Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung của kích cầu đầu tư

Nội dung của kích cầu đầu tư

Tải bản đầy đủ - 0trang

chính sách hỗ trợ người tiêu dùng. Mục đích của kích cầu tiêu dùng là kích thích

tiêu dùng trong nước thơng qua đó tạo thêm thị trường cho các doanh nghiệp mở

rộng sản xuất giúp nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng trong tình hình nền kinh tế gặp

khó khăn như thời kì hậu khủng hoảng. Còn xét về kích cầu đầu tư thì đây là các

chính sách trực tiếp tác động tới hoạt động đầu tư của nền kinh tế nhằm khuyến

khích hoạt động đầu tư sản xuất của doanh nghiệp thơng qua chính sách lãi suất hay

chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp.

Khác với kích cầu tiêu dùng, kích cầu đầu tư có tác động tích cực cả

trong ngắn hạn và trong dài hạn vì đầu tư khơng chỉ là cấu phần của tổng cầu mà

còn là yếu tố cấu thành trữ lượng vốn của tổng cung. Trong ngắn hạn, khi đầu tư

tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm và nhu cầu hàng hóa sản xuất trực tiếp cho

ngành được đầu tư và tiếp đến là các ngành liên quan và cuối cùng tạo tác động lan

tỏa tăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Về dài

hạn, đầu tư làm tăng nguồn vốn, làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế và

do vậy tổng cung tăng sẽ tạo động lưc bền vững cho tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên

hai chính sách kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng lại có quan hệ bổ trợ lẫn nhau,

bổ xung cho nhau nhằm phát huy tốt hơn hiệu quả của cả hai chính sách, tất cả đều

hướng tới mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế.

3.2.



Tác động của kích cầu đầu tư



Khi chúng ta thi hành bất kì một chính sách nào tác động vào nền kinh tế

thì các chính sách đó bao giờ cũng có tính hai mặt, có thể là tích cực đối với yếu

tố này nhưng lại là tiêu cực với yếu tố kia, và đơi khi bản thân các yếu tố cũng

có tác động qua lại lẫn nhau. Bên cạnh việc có thể đạt được các mục đích như

mong muốn thì còn tồn tại những tiêu cực khơng mong muốn. Đối với chính

sách kích cầu đầu tư thường được sử dụng khi nền kinh tế lâm vào khó khăn như

khủng hoảng kinh tế cũng khơng nằm ngồi qui luật đó. Khi chính phủ thực hiện

các chính sách kích cầu đầu tư sẽ tác động cả mặt tích cực và tiêu cực tới nền

kinh tế. Mục tiêu cuối cùng của kích cầu đầu tư là tăng trưởng kinh tế nhưng phải

đảm bảo cả về mặt văn hóa, xã hội.

3.2.1. Tác động tích cực

22



3.2.1.1.



Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế



- Tác động đến tổng cầu: Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu

tư. Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh

tế. Trong những năm gần đây đầu tư của Việt Nam thường chiếm khoảng 35% GDP.

Đối với tổng cầu tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn tác động của đầu tư

thể hiện rõ trong ngắn hạn. Xét theo mơ hình kinh tế vĩ mô, đầu

tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu. Khi tổng cung chưa kịp thay

đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác khơng

đổi). Ta có cơng thức sau :

AD=C+I+G+X-M

Trong đó:

C: Tiêu dùng

I: Đầu tư

G: Tiêu dùng của chính phủ

X: Xuất khẩu

M: Nhập khẩu

- Tác động đến cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là

cung trong nước và cung từ nước ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là

một hàm của các yêu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…thể hiện

qua phương trình sau:

Q=F (K, L, T, R)

Trong đó:

K : Vốn đầu tư

L : Lao động

T : Công nghệ

R : Tài nguyên



23



Như vậy kích cầu đầu tư làm tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực

tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi. Mặt

khác tác động của vốn đầu tư còn được thể hiện thơng qua việc nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực đổi mới cơng nghệ…Do đó đầu tư lại gián tiếp làm tăng tổng

cung của nền kinh tế.

Mối quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mối quan hệ

biện chứng nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đây là cơ

sở lý luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nhiều nước trong

thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm.

3.2.1.2.



Đầu tư tác động đến khoa học và công nghệ



Đầu tư là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát

triển khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia. Công nghệ gồm các

yếu tố đó là: phần cứng (máy móc thiết bị), phần mềm, các yếu tố con người. Muốn

có cơng nghệ cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành.

Trong mỗi thời kỳ, các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công

nghệ. Trong giai đoạn đầu, các nước đang phát triển do có nhiều lao động và

nguyên liệu, thường đầu tư các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên

liệu, sau đó giảm dần hàm lượng lao động, nguyên liệu trong sản xuất sản phẩm và

tăng dần hàm lượng vốn thiết bị và tri thức thông qua đầu tư công nghệ hiện đại hơn

và đầu tư đúng mức để phát triển nhân lực. Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu

tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối. Tuy

nhiên, quá trình chuyển từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là chuyển

từ đầu tư ít sang đầu tư lớn, thay đổi cơ cấu đầu tư. Khơng có vốn đầu tư đủ lớn sẽ

khơng đảm bảo thành cơng của q trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa học

công nghệ.

3.2.1.3.



Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế



Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đầu tư góp

phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và phát triển kinh tế xã hội

của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc



24



dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi

trọng yếu tố ngoại lực.

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nếu có chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo

đà cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng phân bổ vốn cho các

ngành khác nhau sẽ mang lại những kết quả và hiệu quả khác nhau. Vốn đầu tư

cũng như tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành và các vùng kinh tế có ảnh hưởng trực

tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và cũng đồng

thời ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế. Không những thế,

giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh tế có mối quan

hệ khăng khít với nhau. Việc đầu tư vốn nhằm mục đích mang lại hiệu quả kinh tế

cao, tăng trưởng nhanh trên phạm vi tồn bộ nền kinh tế cũng sẽ dẫn đến hình thành

cơ cấu đầu tư hợp lý. Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với việc chuyển

dịch cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào, định hướng đầu tư vào

các ngành hiệu quả hơn.

3.2.1.4.



Đầu tư tác động đến tiến bộ xã hội và môi trường



Đầu tư là nhân tố tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời là

một nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ. Đầu tư hợp lý, trọng

tâm trọng điểm sẽ nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống vật chất,

tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tếm giáo dục. Hoạt động đầu tư cũng

trực tiếp cung cấp tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần làm giảm tỷ lệ thất

nghiệp.

Đầu tư là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời, đầu tư

cũng tác động tới mối trường. Thông qua các mục tiêu, kế hoạch đạt ra trong công

tác huy động vốn và nguồn lực vào các nguồn kinh tế, các ngành, thông qua hoạt

động sử dụng vốn, đầu tư đã khắc phục và giảm bớt sự ô nhiễm, cân bằng lại môi

trường sinh thái

3.2.1.5.



Đầu tư tác động đến tăng trưởng kinh tế



Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng

trưởng. Đầu tư với tăng trưởng có mối liên hệ nhân quả, tác động qua lại với nhau.



25



Kích cầu đầu tư làm tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những

nhấn rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất lao động

tổng hợp. Tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp

hóa- hiện đại hóa…do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.

Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng

kinh tế thể hiện ở công thức hệ số ICOR

ICOR=



Vốn đầu tư tăng thêm

GDP tăng thêm



Hệ số ICOR là tỷ số giữa qui mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản

lượng,hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng (GDP) tăng thêm

Ta thấy tầm quan trọng của kích cầu đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát

triển kinh tế.

3.2.2. Tác động tiêu cực

3.2.2.1.



Thâm hụt ngân sách và gia tăng gánh nặng nợ



Trong kích cầu nói chung hay kích cầu đầu tư nói riêng chính sách tài khóa

mở rộng được áp dụng thơng qua biện pháp cụ thể là giảm thuế và tăng chi tiêu

ngân sách nhà nước. Việc kích cầu đầu tư đòi hỏi phải chấp nhận một mức thâm hụt

ngân sách. Để bù đắp thâm hụt trong thời gian đó. Hai nguồn chính để bù đắp cho

thâm hụt ngân sách là bằng nguồn vay nợ trong nước hoặc nước ngoài. Khi các dự

án vay đầu tư được lập ra có chất lượng thấp hoặc triển khai kém, giải ngân khơng

đúng mục đích vay, sẽ làm thất thốt, lãng phí các nguồn vốn vay, gia tăng gánh

nặng nợ nần và các hiện tượng “đầu cơ nóng” với những hệ quả đắt đỏ đi kèm cho

cả Chính phủ, doanh nghiệp, ngân hàng và xã hội nói chung. Trong dài hạn, bội chi

ngân sách sẽ tạo áp lực tăng lãi suất và sẽ dẫn tới thoái lui đầu tư làm giảm hiệu quả

của chính sách kích cầu đầu tư.

3.2.2.2.



Gây ra lạm phát cao



Nguyên nhân chính là do thâm hụt ngân sách quá lớn, thu không đủ chi cộng

với áp lực trả nợ công. Khi sự thâm hụt trầm trọng và kéo dài thì chính phủ phải áp



26



dụng biện pháp in tiền.Việc phát hành tiền sẽ ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ làm tăng

mức cung ứng tiền ,đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng thêm tỷ lệ lạm phát .Tuy

nhiên,đối với các nước đang phát triển ,việc phát hành trái phiếu chính phủ gặp

nhiều khó khăn vì nguồn vốn trên thị trường còn hạn chế .Biện pháp in tiền được

coi là có hiệu quả nhất .Vì thế mà khi thâm hụt ngân sách càng nhiều và càng kéo

dài thì tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ gây lạm phát càng lớn. Còn đối với những quốc

gia có nền kinh tế phát triển thì việc phát hành trái phiếu có lợi hơn. Nhưng việc

phát hành này kéo dài sẽ làm cầu về vốn sẽ tăng và lãi xuất tăng cao hơn. Lúc này

để giảm lãi xuất trên thị trưòng Ngân hàng Trung ương lại phải mua vào các trái

phiếu đó. Như thế mức cung tiền lại tăng lên và dễ gây lạm phát. Để bù đáp cho

việc thâm hụt ngân sách nhà nước như vậy, nguy cơ lạm phát cao sẽ xảy ra sau khi

kích cầu. Chính sách tiền tệ và tín dụng nới lỏng nhằm phục vụ chính sách kích

thích kinh tế, hỗ trợ kích cầu đã đẩy nhanh tốc độ gia tăng của các phương tiện

thanh toán, tốc độ đưa tiền ra lưu thông tiếp tục được đẩy mạnh. Tuy nhiên, việc

tăng nhanh và quá mạnh tín dụng cũng là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ lạm phát. Hơn

nữa, việc đổ một lượng tiền đầu tư lớn ra nền kinh tế, nếu như được sử dụng kém

hiệu quả sẽ không hấp dẫn được lượng tiền nền kinh và lạm phát tiền tệ sẽ xảy ra.

3.2.2.3.



Tác động đến môi trường



Môi trường vừa là đầu vào, vừa là đầu ra của hoạt động đầu tư phát triển. Nếu

ta kích cầu đầu tư mà khơng có sự kiểm sốt sẽ gây ơ nhiễm mơi trường là hậu quả

của hoạt động đầu tư. Phát triển kinh tế cũng đồng thời lấy đi tài nguyên thiên nhiên

hữu hạn. Nếu khơng có biện phát cân đối, tiết kiệm thì hậu quả mất cân bằng sinh

thái, các hiểm họa về môi trường xảy ra. Hoạt động đầu tư trên cơ sở sẵn có, khơng

thể tái tạo đang ngày càng cạn kiệt, nếu khơng có biện pháp tiết kiệm, sử dụng hợp

lý dẫn đến mất cân bằng sinh thái, không kịp tái tạo. Hoạt động đầu tư mà thải chất

độc hại ra môi trường chạy theo lợi nhuận, cùng với sự kiểm soát chưa chặt chẽ

trong việc xử lý chất thải đã khiến môi trường tự nhiên ngày càng ô nhiễm nặng nề.

4. Nguồn vốn cho kích thích đầu tư

4.1. Nguồn trái phiếu chính phủ



27



Nguồn vốn này được huy động bằng cách Chính phủ sẽ phát hành Trái phiếu

ra thị trường trong nước để thu hút một lượng tiền từ nền kinh tế. Vấn đề mấu chốt

trong đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ lần này là lãi suất. Khi NHNN đang điều

chỉnh lãi suất theo xu hướng thấp dần nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vay vốn

thì việc đưa ra một mức quá cao cho lãi suất trái phiếu sẽ đi ngược lại mục tiêu này.

Nhưng nếu lãi suất quá thấp sẽ làm giảm tính hấp dẫn của Trái phiếu khiến việc huy

động vốn gặp khó khăn. Một vấn đề khác Chính phủ cũng cần quan tâm khi phát

hành trái phiếu để vay vốn từ nền kinh tế đó chính là khả năng và nguồn trả nợ

trong tương lai. Nguồn vốn này sẽ được sử dụng vào chi tiêu công. Đây là lĩnh vực

lâu nay vẫn được xem là hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Do vậy Chính phủ cần

lựa chọn dự án đầu tư sao cho có hiệu quả, tránh lãng phí. Có như vậy mới bớt được

gánh nặng thâm hụt cho ngân sách quốc gia.

Thêm vào đó, tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nước hiện nay có rất

nhiều biến động gây tâm lý hoang mang lo sợ cho các nhà đầu tư. Đặc biệt là sau

hàng loạt vụ đổ vỡ của các ngân hàng lớn trên thế giới thì hiện nay yếu tố an tồn

được các NHTM đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, Trái phiếu Chính phủ sẽ là kênh

đầu tư hấp dẫn, các đợt phát hành trái phiếu sẽ đảm bảo được tiến độ đề ra và lượng

tiền cần thiết.

4.2.



Chính sách cắt giảm thuế



Việc cắt, giảm, hoãn, nộp chậm thuế cho các đối tượng sản xuất kinh doanh là

một biện pháp tài khố khá tích cực nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp. Theo kế hoạch

Nhà nước sẽ tiến hành các chính sách như giảm thuế, miễn thuế và lùi thời hạn nộp

thuế. Đối với VAT thì sẽ hồn trước kiểm sau, đối với thuế nhập khẩu thì giãn thời

agian nộp thuế, ân hạn thuế cho các doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhỏ và

vừa, doanh nghiệp trẻ sẽ có bậc ưu tiên cao hơn, mức giảm sâu hơn. Với biện pháp

này, Nhà nước đã chủ động cắt giảm một khoản thu khá lớn của Ngân sách để thực

hiện mục tiêu của gói kích thích. Các doanh nghiệp được ưu đãi về thuế sẽ bớt đi

một phần chi phí, điều này sẽ khiến lợi nhuận của họ cao hơn, tăng lượng vốn tái

đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, giảm giá thành sản phẩm và tăng sức

cạnh tranh. Đi kèm với việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn



28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung của kích cầu đầu tư

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×