Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP KÍCH CẦU ĐẦU TƯ HIỆU QUẢ

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP KÍCH CẦU ĐẦU TƯ HIỆU QUẢ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việc kích cầu đầu tư có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế xã

hội, nhưng kết quả của kích cầu đầu tư lại khơng phải chỉ ngay trong thời gian ngắn

mà có được, nó phải trải qua một quá trình dài. Vì vậy, điều đáng lưu ý là thời điểm

thực thi chính sách kích cầu vì hiệu lực của chính sách này có độ trễ. Đó là khoảng

thời gian khi mà chính sách kích cầu được thực thi và phát huy hết hiệu lực đối với

nền kinh tế. Độ trễ này xảy ra do nền kinh tế phải có thời gian trải qua q trình số

nhân khi mà chính sách ban đầu có tác động lan tỏa đến sự vận hành tổng thể của

nền kinh tế. Mục tiêu của chính sách kích cầu là “đi ngược chiều gió” kích thích nền

kinh tế đang bị suy thối. Vì vậy, việc tính tốn, lựa chọn thời điểm thực thi là rất

quan trọng bởi lẽ nếu lựa chọn không đúng thì khi chính sách kích cầu phát huy tác

dụng mà nền kinh tế đã chuyển sang giai đoạn phục hồi và phát triển, chính sách

kích cầu thậm chí còn phản tác dụng. Đó là kích thích nền kinh tế khi nó đang nóng.

Kết quả sẽ là lạm phát.

2.2.



Phân bổ nguồn vốn hợp lý



Theo các chuyên gia, kích cầu vào đâu, kích như thế nào là vấn đề cần được

cân nhắc kỹ để đúng trọng tâm và mang lại hiệu quả thiết thực. Có lẽ sẽ hiệu quả

hơn nếu phân chia lĩnh vực rõ ràng đối với đầu tư công và đầu tư tư nhân (trong

nước và nước ngồi). Nói chung đầu tư công nên được thực hiện đối với những

hàng hóa có đặc tính của hàng hóa cơng cộng, những hàng hóa cần thiết cho sản

xuất và tiêu dùng nhưng khu vực tư nhân khó có thể cung cấp do tính khó khai thác

hoặc khơng có nhiều cơ hội lợi nhuận. Đầu tư tư nhân sẽ tập trung vào những hàng

hóa có đặc tính của hàng hóa tư nhân. Động cơ lợi nhuận sẽ giúp các doanh nghiệp

tính tốn sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả nhất. Để tăng đầu tư, chính phủ

có thể trực tiếp tăng đầu tư của khu vực cơng và gián tiếp kích thích đầu tư của khu

vực tư nhân. Trong giai đoạn đầu của tăng trưởng, xây dựng tốt một cơ cấu cơ sở hạ

tầng vật chất và nâng cao mặt bằng nguồn vốn nhân lực là một nền tảng cần thiết

giúp giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả lao động của các doanh nghiệp. Do vậy,

tất nhiên tăng đầu tư của chính phủ vào giáo dục, y tế, các cơng trình cơ sở hạ tầng

như sân bay, bến cảng, đường xá, cầu cống là hết sức cần thiết. Nhưng điều đáng

nói ở đây là hiệu quả vốn đầu tư vì nguồn vốn đầu tư này khơng phải là miễn phí,

nó có chi phí cơ hội. Với nguồn ngân sách của chính phủ có giới hạn thì việc tập

trung vào đầu tư hàng hóa cơng cộng có lẽ là sự ưu tiên nhất vì đây cũng là hình

thức gián tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp do giúp làm giảm chi phí sản xuất. Để kích

thích đầu tư của khu vực tư nhân phát triển, bên cạnh việc miễn giảm thuế doanh

nghiệp, tạo dựng mơi trường đầu tư thơng thống hơn thì việc hỗ trợ vốn trực tiếp



74



cho các doanh nghiệp như hình thức hỗ trợ lãi suất có lẽ nên được xem xét cẩn thận

vì vấn đề này cũng có hai mặt: tính hiệu quả và tính cơng bằng. Xét về tính cơng

bằng thì tất cả các doanh nghiệp đều nên được tiếp cận đến hỗ trợ vốn của chính

phủ như nhau. Tuy nhiên xét về tính hiệu quả thì sẽ có các doanh nghiệp làm ăn

hiệu quả trong khi các doanh nghiệp khác thì khơng cho nên với nguồn lực có giới

hạn, nếu thực hiện tràn lan sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí, khơng tạo được cú hích

mạnh. Tác động của nó đến sức sản xuất của nền kinh tế cũng khơng phát huy được

tối đa. Suy thối cũng là một hình thức để đào thải những doanh nghiệp làm ăn

khơng hiệu quả. Do vậy, lại có sự đánh đổi và tùy theo mục tiêu đưa ra mà cần có sự

lựa chọn ưu tiên cho các doanh nghiệp nhận hỗ trợ vốn của chính phủ.

 Nên ưu tiên cho dự án quay nhanh vòng vốn

Một số ý kiến cho rằng Nhà nước cần tập trung vốn để hoàn thành các dự án

thuộc lĩnh vực giao thông, thủy lợi... đang dở dang nhằm tránh lãng phí. Điều này sẽ

thúc đẩy việc hoàn thành các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản. Đồng thời tạo điều

kiện để bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu thực hiện an sinh xã hội. Tuy nhiên,

trên thực tế, phần lớn chủ đầu tư những dự án trên là các tập đoàn, tổng công ty Nhà

nước đã từng sử dụng vốn chệch mục tiêu, sử dụng vốn chưa hiệu quả, cơng trình

triển khai khơng đúng thời gian quy định. Vì thế, trước khi quyết định rót tiền, kích

cầu đầu tư lại đối với các dự án này, Chính phủ cần rà sốt lại hiệu quả hoạt động

của các đơn vị đang quản lý các dự án; kiểm tra giám sát thường xuyên việc sử

dụng vốn Nhà nước. Chính phủ nên dành tiền vào những dự án đồng vốn có thể

quay vòng nhanh. Khơng phải cứ doanh nghiệp (DN) nào kêu khó là cứu DN đó.

Đối với khối DN nhỏ và vừa, mặc dù khơng được hưởng lợi ích từ gói kích cầu trực

tiếp nhưng họ được hưởng gián tiếp khi Chính phủ kích cầu vào các ngành và đối

tượng khác, tiêu dùng tăng lên, lãi suất giảm xuống, sản xuất sẽ được khơi thơng,

kích thích. Đó mới là lợi ích thiết thực nhất. Hiện nay đối tượng bị tác động bởi

cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nhiều nhất là các DN xuất khẩu. Vì vậy, bên

cạnh chủ trương dãn, giảm thuế, hỗn nợ... Chính phủ cần có những ưu đãi riêng, ví

dụ như cho vay vốn với lãi suất đặc biệt ưu đãi. Mặt khác, kích cầu đầu tư khơng

chỉ dùng tiền mà còn phải tăng cường vai trò cầu nối, xúc tiến thương mại, mở

mang các thị trường mới để DN “trú bão”, đồng thời bảo đảm sự phát triển bền

vững cho xuất khẩu

 Hỗ trợ các dự án thu hút nhiều lao động



75



Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay là làm sao thực hiện được mục tiêu bảo

đảm an sinh xã hội. Bởi trên thực tế, do khó khăn nên nhiều DN đã phải cắt giảm

nhân công, sa thải cơng nhân, cho cơng nhân nghỉ ln phiên... Vì thế, cần phải bảo

đảm công ăn việc làm cho người lao động, bằng cách đẩy mạnh thực hiện các dự án

thu hút nhiều lao động. Khi việc làm ổn định trở lại, thu nhập bảo đảm, họ sẽ tiêu

dùng nhiều hàng hóa hơn. Khi đó, tự khắc việc sản xuất của DN sẽ trơi chảy. Gói

giải pháp kích cầu đầu tư cần ưu tiên hỗ trợ cho nhóm DN sản xuất, cần nhiều nhân

công. Việc bơm vốn cho đối tượng nào đều phải có tiêu chí cụ thể. DN thụ hưởng

nguồn vốn ưu đãi phải giải trình phương án sử dụng vốn khả thi và tiết kiệm. Đối

với khu vực nông thôn, chú trọng đầu tư các dự án giao thông nối liền với thành thị

để tiết giảm chi phí vận chuyển, từ đó giảm giá thành sản phẩm. Việc bơm vốn cho

các dự án ở nông thôn sẽ giải quyết được việc làm của những lao động có nguồn

gốc từ nông thôn hiện đang bị các khu công nghiệp ở các TP lớn sa thải, góp phần

bảo đảm an sinh xã hội. DN đầu tư thiết bị để tăng năng lực sản xuất cũng cần được

ưu tiên. Ngân hàng có thể cho DN vay vốn giá rẻ để cải tiến cơng nghệ, giảm chi

phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm tạo lực đẩy tiêu thụ hàng hóa. Ngồi ra, Nhà

nước cần tăng cường hỗ trợ cho DN xuất khẩu về lãi suất, xúc tiến thương mại;

khuyến khích DN sản xuất hàng hóa thay thế hàng hóa nhập khẩu nhằm hạn chế

nhập siêu...

II. Kết hợp với chính sách tiền tệ, tỷ giá, khuyến khích xuất khẩu, thu hút đầu



Chính phủ vẫn có thể sử dụng chính sách tiền tệ để kích thích đầu tư và tiêu

dùng trong nền kinh tế. Ngồi ra, một chính sách bộ trợ cần thiết là thực hiện tỷ giá

linh hoạt hơn nữa cho phù hợp với thị trường. Cùng với việc mở rộng chính sách tài

khóa và nới lỏng chính sách tiền tệ để kích cầu, sức ép nhập khẩu sẽ tăng lên, vừa

làm giảm bớt hiệu quả của việc kích cầu, vừa gây thêm căng thẳng lên cán cân

thương mại và tài khoản vãng lai vốn đã thâm hụt ở mức cao và kéo dài trong nhiều

năm. Tỷ giá linh hoạt đóng vai trò quan trọng như một chiếc van điều chỉnh giúp

giảm những sức ép này một cách kịp thời để tránh đổ vỡ mà nhiều nước đã gặp phải

do chính sách tỷ giá quá cứng nhắc. Một chính sách tỷ giá cứng nhắc sẽ làm đồng

nội tệ bị định giá cao và do đó vừa tước đi của doanh nghiệp xuất khẩu và cạnh

tranh với nhập khẩu một vũ khí cạnh tranh quốc tế sắc bén, lại vừa vơ hiệu hóa

chiếc van an toàn quan trọng này. Nếu vào giữa năm 2008 khi lạm phát ở mức rất

cao, chính sách tỷ giá được điều hành thận trọng không để đồng tiền Việt Nam mất

giá nhằm giúp chống “nhập khẩu” lạm phát là rất phù hợp, thì nay trong bối cảnh



76



lạm phát thấp trên tồn cầu, thậm chí đã có những sức ép về giảm phát, chính sách

tỷ giá cần chuyển trọng tâm ưu tiên sang đảm bảo cán cân thanh toán lành mạnh

thông qua việc làm cho tỷ giá linh hoạt lên đáng kể. Các nước khác cũng đang thực

hiện gói kích cầu, và khi kích cầu thì khơng nhất thiết là chỉ kích thích tiêu dùng

hàng sản xuất trong nước của các nước này, đặc biệt là khi gói kích cầu tại các nước

này là rất lớn. Việt Nam có thể tận dụng để đẩy mạnh XK, do nhiều mặt hàng xuất

khẩu của Việt Nam là những mặt hàng thiết yếu! Chúng ta cũng có thể hỗ trợ doanh

nghiệp mở rộng sang các địa bàn XK phi truyền thống khác. Đồng thời với việc hỗ

trợ xuất khẩu, Việt Nam cũng nên học tập Ấn Độ trong việc coi đây là cơ hội để cải

thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.

III.



Giám sát và đánh giá kết quả gói kích cầu



Cùng việc triển khai nhanh, giải ngân sớm các gói kích cầu đầu tư thì cơng tác

thanh tra, kiểm tra cũng cần được tiến hành kịp thời để phát hiện những bất hợp lý

giúp Chính phủ sớm điều chỉnh, bổ sung. Để thực hiện gói kích cầu đối với nền

kinh tế hiệu quả nhất, chúng ta phải nghiên cứu và triển khai việc giám sát thực hiện

gói kích cầu cũng như đánh giá kết quả thực hiện gói kích cầu.

1. Vai trò giám sát của Quốc Hội

Kinh nghiệm kích cầu trên thế giới cho thấy, để đảm bảo việc thực hiện gói

kích cầu đạt hiệu quả, chống lãng phí cũng như tham nhũng, vai trò của một cơ

quan giám sát là vơ cùng quan trọng. Ví dụ như tại Hoa Kỳ, gói kích cầu của Tổng

thống mới đắc cử Obama phải được Quốc hội Mỹ phê duyệt cả về qui mơ của gói

kích cầu (chi bao nhiêu tiền) cũng như cách thức thực hiện gói kích cầu (chi như thế

nào, vào đâu). Gói kích cầu mặc dù được chính phủ Mỹ đưa ra, nhưng lại được

quốc hội Mỹ ban hành thành Đạo Luật kích thích kinh tế 2008. Tại Việt Nam, theo

ý kiến của chúng tôi, Quốc hội với vai trò là cơ quan giám sát cần được nhấn mạnh

và nâng cao hơn nữa. Quốc hội cần có tiếng nói và tham gia mạnh mẽ trong việc

quyết định có nên có gói kích cầu hay khơng, qui mơ của gói kích cầu là bao nhiêu,

cũng như địa chỉ của gói kích cầu.

2. Đánh giá kết quả thực hiện gói kích cầu

Việc thực hiện gói kích cầu, nếu khơng có sự giám sát và đánh giá có thể dẫn

tới nhiều hệ hụy, vừa gây lãng phí cho ngân sách, vừa khơng đạt được kết quả mong

muốn là kích cầu, mà còn có thể làm méo mó nền kinh tế, gây tác động không tốt

cho tăng trưởng lâu dài và bền vững. Do đó, sau khi thực hiện gói kích cầu, vấn đề

đánh giá kết quả của gói kích cầu là hết sức cần thiết, xem xét xem gói kích cầu có

77



thực sự giúp chúng ta vượt qua khủng hoảng hay khơng, vừa tránh được lãng phí,

cũng như rút ra được bài học quí báu trong quản lý và điều hành nền kinh tế vĩ mô

trong thời gian tới. Đồng thời việc u cầu đánh giá hiệu quả gói kích cầu cũng sẽ

ràng buộc trách nhiệm những người và cơ quan có liên quan. Và khi ràng buộc trách

nhiệm, điều này sẽ làm cho việc thực hiện gói kích cầu đạt hiệu quả hơn. các Trong

hoàn cảnh của Việt Nam, Để đảm bảo tính độc lập và phù hợp với vai trò của một

cơ quan giám sát, Quốc hội là cơ quan phù hợp nhất. Chúng ta có thể tham khảo

thêm thực tiễn giám sát của Hoa Kỳ và một số nước trong khu vực với gói kích cầu

của họ trong q khứ. Gói kích cầu có thể được đánh giá theo hai thước đo chính:

(i)

(ii)

(iii)



(iv)



IV.



Đánh giá kết quả thực hiện với mục tiêu đề ra,

Đánh giá tác động của gói kích cầu tới nền kinh tế

Đánh giá kết quả thực hiện: thực tế triển khai lựa chọn đối tượng hỗ trợ,

tiến độ, tốc độ triển khai kế hoạch, sự sẵn sàng của hệ thống dịch vụ công,

thông tin tuyên truyền trong q trình triển khai kích cầu.

Đánh giá tác động của gói kích cầu tới nền kinh tế, tới tổng cầu: so sánh

hiệu quả tác động theo nhóm đối tượng, nhóm biện pháp kích cầu, so sánh

hiệu quả tác động theo giá trị các gói hỗ trợ. Việc đánh giá kết quả thực hiện

và tác động của gói kích cầu lần này sẽ giúp Chính phủ thêm những cơ sở

thông tin quý báu cho quyết sách triển khai các gói kích cầu tiếp theo nếu

có.

Một số đề xuất nhằm phát huy hiệu quả chính sách kích cầu



Vấn đề đặt ra là triển khai các “gói kích cầu” như thế nào để đạt được hiệu

quả, tránh và hạn chế đến mức thấp nhất những hệ luỵ có thể gây ra đối với nền

kinh tế. Điều này đòi hỏi phải quán triệt và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong

đó cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, việc sử dụng các nguồn lực kích cầu cần bảo đảm nguyên tắc kịp thời,

đúng đối tượng, đem lại hiệu quả, trong mức độ cho phép và mang tính ngắn hạn.

Kích cầu phải có trọng tâm, trọng điểm và triển khai đồng bộ trên cả hai góc độ sản

xuất và tiêu dùng, trong đó cần ưu tiên cho các đối tượng bị “tổn thương” nhiều

trong khủng hoảng kinh tế; các lĩnh vực, dự án, cơng trình có tính chất cấp bách,

quan trọng, quay vòng vốn nhanh, có khả năng kích thích phát triển kinh tế - xã hội

của các vùng, miền, vừa mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa tạo, giải

quyết việc làm, cải thiện đời sống người lao động. Với tiêu chí đó, kích cầu ở nước

ta hiện nay cần coi trọng ưu tiên cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; kinh tế tư

nhân; các doanh nghiệp nhỏ và vừa; giãn và dừng các dự án kém hiệu quả. Kích cầu

là để chống suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bởi vậy kích cầu phải lấy hiệu

78



quả kinh tế - xã hội làm thước đo, cần kết hợp chặt chẽ việc thực hiện kích cầu với

cải cách hành chính, đặc biệt là giảm cơ chế “xin - cho”.

Hai là, kích cầu cần phải đặt trong tổng thể chính sách vĩ mơ của Nhà nước

chứ không thể tách riêng. Trong điều kiện hiện nay, để tiếp tục triển khai các “gói

kích cầu” một cách hiệu quả cần có sự đánh giá kịp thời, nghiêm túc, chính xác tác

dụng của “gói kích cầu” ngắn hạn đã triển khai. Qua đó để thấy rõ hơn những gì đã

đạt được và chưa đạt được so với mục tiêu đề ra của “gói kích cầu”, nhất là những

bài học kinh nghiệm cần thiết cho việc xác định các giải pháp tiếp theo một cách

phù hợp.

Ba là, cần có sự cạnh tranh, bình đẳng, minh bạch trong việc tiếp cận vốn kích

cầu. Theo đó, mục tiêu, thời gian, cách thức triển khai “gói kích cầu”và những đối

tượng, dự án nào được hưởng vốn kích cầu, những ai làm chủ đầu tư... cần được

công bố công khai rộng rãi để có một sự cạnh tranh nhất định. Tránh tình trạng “mù

mờ”, khép kín, làm nảy sinh tiêu cực và hạn chế tác dụng, hiệu quả của các “gói

kích cầu”.

Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ của các cấp, các ngành từ

Trung ương đến các địa phương trong việc thực hiện “gói kích cầu” nhằm hạn chế

việc chi sai mục tiêu, đối tượng sử dụng, gây lãng phí, thất thốt các nguồn lực,

đồng thời ngăn chặn nguy cơ lạm phát tăng trở lại sau giai đoạn kích cầu làm tổn

hại đến nền kinh tế. Thường xuyên cập nhật thơng tin để có những đánh giá và dự

báo chính xác tình hình kinh tế - xã hội trong và ngồi nước, trên cơ sở đó điều

chỉnh hệ thống chính sách phù hợp với tình hình cụ thể. Kịp thời phát hiện và xử lý

nghiêm các hiện tượng tiêu cực trong việc thực hiện “gói kích cầu”.

Năm là, để việc thực hiện các giải pháp kích cầu hiện nay một cách hiệu quả,

đi đôi với những việc làm trên cần tập trung rà soát, khắc phục các vướng mắc, khó

khăn đối với các nhà đầu tư nước ngồi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà

đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa kích cầu

đầu tư với kích cầu tiêu dùng, giữa đẩy mạnh xuất khẩu với mở rộng khai thác thị

trường nội địa, trong đó cần chú trọng cả thị trường ở khu vực nông thôn và thị

trường khu vực thành thị.

Sáu là, là giảm thiểu các tác động trái chiều: Để giảm thiểu các tác động trái

chiều của “gói kích cầu” cần chú ý: Khơng “kích cầu” tuỳ tiện theo thành tích hoặc

theo lợi ích ngắn hạn; Thực hiện tốt hơn việc lựa chọn hợp lý và cơng khai các tiêu

thức, cũng như thuận lợi hố các thủ tục giải ngân cho các dự án thuộc danh mục

được kích cầu; Tập trung đầu tư cho các dự án sắp hoàn thành, đưa nhanh vào khai

thác sử dụng, các dự án có dung lượng và triển vọng thị trường tiêu thụ tốt, các dự

án góp phần trực tiếp duy trì và mở rộng năng lực sản xuất và kinh doanh cần thiết

79



của doanh nghiệp và nền kinh tế, các dự án thúc đẩy chuyển dịch và cải thiện cơ

cấu, sức cạnh tranh kinh tế theo hướng phát triển bền vững... Đặc biệt, ưu tiên vốn

cho các dự án có tính thúc đẩy phát triển liên ngành cao, hoặc tạo thị trường tiêu thụ

tiềm năng; nhất là các dự án có ý nghĩa tổng hợp cả kinh tế-xã hội và mơi trường..

Bên cạnh đó, cần thúc đẩy mạnh và hiệu quả các hoạt động xúc tiến đầu tư và

thương mại, kể cả bằng nguồn vốn trong gói kích cầu nhằm khơi thông thị trường

vốn và thị trường tiêu thụ nước ngoài mới cho các doanh nghiệp trong nước; thực

hiện các CCHC cải thiện căn bản môi trường đầu tư theo hướng tự do hoá, thuận lợi

hoá, dỡ bỏ những hạn chế lạc hậu về hạn điền, thời hạn giao đất... ; khuyến khích xã

hội hố; mạnh dạn giảm thuế, tăng các hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các doanh

nghiệp vừa và nhỏ từ các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước; phát

triển, hiện đại hoá và tự do hoá cao hơn thị trường vốn; tiếp tục q trình cổ phần

hố và nới rộng hơn các tỷ lệ sở hữu tư nhân và nước ngoài trong các DNNN và

cung cấp các hàng hoá tốt cho TTCK. Cần nhấn mạnh rằng, về trung hạn và dài hạn

cần tăng cường sử dụng các cơng cụ chứng khốn hố nợ thơng qua Tổng cơng ty

đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước cũng như các công ty mua bán nợ Nhà nước

khác để thực hiện các trợ giúp từ gói kích cầu của Chính phủ. Nói cách khác, cần

giảm dần việc hỗ trợ trực tiếp lãi suất cho các doanh nghiệp như hiện nay, để

chuyển sang mở rộng việc Chính phủ thơng qua Tổng cơng ty đầu tư và kinh doanh

vốn Nhà nước, cũng như các công ty kinh doanh nợ khác tiến hành mua bán chứng

khoán của các công ty cần hỗ trợ theo những định hướng lựa chọn phù hợp thực tiễn

phát triển doanh nghiệp và mục tiêu kích cầu cụ thể cho từng giai đoạn. Cách thức

này cho phép đưa sự hỗ trợ Nhà nước phù hợp hơn các nguyên tắc thị trường và

thông lệ quốc tế, cũng như góp phần phát triển thị trường tài chính trong nước...

Ngồi ra, cần theo dõi chặt chẽ, nâng cao chất lượng phân tích và dự báo tình hình

trong nước và quốc tế, đặc biệt là những biến động về tình hình kinh tế, tài chính

thế giới, chủ động xây dựng các phương án ứng phó; Linh hoạt trong điều hành lãi

suất và tỷ giá, chủ động kiểm sốt mức tăng tổng phương tiện thanhphó; Linh hoạt

trong điều hành lãi suất và tỷ giá, chủ động kiểm soát mức tăng tổng phương tiện

thanh tốn; Tăng cường cơng tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để kịp thời ngăn

ngừa các sai phạm, đẩy mạnh cơng tác kiểm sốt giá cả, chống gian lận thương mại,

đầu cơ, buôn lậu, nâng giá, kiếm lời bất chính. Trong vấn đề kiểm sốt thị trường,

chú ý đến liều lượng, thời lượng, chính sách bổ trợ khi xây dựng và thực thi những

giải pháp đã, đang và sẽ triển khai...

V.

Các giải pháp kích thích đầu tư trong dài hạn

1. Giải pháp kích cầu đầu tư trong nước



80



Một là: Tập trung mọi nguồn lực tài chính đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp

thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, mở rộng dịch vụ theo hướng tăng

sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Nguồn lực quan trọng nhất

là vốn để đầu tư cho các ngành kinh tế, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất, kinh

doanh dịch vụ chất lượng cao, giá thành hạ. Do vậy, kích cầu bằng giải pháp đầu tư

trực tiếp và gián tiếp thông qua hỗ trợ lãi suất ngân hàng là giải pháp quan trọng

hàng đầu của Nhà nước. Trong kích cầu đầu tư, nguồn tiền sẽ được trích từ ngân

sách nhà nước về xây dựng cơ bản hằng năm, trái phiếu Chính phủ và vốn ODA.

Khuyến khích các thành phần kinh tế, doanh nghiệp tham gia, tạo điều kiện thuận

lợi cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư vào các lĩnh vực như xây dựng

kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải, điện, xi măng…

Hai là: Triển khai sớm chủ trương hỗ trợ lãi suất của Chính phủ đối với các

doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thương mại. Hỗ trợ lãi suất vốn vay trong chương

trình kích cầu nên ưu tiên cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể tạo thêm

nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động đang thất nghiệp hoặc lao động dư thừa ở

khu vực nông thôn vốn đang thiếu việc làm nghiêm trọng .Các doanh nghiệp toàn

quyền quyết định vốn vay để sản xuất, kinh doanh sao cho hiệu quả nhất (tức cũng

có lợi cho nền kinh tế). Nhà nước chỉ hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay nằm trong

danh mục được hỗ trợ (hoặc nằm ngồi danh mục khơng được hỗ trợ) trong ý nghĩa

là giúp cho các doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng chi phí tài chính với mục tiêu

khuyến khích họ tiếp tục duy trì sản xuất, kinh doanh.

Ba là: Tập trung cao độ cho những ngành và lĩnh vực yếu thế nhưng còn nhiều

tiềm năng phát triển tồn diện, tăng trưởng cao, hấp thụ vốn nhanh, trước hết là

nông nghiệp, nông dân và nơng thơn.Tăng cường và ưu tiên kích cầu cho nông

nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn. Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn cũng là

một hướng cần ưu tiên cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp thơng qua hỗ trợ lãi

suất tín dụng. Khu vực nông thôn, nông nghiệp, thủy sản chiếm hơn 70% dân số và

lao động xã hội. Đây cũng là khu vực ít chịu tác động trực tiếp của cc khủng

hoảng kinh tế toàn cầu, nên nếu được ưu tiên đầu tư thỏa đáng sẽ có bước phát triển

mới, khơng chỉ tăng nhanh nơng sản hàng hóa phục vụ tiêu dùng trong nước, xuất

khẩu, tăng giá trị GDP bù đắp phần nào cho sự giảm sút từ công nghiệp và dịch vụ,

mà còn tạo thêm chỗ làm mới để thu hút lao động thất nghiệp từ thành phố, từ các

khu công nghiệp trở về nông thôn làm việc. Một trong những giải pháp quan trọng

là tăng cường đầu tư vốn, khoa học - công nghệ và mở rộng thị trường xuất khẩu

nơng sản thơng qua gói kích cầu của Chính phủ.

Bốn là: Tăng cường sự phối hợp của các bộ, ngành Trung ương, các địa

phương trong chỉ đạo, triển khai các biện pháp kích cầu của Chính phủ cho sản

81



xuất, dịch vụ. Các giải pháp trước mắt là: Các bộ, ngành quan liên quan rà sốt lại

tồn bộ các văn bản pháp luật hiện hành về đầu tư, sửa đổi những bất cập làm ảnh

hưởng đến tiến độ các dự án đầu tư kích cầu. Nghiên cứu, ban hành các văn bản

pháp quy mới nhằm tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn

FDI và ODA, nhất là các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, các dự án đầu tư sản xuất

sản phẩm công nghệ cao có giá trị xuất khẩu lớn, những dự án giải quyết việc làm,

các dự án cơng trình có quy mơ lớn... tiếp cận nguồn vốn giải phóng mặt bằng lãi

suất kích cầu của Chính phủ...

2. Giải pháp kích cầu đầu tư nước ngồi

Thứ nhất, về nhóm giải pháp liên quan tới chính sách thu hút đầu tư, Chính

phủ chỉ đạo, tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách về đầu tư, kinh doanh, ban

hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư vào một số lĩnh vực, thực hiện các biện pháp

thúc đẩy giải ngân...

Thứ 2, Nhóm giải pháp về quy hoạch. Theo đó, cơng bố rộng rãi các quy

hoạch đã được phê duyệt đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư,

quán triệt và thực hiện thống nhất quy định của Luật Đầu tư trong cơng tác quy

hoạch...

Thứ 3, là nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng, bao gồm tổng rà sốt, điều chỉnh,

phê duyệt và cơng bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020, huy động tối

đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, tăng cường năng lực cạnh

tranh.

Thứ 4, trong nhóm giải pháp về nguồn nhân lực, Chính phủ u cầu hoàn

thiện các văn bản pháp lý về hợp tác đầu tư trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tạo

điều kiện thuận lợi để thu hút ĐTNN đào tạo lao động ở các trình độ, nghiên cứu

điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

nâng cao trình độ lao động, đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất sản xuất

để giao cho dự án.

Thứ 5, là nhóm giải pháp về công tác phối hợp trong quản lý Nhà nước đối

với hoạt động ĐTNN. Theo đó, Trung ương và địa phương sẽ phối hợp chặt chẽ

trong việc cấp phép và quản lý các dự án ĐTNN. Tăng cường đào tạo bồi dưỡng

cán bộ quản lý ĐTNN, tiến hành tổng kết, đánh giá việc phân cấp trong quản lý nhà

nước về hoạt động ĐTNN...

Thứ 6, là nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư, gồm nghiên cứu đề xuất chính

sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đồn đa quốc gia cũng như có chính

sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm, tổ chức khảo sát, nghiên

cứu và xây dựng mơ hình cơ quan xúc tiến đầu tư ở Trung ương và địa phương...

Bên cạnh 6 nhóm trên, Chính phủ cũng đề ra một số giải pháp khác như đẩy

mạnh cải cách thủ tục hành chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, duy trì cơ

82



chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành với các nhà

đầu tư, đặc biệt là Diễn đàn doanh nghiệp hàng năm, tăng cường cơng tác thanh tra,

kiểm tra...



83



KẾT LUẬN

Qua bài nghiên cứu “Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn”, chúng ta

nhận thấy rõ được tầm quan trọng của kích cầu đầu tư đến nền kinh tế. Và càng phát

huy vai trò trong giai đoạn nền kinh tế bị khủng hoảng. Từ đó có những nhìn nhận

đúng đắn và các giải pháp thực hiện hợp lý, có hiệu quả khi đưa ra các chính sách

và trong q trình thực hiện các gói kích cầu. Nhận thức được rõ điều này sẽ cho

chính phủ những quyết định đúng đắn trong việc đưa ra các chính sách. Những

chính sách của nhà nước nên tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, dần

nâng cao khả năng tự chủ dựa vào nội lực là điều cần thiết để giảm thiểu tác động

tiêu cực của những biến động cả về kinh tế, chính trị, xã hội.

Việc tiếp tục rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng là điều khơng thể

tránh khỏi vì theo quy luật vận động của nền kinh tế thì có hưng thịnh ắt sẽ có suy

thối, chạm đáy suy thối thì nền kinh tế sẽ tự phục hồi dựa trên sức lực sẵn có của

nền kinh tế đó. Việc chúng ta cần làm bây giờ khơng phải là tìm cách tránh được

những cuộc khủng hoảng vốn dĩ là tất yếu của nên kinh tế mà chúng ta cần chuẩn bị

cho nền kinh tế một sức khỏe thật tốt để có thể chống đỡ được những tác động từ

cuộc khủng hoảng, sau đó có những biện pháp hợp lý để vực dậy nhanh chóng nền

kinh tế.



84



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP KÍCH CẦU ĐẦU TƯ HIỆU QUẢ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×