Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Đầu tư và cầu đầu tư.

I. Đầu tư và cầu đầu tư.

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Đầu tư thay thế

 Đầu tư mở rộng

 Đầu tư chiều sâu

- Theo mối quan hệ quản lý của chủ đầu tư:

 Đầu tư trực tiếp

 Đầu tư gián tiếp

- Theo mục đích và tính chất của hoạt động đầu tư:

 Đầu tư tài chính

 Đầu tư thương mại

 Đầu tư phát triển

2. Cầu đầu tư.

2.1.



Khái niệm cầu đầu tư.



Cầu đầu tư là tất cả nhu cầu của của chính phủ và doanh nghiệp về nhà xưởng,

hàng hóa vật tư, máy móc thiết bị, dịch vụ,… và nguồn tài chính để duy trì hay mở

rộng sản xuất cả doanh nghiệp trong khoảng thời gian nhất định.

2.2.



Các nhân tố tác động đến cầu đầu tư.



2.2.1. Lợi nhuận kỳ vọng.

a. Lý thuyết Keynes :

Lợi nhuận kỳ vọng là khoảng mà chủ đầu tư mong muốn, hy vọng sẽ thu được

trong tương lai khi đưa ra quyết định đầu tư theo.

Theo lý thuyết Keynes, lợi nhuận kỳ vọng là một trong hai nhân tố cơ bản ảnh

hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Nếu lợi nhuận kỳ vọng lớn, nhà đầu

tư sẵn sàng bỏ vốn để kinh doanh. Lợi nhuận cao sẽ kích thích nhu cầu đầu tư.

Có hai chỉ tiêu định lượng để xác định lợi nhuận của dự án đó là tỷ suất lợi

nhuận vốn đầu tư (RR) và hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR).

- Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận thuần thu

được từng năm trên một đơn vị vốn đầu tư.

Nếu tính cho từng năm hoạt động thì:



7



RRi = Wi/Iv0

Trong đó:

RRi: tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư vào năm i

Wi: lợi nhuận thuần thu được năm thứ i

Iv0: vốn đầu tư tại thời điểm vốn bắt đầu đi vào hoạt động

Tỷ suất lợi nhuận có tác động cùng chiều với quy mô vốn đầu tư. Nếu tỷ suất

lợi nhuận mà lớn hơn lãi suất tiền vay thì chi đầu tư tăng và ngược lại nếu tỷ suất lợi

nhuận thấp hơn lãi suất tiền vay hì nhà đầu tư sẽ không bỏ tiền vào đầu tư hay mở

rộng sản xuất.

Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư cho biết nhà đầu tư nên đầu tư vào đâu, đầu tư

vào lĩnh vực nào và có nên tăng vốn đầu tư hay khơng.

- Hệ số hồn vốn nội bộ(IRR) là mức lãi mà dự án có thể đạt được đảm bảo

cho tổng các khoản thu của dự án cân bằng với các khoản chi ở thời gian mặt bằng

hiện tại. Để tính IRR có nhiều phương pháp tính nhưng tính IRR theo phương pháp

nội suy thường được sử dụng vì việc tính tốn khơng phức tạp, độ chính xác hợp lý

hơn các phương pháp khác.

Công thức:

IRR = r1 + (NPV1*(r2 – r1))/(NPV1-(NPV2))

Trong đó:

IRR: hệ số hồn vốn nội bộ

r1: tỷ suất chiết khấu thấp hơn tại đó NPV1>0 gần sát 0 nhất

r2: tỷ suất chiết khấu cao hơn tại đó NPV2<0 gần sát 0 nhất

NPV: giá trị hiện tại thực

IRR cần tìm (ứng với NPV = 0) nằm giữa r1 và r2

Theo lý thuyết Keynes, hiệu quả biên của vốn giảm dần và hiệu quả biên của

vốn phụ thuộc vào số tiền đầu tư mới bỏ ra có tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp. Nếu

vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biên của vốn càng giảm. Sự giảm sút này do hai

nguyên nhân:

Thứ nhất, khi đầu tư tăng lên thì khối lượng hàn hóa cung cấp cho thị

trường tăng lên, do đó giá cả hàng hóa giảm xuống, nên kéo theo sự giảm sút lợi

nhuận.

8



Thứ hai, Cung hàng hóa tăng sẽ làm tăng chi phí tư bản thay thế như tài

nguyên tăng lên, tăng lao động, tăng nguồn vốn đuầ tư do đó dẫn đến giá cả yếu tố

này tăng. Trong khi giá cả của sản phẩm có xu hướng giữ ngun hay giảm xuống

thì chi phí đầu vào tăng làm lợi nhuận giảm sút.

Theo Keynes tỷ suất lợi nhuận là đại lượng khó xác định. Tuy nhiên, chính

điều đó lại thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư. Lợi nhuận thu được có thể cao,

có thể thấp, thậm chí có thể âm nên kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn với kỳ vọng

thu được lợi nhuận cao. Bên cạnh đó họ cũng phải đối mặt với những rủi ro có thể

xảy ra. Đó là tính hai mặt của đầu tư, chấp nhận rủi ro để thu được lợi nhuận kỳ

vọng.

b. Một số yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng:

- Cung – cầu hàng hóa:

Việc nghiên cứu cung cầu hàng hóa cho sản phẩm của dự án có vai trò rất lớn

ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư.

Nghiên cứu cầu hang hóa để đảm bảo sản phẩm bán ra có thể tiêu thụ được. Cầu

hàng hóa là lượng hàng hóa mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng mua tại

các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian xác định. Nếu cầu tiêu dùng trên thị

trường tăng thì giá hàng hóa tăng làm cho lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp tăng

và ngược lại.

Cung hàng hóa là lượng hàng mà người sản xuất muốn bán và có khả năng bán

tại những mức giá khác nhau trong khoảng thời gian xác định . Khi cung hàng háo

trên thị trường tăng thì giá hàng hóa giảm xuống làm cho lợi nhuận của doanh

nghiệp giảm xuống, nếu cung hàng hóa trên thị trường thấp dẫn đến giá hàng hóa

tăng làm cho lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp tăng lên.

-Mức độ rủi ro:

Một trong những đặc điểm của đầu tư phát triển là lượng vốn lớn, thời kỳ đầu tư

kéo dài đồng nghĩa với rủi ro cao. Rủi ro là một đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu

tư. Phạm vi ảnh hưởng của rủi ro rất rộng chẳng hạn như những thay đổi không

lường trước của giá cả, công nghệ. Một hoạt động có mức độ rủi ro thấp thường có

lợi nhuận kỳ vọng cao hơn hoạt động đầu tư có mức độ rủi cao. Để giảm thiểu

những tác động của rủi ro thì cần có các biện pháp quản lý rủi ro như nhận diện

chính xác rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và xây dựng biện pháp phòng chống rủi ro.

-Các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất:

9



Với mỗi dự án, khi nhà đầu tư quyết định bỏ vốn đầu tư thì họ phải xác định các

yếu tố đảm bảo cho quá trình thực hiện đầu tư cũng như vận hành kết quả dự án đầu

tư. Việc sử dụng các yếu tố đầu vào nào, số lượng bao nhiêu và chất lượng ra sao

ảnh hưởng rất nhiều đến số lượng và chất lượng sản phẩm đầu ra và ảnh hưởng đến

lợi nhuận của doanh nghiệp. Cụ thể:

 Các điều kiện về nguồn nhân lực: bao gồm cả về chất lượng và số lượng lao

động. Khi xem xét nguồn nhân lực ta phải chú ý đến khả năng dự báo tốc độ

tăng dân số, về tiền lương, về trình độ học vấn và văn hóa của họ...

 Nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển: đó chính là khả năng huy động

vốn trên thị trường tài chính và tỷ lệ phân bổ vốn cho hoạt động đầu ư.

 Về nguồn nguyên nhiên liệu đầu vào: phụ thuộc vào các chính sách bảo vệ tài

nguyên thiên nhiên, tốc độ đền bù giải phóng mặt bằng, các mối liên hệ giữa

các ngành kinh tế...

 Về trình độ cơng nghệ: phụ thuộc vào các quy trình về chuyển giao cơng

nghệ, khả năng nghiên cứu và tiếp thu của đội ngũ khoa học trong nước.

 Về cơ sở hạ tầng: phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước nên phụ thuộc

vào quy hoạch vùng và nguồn ngân sách.

-Thuế:

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vừa là công cụ tái phân phối

của cải xã hội, vừa là công cụ điều tiết phân bố vốn giữa các ngành, vùng miền.

Thuế tác động đến cung cầu trên thị trường. Thuế thu nhập cá nhân làm giảm thu

nhập của người dân làm giảm cầu tiêu dùng, thuế còn tác động đến giá các yếu tố

đầu vào làm tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến cung hàng hóa. Mà cung cầu

hàng hóa lại ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Mặt

khác, thuế thu nhập doanh nghiệp còn trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh

nghiệp. Vì vậy, cần xây dựng một chính sách thuế phù hợp.

2.2.2. Lợi nhuận thực tế.

Theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư, đầu tư có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận

thực tế :

I = f(lợi nhuận thực tế)

Do đó, dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn. Vì lợi

nhuận cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư lớn và mức đầu tư sẽ cao hơn. Nguồn vốn có

10



thể huy động cho đầu tư bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, phát hành

trái phiếu và bán cổ phiếu. Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn

vốn nội bộ của doanh nghiệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là

nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế

lâm vào tình trạng suy thối, doanh nghiệp có thể khơng trả được nợ và lâm vào

tình trạng phá sản. Do đó, việc đi vsy không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay

ưu đãi. Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không

phải là biện pháp hấp dẫn. Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các

doanh nghiệp thực hiện khi hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự

án đem lại trong tương lai sẽ lớn các chi phí đã bỏ ra.

Chính vì vậy, theo lý thuyết này các doanh nghiệp thường chọn biện pháp tài

trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự gia tăng của lợi nhuận sẽ làm

cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.

2.2.3. Lãi suất tiền vay.

Vốn là yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư thì lãi suất ảnh hưởng lớn đến

các chi tiêu tài chính của dự án, các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất

để phản ánh giá của khoản tiền vay mượn đó. Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao

hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm quy mô vốn và ngược lại.

Lãi suất danh nghĩa phụ thuộc vào cung - cầu vốn vay trên thị trường, lãi suất

được điều chỉnh để tạo ra sự điều tiết của ngân hàng nhà nước thơng qua chính sách

tiền tệ như lãi suất cơ bản, lãi suất chiếc khấu, tỉ lệ dữ trữ bắt buộc.

Lãi suất thực tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa mà còn phụ thuộc

vào tỷ lệ lạm phát.

 Nếu tỷ lệ lạm phát pi >= 10%:

r = (1+i/1+pi)-1

 Nếu tỷ lệ lạm phát pi <= 10%:

r = i-pi

Trong đó: r: lãi suất thực tế

i: là lãi suất danh nghĩa

pi: là tỷ lệ lạm phát

Sự phân biệt giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có ý nghĩa rất quan

trọng. Đối với người có tiền, nhờ đốn biết được lãi suất thực mà họ quyết định nên

11



gửi tiền vào ngân hàng hay dùng số tiền đó trực tiếp kinh doanh. Đối với người cần

vốn, nếu dự đốn được tương lai có lạm phát và trong suốt thời gian đó lãi suất cho

vay khơng đổi hoặc có tăng nhưng tốc độ tăng khơng bằng lạm phát tăng thì họ có

thể n tâm vay để kinh doanh mà khơng sợ lỗ vì trượt giá khi trả nợ.

Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) của dự án lớn

hơn lãi suất thực tế. Do đó, khi lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu tư hơn: nhu cầu đầu

tư sẽ giảm.

2.2.4. Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia.

Nhu cầu về sản lượng sản phẩm hay việc thay đổi sản lượng là nhân tố ảnh

hưởng đến việc tăng hay giảm quy mô vốn đầu tư.

Tốc độ tăng sản lượng và tốc độ vốn đầu tư không giống nhau, được đề cập

trong lý thuyết gia tốc vốn đầu tư. Theo lý thuyết gia tốc vốn đầu tư, để sản xuất

một đơn vị đầu ra cho trước cần phải có một lượng vốn đầu tư nhất định và được

biểu diễn theo công thức:

x = K/Y (*)

Trong đó: x: hệ số tốc đầu tư

K: là vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu

Y: là sản lượng tại thời kỳ nghiên cứu

Như vậy, nếu x khơng đổi thì khi quy mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến

nhu cầu vốn đầu tư tăng theo và ngược lại. Nói cách khác, chi tiêu đầu tư tăng hay

giảm phụ thuộc vào quy mô sản phẩm cần sản xuất.

Từ công thức (*), suy ra:

K = x* Y (**)

Theo công thức trên thì sản lượng phải tăng liên tục mới làm cho vốn đầu tư

tăng cùng tốc độ hoặc không đổi so với thời kỳ trước.

Theo lý thuyết gia tốc đầu tư cho thấy: đầu tư tăng tỷ lệ với sản lượng ít ra là

trong trung và dài hạn.

* Ưu điểm của lý thuyết gia tốc đầu tư :

- Phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư. Nếu x không đổi trong kỳ kế

hoạch thì có thể sử dụng cơng thức để lập kế hoạch khá chính xác.



12



- Phản ánh sự tác động của tăng trưởng nền kinh tế đến đầu tư. Khi kinh tế

tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiết

kiệm tăng cao và đầu tư nhiều hơn.

* Nhược điểm của lý thuyết gia tốc đầu tư :

- Thứ nhất, lý thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tư là cố

định. Thực tế đại lượng này (x) luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố

khác.

- Thứ hai, thực chất lý thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI)

chứ không phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản lượng.

Vì, từ cơng thức (**) có thể viết:

Tại thời điểm t:



Kt = x*Yt (I)



Tại thời điểm t-1: K(t-1) = x*Y(t-1) (II)

Lấy (I) trừ đi (II), ta có:

Kt – K(t-1) = x*Yt – x*Y(t-1) = x*(Yt – Y(t-1) )

Trong đó :

Kt – K(t-1) : đầu tư ròng và bằng (It – D) với D là khấu hao

Do đó :

It – D = Kt – K(t-1) = x*(Yt – Y(t-1)) = x* Y

Và đầu tư ròng : I = x* Y

Như vậy, theo lý thuyết gia tốc đầu tư, đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản

lượng đầu ra. Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng ( lớn hơn x lần ). Nếu sản lượng

giảm, đầu tư thuần sẽ âm. Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài không đổi,

đầu tư ròng sẽ bằng khơng.

- Thứ ba, theo lý thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực

hiện ngay trong cùng một thời kỳ. Điều này không đúng vì nhiều lý do, chẳng hạn

do việc cung cấp các yếu tố có liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng,

do cầu vượt quá cung... Do đó, lý thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục hồn thiện qua thời

gian. Theo lý thuyết gia tốc đầu tư sau thì vốn đầu tư mong muốn được xác định

như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là quy mô đầu tư

mong muốn được xác định trong dài hạn.

2.2.5. Chu kỳ kinh doanh.



13



Chu trình kinh doanh là những dao động của nền kinh tế xung xu thé tăng

trưởng dài hạn, bao gồm cả những thời kỳ tăng trưởng nhanh xen kẽ với những thời

kỳ suy thoái của nền kinh tế.

Chu kỳ kinh doanh gồm bốn giai đoạn: khủng hoảng, suy thoái, phục hồi và

hưng thịnh.

Chu kỳ kinh doanh tác động gián tiếp tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp

thông qua lợi nhuận kỳ vọng.

Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn hưng thịnh, tăng trưởng cao thì các doanh

nghiệp dự kiến nhu cầu thị trường cũng tăng, họ mở rộng đầu tư, tăng quy mơ sản

xuất (hay thời kỳ khuếch trương) vì họ tin rằng có thể thu lợi nhuận lớn hơn.

Khi nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thối, thậm chí khủng hoảng, hầu hết

cacsdoanh nghiệp không muốn chi tiêu đầu tư (hay thời kỳ thu hẹp) vì họ dự kiến

cầu thị trường sụt giảm mạnh, ản phẩm thiếu đầu ra, hay nói các khác là lợi nhuận

kỳ vọng thấp, thậm chí còn âm (thơ lỗ).

2.2.6. Đầu tư nhà nước.

Tổng đầu tư xã hội bao gồm đâu tư của nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp.

Tổng đầu tư xã hội = Đầu tư nhà nước + Đầu tư tư nhân

Các dự án đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước không nhằm mục tiêu thu lợi

nhuận mà tác dụng trợ giúp , điều tiết, định hướng cho đầu tư của tồn xã hội.

Thơng qua ngân sách , chính phủ có thể đầu tư phát triển mạng lưới giao thông, cơ

sở hạ tầng, các khu công nghiệp...điều này nhằm cải thiện mơi trường đầu tư,

khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu tư váo các vùng, ngành theo

quy hoạch của chính phủ, hướng nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ

nghĩa.

Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước,

nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển

của doanh nghiệp nhà nước.

Đầu tư nhà nước chịu ảnh hưởng của các yếu tố như thâm hụt ngân sách, nợ

nước ngoài, các quy hoạch kinh tế xã hội, tỷ lệ thất thoát, tốc độ giải ngân vốn, các

thủ tục khi sử dụng vốn nhà nước.

2.2.7. Mơi trường đầu tư.



14



Có thể coi mơi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu quyết định bỏ vốn

của nhà đầu tư, sự cải thiện môi trường đầu tư có ảnh hưởng vơ cùng quan trọng và

tác động tích cực đến nền kinh tế, làm tăng nguồn vốn đầu tư và tăng chi tiêu đầu tư

toàn xã hội.

Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến

hiệu quả đầu tư. Có thể kể đến, như:

 Mơi trường cứng: bao gồm các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng kỳ thuật

phục vụ cho phát triển kinh tế, ví dụ như cở sở hạ tầng giao thông, hệ thống

cấp điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc...

 Môi trường mềm: bao gồm hệ thống thủ tục hành chính, dịch vụ pháp lý liên

quan đến đầu tư...

Môi trường đầu tư ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúc đẩy các nhà

đầu tư bỏ vốn đầu tư phát triển. Trong đó, việc đưa ra các chính sách nhằm lòng tin

cho các nhà đầu tư cần được Chính Phủ quan tâm. Chính sách và hành vi của Chính

Phủ có ảnh hưởng mạnh thơng qua tác động của nó đến chi phí, rủi ro và các rào

cản cạnh tranh.

2.2.8. Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đánh vào lợi nhuận của doanh

nghiệp, doanh nghiệp sẽ phải chia sẻ với chính phủ một phần lợi nhuận của mình,

nhưng với doanh nghiệp đầu tư vẫn hợp lý, vẫn tiếp tục tăng đầu tư khi giá thuế tư

bản cao hơn chi phí tư bản và sẽ cắt giảm đầu tư khi giá thuế thấp hơn chi phí tư

bản.

Thuế thu nhập doanh ngiệp có tác động quyế định đến hoạt động đầu tư. Nếu

thuế thu nhập doanh nghiệp quá cao sẽ làm cho lợi nhuận sau thuế của doanh

nghiệp giảm trong các yếu tố khác không đổi. Khi lợi nhuận giảm, nhà đầu tư sẽ cân

nhắc quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

Thuế thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nên

Chính Phủ cần đưa ra chính sách thuế hợp lý nhằm khuyến khích và nâng cao hiệu

quả của chi tiêu đầu tư nhưng vẫn phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

II.



Một số vấn đề về kích cầu và kích cầu đầu tư.



1. Khái niệm về kích cầu và kích cầu đầu tư

1.1.



Thế nào là kích cầu?

15



Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của Chính phủ (hay còn gọi là tiêu

dùng cơng cộng) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế

Như vậy, kích cầu là một trong những biện pháp của Chính phủ liên quan đến

chính sách tài khóa để đối phó với tình hình suy thối. Nói cách khác, kích cầu là

một cơng cụ quan trọng nhất của chính sách kích thích kinh tế bên cạch tác dụng hỗ

trợ của chính sách tiền tệ (trong tình hình lạm phát cao, chính sách tiền tệ trở nên

quan trọng)

1.2.



Thế nào là kích cầu đầu tư?



Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các cơng cụ pháp lý

được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút ngày càng nhiều vốn

đầu tư để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và pháp triển kinh tế xã hội trong một giai

đoạn hay một thời kì nhất định.

2. Nội dung của kích cầu

2.1.



Xuất phát của kích cầu



Chính sách kích cầu xuất phát từ học thuyết kinh tế của nhà kinh tế học nổi tiếng

người Anh John Maynard Keynes (1883-1946). Trong lý thuyết của mình, Keynes

rất coi trọng tổng cầu của nền kinh tế. Theo ông, nền kinh tế chịu tác động của hai

nhân tố cơ bản: Tổng cung, tức tồn bộ số hàng hóa bán trong nền kinh tế khơng

phải là tổng cung mà chính là tổng cầu. Tổng cung giữ vai trò thụ động, nó chịu sự

tác động của tổng cầu. Tổng cầu phụ thuộc vào các yếu tố: mức chi tiêu cá nhân của

mỗi gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu ròng

của nước ngồi đối với hàng hóa sản xuất trong nước ( xuất khẩu ròng) trên thị

trường và tổng cầu, tức tồn thể số hàng hóa mà người ta muốn mua. Nhân tố trực

tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm.

Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tổng cầu thường khơng

theo kịp so với tổng cung. Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, thu hẹp đầu

tư, gây ra nạn thất nghiệp cũng như khủng hoảng kinh tế. Để giải quyết tình trạng

này phải tăng tổng cầu. Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư. Do đó

sẽ gia tăng việc làm và gia tăng thu nhập. Cuối cùng sản lượng quốc gia cũng được



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Đầu tư và cầu đầu tư.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×