách, Chính phủ có thể tăng thu tại khu vực thuế tài nguyên như xăng dầu…

4.3.



Quỹ dự trữ ngoại hối



Nguồn vốn lấy ra từ quỹ dự trữ ngoại hối có ưu điểm là có thể chủ động huy

động được lượng tiền lớn trong khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên việc sử dụng

nguồn vốn này có nhiều vấn đề cần xem xét.

Quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước được tạo ra nhằm các mục tiêu là:

 Thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá

 Duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối đề phòng khủng hoảng tài

chính;

 Tạo ra một khoản tài sản dự trữ của Nhà nước nhằm duy trì lòng tin về khả

năng đảm bảo thanh tốn các nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, can thiệp

để ổn định tỷ giá, đảm bảo ổn định về kinh tế vĩ mô

 Dự trữ cho trường hợp khẩn cấp và thảm hoạ mang tính quốc gia.

Để đáp ứng cho những mục tiêu này, quỹ dự trữ ngoại hối phải đảm bảo duy

trì được một lượng ngoại tệ tối thiểu cần thiết theo thông lệ quốc tế là 12 tuần nhập

khẩu. Tuy dự trữ nước ta đã đáp ứng được u cầu này nhưng quy mơ còn nhỏ.

Trong khi đó, cùng với mức tăng trưởng GDP, nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu

cũng tăng theo. Do chủ trương tự do hoá về vốn, lượng vốn ra vào nước ta sẽ ngày



29



càng nhiều nên phải chủ động để đón nhận những nguồn vốn lớn di chuyển trong thị

trường. Quy mô dự trữ quốc gia sẽ phải tương xứng với nhu cầu phát triển của nền

kinh tế để kịp thời can thiệp. Khi sử dụng Chính phủ nên cân nhắc đến các nguồn

ngoại tệ có thể bổ sung cho quỹ trong tương lai. Trong thời gian tới đây, do suy

thoái kinh tế toàn cầu, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bị thu hẹp hơn

trước nên nguồn ngoại tệ bổ sung cho quỹ dự trữ sẽ khó khăn. Do vậy, mỗi một

quyết định sử dụng nguồn từ quỹ này nên được xem xét kỹ lưỡng nhằm đảm bảo

việc thực hiện các mục tiêu nêu trên.

4.4.



In tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách



Có hai trường hợp xảy ra:

Một là Chính phủ có thể trực tiếp thơng qua Ngân hàng Nhà nước in tiền để tài

trợ cho chi tiêu. Biện pháp tài trợ này ngay lập tức sẽ dẫn đến tăng trưởng cơ sở tiền

tệ và cung tiền tệ.

Hai là Chính phủ ban đầu có thể vay tiền của công chúng và hệ thống ngân hàng

thương mại thông qua phát hành trái phiếu. Nhưng nếu sau đó Ngân hàng Nhà nước

can thiệp mua lại các khoản nợ này của chính phủ thơng qua nghiệp vụ thị trường

mở, hoặc nhằm đáp ứng sức ép thanh khoản gia tăng của hệ thống ngân hàng

thương mại, thì một lượng tiền tương tự như khi in tiền trực tiếp cũng sẽ được bơm

vào nền kinh tế.

Trong cả hai trường hợp, cơ sở tiền tệ và cung tiền sẽ tăng, gây ra lanh phát và

bất ổn kinh tế vĩ mô trong tương lai. Việc tài trợ cho chi tiêu qua gói kích cầu thơng

qua Ngân hàng Nhà nước còn có thể làm trầm trọng hơn những rủi ro kinh tế khi

Ngân hàng Nhà nước theo đuổi chế độ tỷ giá gắn chặt với đồng USD như hiện nay.

Như đã nói ở trên, kích thích đầu tư và tiêu dùng thường kéo theo sự gia tăng mạnh

của nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng. Vì vậy, việc tài

trợ cho gói giải pháp kích cầu thơng qua Ngân hàng Nhà nước, một mặt làm tăng

cung nội tệ, mặt khác làm tăng cầu ngoại tệ do nhu cầu nhập khẩu tăng.

Khi đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ buộc phải can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng

cách bán ra ngoại tệ nhằm duy trì tỷ giá, gây sức ép về tính thanh khoản đối với hệ

thống ngân hàng thương mại, phá giá đồng nội tệ, và cuối cùng là lạm phát.

30



4.5.



Tài trợ thơng qua vạy nợ nước ngồi



Tác động của việc tài trợ cho gói kích cầu thơng qua biện pháp vay nợ nước

ngồi, nếu có, sẽ phụ thuộc nhiều vào chủ trương theo đuổi chế độ tỷ giá của Ngân

hàng Nhà nước trong thời gian tới. Nếu Ngân hàng Nhà nước theo đuổi chính sách

ổn định tỷ giá quanh mức cơng bố như hiện nay, điều này có nghĩa Ngân hàng Nhà

nước sẽ phải can thiệp mua vào lượng dư cung ngoại tệ do Chính phủ đã bơm vào

nền kinh tế sau khi vay nước ngoài. Cơ sở tiền tệ và cung tiền cuối cùng sẽ tăng và

gây ra lạm phát

Tuy nhiên, nếu Ngân hàng Nhà nước chủ động thả lỏng mức kiểm sốt tỷ giá

thì hậu quả của việc làm này sẽ là sự lên giá của đồng nội tệ và tác động xấu đến

khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới của hàng xuất khẩu Việt Nam.

4.6.



Thông qua việc trì hỗn trả nợ



Đây là một trong những biện pháp quan trọng và thường xuyên được thực hiện

ở các nền kinh tế chuyển đổi. Việc tích lũy thêm nợ làm trì hỗn những tác động

xấu có thể có của các biện pháp tài trợ gói kích cầu. Tuy nhiên, nó sẽ tác động đến

kỳ vọng của khu vực tư nhân về sự phát triển trong tương lai của nền kinh tế. Các

cá nhân và tổ chức kinh tế sẽ dự đoán về sự gia tăng của thuế và lạm phát, và làm

xấu đi tình hình tài chính.

5. Các cơng cụ để kích cầu đầu tư

Để thực hiện kích cầu đầu tư có hiệu quả, trong tay chính phủ có hai cơng cụ

quan trọng là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Ngồi ra còn có một số

chính sách khác hỗ trợ cho hai chính sách khác hỗ trợ cho hai chính sách trên, thúc

đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế.

5.1.



Nhóm chính sách tiền tệ



Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân

hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt: như kiềm chế lạm phát, duy

trì ổn định tỉ giá hối đối, đạt được tồn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế.

Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể

trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở, qui định mức dự trữ

31



bắt buộc, hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối. Có nhiều loại cơng cụ chính sách

tiền tệ. Tuy nhiên ta chỉ xét 2 công cụ chủ yếu của chính phủ tác động mạnh đến

kích cầu đầu tư

5.1.1. Cơng cụ lãi suất tín dụng

Đây được xem là cơng cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự

thay đổi lãi suất khơng trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu

thông, mà nó có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Cơ chế điều hành lãi suất

được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của ngân

hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng

thời kỳ nhất định. Về mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư, mức lãi suất càng thấp thì

mức đầu tư càng cao và ngược lại. Điều nàu có thể giải thích là đầu tư, nguồn vốn

có thể là được tài trợ bằng vốn tự có hay là đi vay mượn. Bất luận dự án đầu tư đầu

tư được tài trợ bằng phương thức nào, mức lãi suất cũng là một phần chi phí cơ hội

của dự án đó. Tiền trả lãi cho khoan vay là để đầu tư cho sản xuất là chi phí trực

tiếp. Những nguồn vốn tự có của một doanh nghiệp có thể dùng để cho vay một

mức lãi suất nào đó. Tiền lãi mà doanh nghiệp bị mất khi sử dụng nguồn vốn tự có

để tài trợ cho dự án riêng của mình, thay vì dùng để cho vay được gọi là chi phí cơ

hội. Mức lãi suất càng thấp thì chi phí cơ hội của dự án càng thấp, càng có nhiều sự

án đầu tư mang lại lợi nhuận và vì vậy mức đầu tư sẽ gia tăng.

5.1.2. Tăng hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại

Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các NHTM phải chấp

hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khác với loại vay thơng thường ngân hàng

khơng xác định kì hạn nợ cho từng món vay mà chỉ khống chế theo mức tín dụng.

Khi chính phủ tăng hạn mức tín dụng sẽ kích thích các chủ doanh nghiệp vay vốn

để đầu tư phát triển. Trong điều kiện kinh tế suy thối hoặc khủng hoảng, các doanh

nghiệp gặp phải khó khăn rất lớn nhưng đó cũng là cơ hội để doanh nghiệp khẳng

định mình, gia tăng thị phần, xây dựng thương hiệu...

Như vậy các ưu đãi về lãi suất hoặc các khoản vay tín dụng là các cơ hội cho

các doanh nghiệp sống lại trong khủng hoảng và cùng góp phần giúp nền kinh tế

tăng trưởng trở lại sau suy thoái.

32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguồn vốn cho kích thích đầu tư

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×