Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong năm 2009, giảm 0,7 % so với dự đoán trước đó do những tác động xấu của

khủng hoảng kinh tế ở các nước phương Tây.

Biểu đồ 2.1: Xuất khẩu toàn thế giới 2007-2010

(Đơn vị: triệu USD, %)



Giá trị xuất khẩu được coi là một trong những thước đo hay được sử dụng để

đánh giá sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Tương tự như GDP, tốc độ tăng giá

trị xuất khẩu của thế giới bắt đầu sụt giảm từ cuối năm 2007 và giảm mạnh nhất

trong quý IV năm 2008, xuống chỉ còn -18%, từ mức gần 10% trước giai đoạn

khủng hoảng. Trong khi đó, xuất khẩu lần đầu tiên sau nhiều năm đã giảm về mặt

giá trị tuyệt đối vào quý III năm 2008 sau một thời gian dài liên tục tăng. Cuối năm

2008, giá trị xuất khẩu toàn cầu đã giảm 15.000 tỷ USD, tương đương với 15,5% so

với cùng kỳ năm trước, thể hiện kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn trầm trọng

nhất của cuộc đại suy thoái.

Suy giảm kinh tế thế giới đã làm số lượng việc làm giảm sút. Trong giai đoạn

khủng hoảng, các công ty phá sản hoặc thu hẹp sản xuất sẽ dẫn tới dư thừa lao

động. Điều này đồng nghĩa với số lượng việc làm giảm và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

Từ năm 2007, tốc độ tăng trưởng việc làm đã bắt đầu giảm ở cả Mỹ và Nhật Bản.

Đặc biệt là ở Mỹ, đến năm 2008, số lượng việc làm đã giảm tới 3,5%, nâng tỷ lệ

thất nghiệp lên con số 5,8% vào cuối năm 2008. Tỷ lệ thất nghiệp tính đến cuối năm

2008 trên toàn thế giới là 30%.



39



( Nguồn : IMF )

Trong bối cảnh suy giảm kinh tế như trên, các quốc gia trên thế giới đã

nhanh chóng đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn đà suy thối và khơi phục nền

kinh tế. Trong năm 2008 và 2009, Mỹ đã đưa ra 2 gói kích thích kinh tế, lần 1 vào

năm 2008, trị giá 152 tỷ USD nhằm mục đích kích cầu, đối tượng chính nhận được

trợ cấp là các cá nhân trong nền kinh tế. Gói kích thích kinh tế lần thứ 2 hướng tới

đối tượng là các doanh nghiệp, trị giá 825 tỷ USD, nhằm mục đích giải quyết tình

trạng thất nghiệp cao tại Mỹ. Vào tháng 8 năm 2008, Nhật Bản cũng có kế hoạch

đưa ra gói kích thích kinh tế lần 1 để đối phó với khủng hoảng kinh tế tồn cầu. Gói

kích thích này trị giá khoảng 18-27 tỷ USD, chủ yếu nhằm hỗ trợ người dân vượt

qua tác động của giá cả hàng hóa tăng cao. Gói kích thích kinh tế lần 2 cũng đã

được chính phủ Nhật Bản thông qua đề giải quyết vấn đề tín dụng và kích cầu.

Chính phủ Trung Quốc cũng đã thơng qua kế hoạch chi tiêu để kích thích nền kinh

tế trị giá 586 tỷ USD trong vòng 2 năm (mỗi năm tương đương khoảng 7% GDP).

EU tuy chậm hơn, nhưng cũng đã nhất trí đưa ra gói kích cầu trị giá 200 tỷ EURO

(tương đương 1.5% trị giá GDP của khối EU) nhằm chống lại những tác động tiêu

cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.4 Các nước trong khu vực ASEAN cũng

nhanh chóng đưa ra những biện pháp đối phó với khủng hoảng của riêng mình. Ví

dụ như Thái Lan đã thơng qua gói kích thích kinh tế trị giá 1,3 tỷ USD vào tháng

3/2008 và gói thứ hai trị giá gần 3 tỷ USD vào tháng 12/2009.

2. Tình hình Việt Nam

Khủng hoảng và suy thối kinh tế Thế Giới ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế

Việt nam. Suy thối kinh tế tồn Cầu đẩy thêm những khó khăn cho nền kinh tế VN

vốn đã trong tình trạng mất cân đối vĩ mô khá nghiêm trọng, thể hiện qua thâm hụt

ngân sách cao, thâm hụt vãng lai cao, và tình trạng đơ la hóa cao. Nền kinh tế sau

một thời gian mở rộng đã bắt đầu thu hẹp.Chúng Ta phải đối mặt với những khó

khăn về vấn đề thanh khoản của hệ thống tín dụng, lãi suất ngân hàng tăng cao,

40



những cơn sốt agiá lương thực và năng lượng, thị trường chứng khoán tiếp tục bị sụt

giảm… GDP của Việt Nam đã liên tục được điều chỉnh giảm, tuy nhiên đã khơng

thể về đích. Cả năm 2008, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là 6,23%(từ mức

8,48% 2007), CPI tăng gần 23%,chỉ số điều chỉnh GDP ở mức 22% so 2007.

* Cán cân thương mại

Biểu đồ 2.3: Tình hình nhập khẩu qua các năm.



(Nguồn: Tổng cục thống kê )

Nền kinh tế VN phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nên khi kinh tế thế giới gặp

biến động và suy thối thì xuất khẩu sẽ là kênh đầu tiên lan truyền các tác động tiêu

cực của khủng hoảng đến VN. Trên thực tế, ngay từ những tháng đầu năm 2008,

XK của VN sang thị trường lớn nhất là Mỹ đã có xu hướng giảm do cầu tiêu dùng

tại Mỹ suy giảm mạnh bởi tác động của khủng hoảng tài chính. Trong 9 tháng đầu

năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 16,7%, thấp hơn nhiều

so với mức 26,7% năm 2007. Theo đó, tỷ trọng thị trường Mỹ cũng giảm 20,7%

năm 2007 xuống còn 17,7% trong 9 tháng đầu năm 2008. Những dấu hiệu đáng lo

ngại của suy giảm kinh tế biểu hiện rõ rệt trong những tháng cuối năm 2008 và đầu

năm 2009 thông qua kênh xuất khẩu. Nếu như giá trị xuất khẩu tháng 9 năm 2008

tăng 11,9% so với tháng trước thì trong tháng 10 và tháng 11, giá trị xuất khẩu giảm

liên tiếp. Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 giảm 3,3% so với tháng 9 và tháng 11 giảm

44,8% so với tháng 10. Kim ngạch XK trong tháng 1 năm 2009 đã giảm nghiêm

trọng, chỉ đạt 3,8 tỷ USD, giảm 18,6% so với tháng 12/2008 và giảm 24,2% so với

cùng kỳ năm trước, chủ yếu do sự giảm giá xuất khẩu của nhiều mặt hàng cũng như

nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam của một số thị trường quan trọng giảm sút

như Mỹ, EU, Nhật Bản. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu trong năm 2008 đạt 80,4 tỷ

41



USD, tăng 28,3% so với năm 2007 do giá cả hầu hết các mặt hàng nhập khẩu quan

trọng đều tăng như xăng dầu, sắt, phân bón và bột mỳ. Tuy nhiên, nhập khẩu

nguyên liệu cho sản xuất những tháng cuối năm có xu hướng giảm nhiều, đây là

một trong những dấu hiệu của sự chững lại trong đầu tư và sản xuất. Nhập siêu

trong năm 2008 tuy có giảm so với dự đoán nhưng vẫn rất cao, vào khoảng 17,5 tỷ

USD, tăng 24,1% so với 2007. Trong đó, nhập siêu từ thị trường Trung Quốc là lớn

nhất, với 10,8 tỷ USD, cao hơn 1,7 tỷ USD so với năm 2007.

* Đầu tư:

Năm 2008, Việt Nam đã thu hút được lượng vốn FDI kỷ lục, đạt hơn 64 tỷ

USD, gấp gần lần so với năm 2007. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm

2008 đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007. Tuy nhiên, theo đánh giá của

các chuyên gia, cơ hội để VN thu hút được lượng vốn FDI năm 2009 như năm 2007

và 2008 là không cao. Ước tính lượng vốn FDI đổ vào VN trong năm 2009 chỉ là 30

tỷ USD, thấp hơn nhiều so với năm 2008. Giải ngân vốn FDI và ODA dự đoán cũng

sẽ chậm lại trong năm 2009 do nguồn vốn đầu tư của các tổ chức tài chính, tiền tệ

quốc tế và dự trữ cho vay của các nước phát triển sẽ được cân đối lại để bình ổn thị

trường tài chính.

Thị trường chứng khốn được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế. Những

biến động trên thị trường chứng khoán sẽ phần nào phản ánh xu hướng kinh tế trong

thời gian tới. Trên thị trường chứng khoán, luồng tiền đầu tư gián tiếp vào VN suy

giảm và đã có hiện tượng nhà đầu tư nước ngồi rút vốn khỏi thị trường vào năm

2008. Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mơ có chuyển biến tích cực nhưng thị trường

chứng khoán Việt Nam liên tục sụt giảm. VN-index giảm liên tục và lập đáy mới

xuống dưới mức 350 điểm. Việc các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường

cộng với diễn biến xấu của nền kinh tế thế giới đã gây hoang mang cho các nhà đầu

tư trong nước.

Lao động, việc làm : Theo một số phân tích, từ những tháng cuối năm 2008

và đầu năm 2009, Việt Nam đã phải chịu những tác động của cuộc suy thoái kinh tế

thế giới, mà cụ thể là trong nước sản xuất đình trệ, đầu tư tăng thấp, tiêu dùng có

dấu hiệu chậm lại, dẫn tới sự dư thừa đáng kể năng lực sản xuất, trong đó đặc biệt

nghiêm trọng là dư thừa lao động. Theo một nghiên cứu của VietCapital, GDP suy

giảm 1% thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng 0.35%, theo đó nếu GDP 2009 chỉ còn khoảng

4,5% (so với kế hoạch 6.5%) thì sẽ có thêm 300 nghìn người thất nghiệp.3 Tình

trạng mất việc làm ở VN trong năm 2009 dự đoán sẽ tiếp tục tăng nhanh, do lĩnh

vực xuất khẩu sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày da, thủy sản, mỹ nghệ và



42



tiểu thủ công nghiệp bị cắt giảm mạnh đơn hàng. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng có thể

sẽ gây ra nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng đáng lo ngại khác.

Trước tình hình đó, chính phủ Việt Nam đã đưa ra gói kích cầu nhằm ngăn

chặn suy giảm kinh tế.

II. Gói kích cầu thứ nhất. (15/01/2009 - 31/12/2009)

1. Nội dung

Ngày 12/5/2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cơng bố chính thức về gói kích

cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng (tương đương 8 tỷ USD) của Chính phủ, sau đó tăng

lên 160 nghìn tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD). Theo đó, gói kích cầu tương đương

8 tỷ USDđược chia thành 8 phần có các giá trị khác nhau. Cụ thể các phần của gói

kích cầu này bao gồm:

 Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17000 tỷ đồng

 Tạm thu hồi vốn đầu tưu xây dựng cơ bản khoảng 3400 tỷ đồng

 Ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách khoảng

37200 tỷ đồng

 Chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang 2009 khoảng 30200 tỷ

đồng

 Phát hành thêm trái phiếu chính phủ khoảng 20000 tỷ đồng

 Thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28000 tỷ đồng

 Tăng thêm dư nợ cho bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp khoảng 17000 tỷ đồng

 Các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an

sinh xã hội

2. Cơng cụ, biện pháp thực hiện.

2.1.



Chính sách tài khố



2.1.1. Chính sách thuế

Chính phủ thực hiện giãn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Nghị quyết 30,

cụ thể như sau:

 Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của quý IV năm 2008 và số

thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2009 đối với thu nhập từ hoạt

động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 Giãn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 9 tháng đối với

số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2009 của các doanh nghiệp nhỏ

43



và vừa nói trên (70% số thuế còn lại sau khi giảm) và của các doanh nghiệp có

hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, dệt may, da giày,

linh kiện điện tử.

 Tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hoá thực xuất khẩu

trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh tốn qua ngân hàng và

hồn tiếp 10% khi có chứng từ thanh tốn. Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục

hồn thuế bảo đảm chặt chẽ, đúng đối tượng.

Chính sách giãn giảm thuế này đã tập trung vào đối tượng doanh nghiệp vừa và

nhỏ, đặc biệt là doanh nghiệp các ngành sử dụng nhiều lao động và các ngành hàng

xuất khẩu, chính sách hướng vào mục tiêu gia tăng xuất khẩu trong nghị quyết 30.

Bên cạnh việc thực hiện giãn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, các chính sách

thuế khác cũng đồng thời được điều chỉnh tạo đầu vào thuận lợi hơn cho doanh

nghiệp trong nước như hạn chế xuất khẩu tài nguyên, giảm thuế nhập khẩu với

nhiều mặt hàng là nguyên liệu đầu vào, tăng thời gian ân hạn nộp thuế đối với các

doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào sản xuất, song song với đó là việc điều chỉnh thuế

trong khuôn khổ gia nhập WTO thận trọng nhằm bảo vệ thị trường cho các doanh

nghiệp trong nước. Về phía tiêu dùng, chính phủ cũng thực hiện chính sách thuế thu

nhập cá nhân theo hướng hỗ trợ khó khăn cho một số đối tượng nộp thuế, thực hiện

giãn nộp thuế thu nhập cá nhân nhằm gia tăng thu nhập khả dụng cho người dân ở

thời điểm kinh tế khó khăn để có thể thúc đẩy tiêu dùng, đẩy mạnh đầu ra cho sản

xuất.

2.1.2. Chính sách đầu tư công

Thứ nhất, Bộ kế hoạch và Đầu tưu chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ

quan lien quan rà sốt lại tồn bộ các văn bản pháp luật hiện hành về đầu tư , xây

dựng để sửa đổi ngay những bất cập làm ảnh hưởng đến tiến độ các dự án đầu tư;

khẩn trương xây dựng luật sửa đổi, bổ sung các luật về đầu tư xây dựng để trình

Quốc hội tại kỳ họp sắp tới.

Đối với các cơng trình, dự án sử dụng ngân sách nhà nước, cho phép tiếp tục

giải ngân số vốn còn lại của năm 2008 đến hết tháng 6/2009. Đối với cơng trình, dự

án quan trọng, cấp bách nhưng chưa bố trí được nguồn vốn , các bộ ngành và địa

phương cần chỉ đạo các chủ đầu tư nhanh chóng hồn thành các thủ tục đầu tư và

chủ động làm việc với các bộ ngành lien quan để xử lý nguồn vốn, kể cả tạm ứng

ngân sách nhà nước để thực hiện.

Tạm thu hồi các khoản vốn ngân sách nhà nước đã ứng trước năm 2009, trừ các

khoản đã tạm ứng năm 2009 để hoàn thành trong năm 2008.

44



Cho phép điều chỉnh tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án đã có trong danh

mục được Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao đối với các dự

án, cơng trình sử dụng nguồn trái phiếu chính phủ. Đồng thời, cho phéo tiếp tục giải

ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ còn lại cảu năm 2008 trong năm 2009. Tạm

ứng từ nguồn trái phiếu Chính phủ khoảng 1500 tỷ đồng để đầu tư, xây dựng. nâng

cấp hệ thống thủy lơi,…

Bộ kế hoạch và đầu tư chủ trì ban hành các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục thu

hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn FDI và ODA. Giao Bộ Kế hoạch

và Đầu tư thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc

hội trong tháng 12/2008 cho phép cấp quyết định đầu tư được chỉ định thầu các dự

án có mức vốn tối đa khơng q 5 tỷ đồng/ dự án tại các địa bàn miền núi, vùng sâu,

vùng xa, đồng thời chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.

Tạo điều kiện tối đa về đất đai, nguồn vốn, lãi suất,…cho các doanh nghiệp

thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư các dự án, cơng trình có quy mơ lớn.

Đồng thời các tập đồn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước chủ động tham gia các dự

án, cơng trình quan trọng như cơ sở y tế, cảng biển, trường học,..để góp phần đẩy

nhanh tiến độ và kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội của đất nước.

Trong tháng 12/2008, Bộ Xây dựng trình Chính phủ Đề án xây dựng quỹ nhà ở

xã hội giai đoạn 2009-2015; Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình chính phủ ban hành cơ

chế phù hợp để đảm bảo khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở cơng nhân tại các khu

cơng nghiệp.

2.2.



Chính sách tiền tệ



2.2.1. Hỗ trợ lãi suất

Có thể kể đến đầu tiên là gói hỗ trợ lãi suất thông qua việc kết hợp công cụ tài

chính – tiền tệ chưa từng có tiền lệ ở các nước khác trên thế giới. Với nhiều gói hỗ

trợ lãi suất khác nhau, chính sách này hướng rộng khắp tới nhiều đối tượng nhằm

mục đích thúc đẩy sản xuất kinh doanh thơng qua việc giảm chi phí vốn cho doanh

nghiệp như đã nêu trên. Trong nhóm hỗ trợ lãi suất này có ba chính sách được đưa

ra: đó là hỗ trợ cho các khoản vay vốn lưu động trong ngắn hạn, hỗ trợ vay vốn

trung và dài hạn, và hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay mua máy móc thiết bị (tối đa

là 24 tháng), vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu

vực nông thôn.

Với các khoản vay ngắn hạn : Hỗ trợ lãi suất với mức 4% trong tối đa là 8 tháng

cho các khoản vay vốn lưu động của các doanh nghiệp không phân biệt thành phần

kinh tế với thời gian hỗ trợ trước 31/12/2009. Loại cho vay được hỗ trợ lãi suất là

45



các khoản tín dụng có thời hạn cho vay trong 12 tháng bằng đồng Việt Nam theo

các hợp đồng tín dụng được ký kết và giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 01

tháng 02 đến 31 tháng 12 năm 2009, trong chính sách hỗ trợ này cũng cho thấy định

hướng hỗ trợ cho khu vực sản xuất kinh doanh khi nêu cụ thể một số ngành dịch vụ

như tài chính và các ngành cơng nghiệp khai thác khơng phải là đối tượng của gói

hỗ trợ lãi suất.

Với các khoản vay trung và dài hạn cũng nhận được mức hỗ trợ lãi suất 4% để

đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh với thời hạn hỗ trợ không quá 24 tháng và

trước 31/12/2011. Như vậy so với chính sách hỗ trợ cho vay ngắn hạn, chính sách

này khơng giới hạn về đối tượng được vay hỗ trợ lãi suất, đồng thời cũng kéo dài

thời gian được hỗ trợ lãi suất.

Chính sách hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục

vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn : áp dụng

đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết, giải ngân trong khoảng

thời gian từ ngày 01 tháng 5 đến ngày 31/12/2009 cho các khoản vay mua máy

móc, thiết bị vật tư phục vụ sản xuất nơng nghiệp và các khoản vay mua vật liệu

xây dựng ở khu vực nông thôn với mức tiền vay tối đa là 100% giá trị hàng hóa

(nhưng khơng q 5 triệu/chiếc đối với vay mua máy vi tính theo vay mua máy

móc, khơng q 07 triệu đồng/ha đối với vay mua vật tư nông nghiệp và không quá

50 triệu đồng đối với vay mua vật liệu xây dựng các 28 loại để làm nhà ở khu vực

nơng thơn). Theo đó, thực hiện hỗ trợ 100% cho các khoản vay mua máy móc , hỗ

trợ 4% lãi suất vay cho các khoản vay mua thiết bị vật tư phục vụ sản xuất nông

nghiệptrong thời gian tối đa là 24 tháng, và hỗ trợ 4% cho các khoản vay mua vật

liệu xây dựng ở khu vực nông thôn trong thời gian tối đa là 12 tháng.

Ngoài ra, cơ chế hỗ trợ lãi suất cũng được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân

vay vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Quỹ Đầu tư phát triển địa phương

(văn bản số 670/TTg-KTTH ngày 05/5/2009); vay vốn của hộ nghèo và các đối

tượng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội (Quyết định số 579/QĐ-TTg

ngày 06/5/2009). Theo quyết định 579 QĐ-TTg ban hành ngày 6/5/2009 về việc hỗ

trợ lãi suất đối với các khoản vay của người nghèo và các đối tượng chính sách khác

tại Ngân hàng Chính sách xã hội, chính phủ sẽ hỗ trợ lãi suất tiền vay là 4%/năm

đối với số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế thuộc các chương trình có lãi suất

đang thực hiện lớn hơn 4%/năm và hỗ trợ toàn bộ lãi suất tiền vay đối với các

khoản vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội thuộc các chương trình có lãi suất đang

thực hiện nhỏ hơn hoặc bằng 4%/năm (lãi suất vay sẽ bằng 0%/năm).



46



Với các khoản bù lãi suất trên, đến kỳ thu lãi, ngân hàng giả trừ 4%sau đó ngân

hàng Nhà nước sẽ hoàn lại số tiền này cho ngân hàng. Không được từ chối hỗ trợ lãi

suất đối với đối tượng được hỗ trợ. Các ngân hàng thực hiện bù lãi suất gồm: ngân

hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh

ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, ngân hàng 100% vốn nước ngồi và

quỹ tín dụng trung ương.

Trần lãi cho vay còn 10,5%/ năm, giảm 50% so với trần lãi suất cách đây hơn

sáu tháng.

Ngân hàng áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với vay tiêu dùng. Lãi suất

vay tiêu dùng không bị khống chế bởi lãi suất cho vay.

Thực hiện bảo lãnh tín dụng: Từ 10/2 ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện bảo

lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn. Doanh nghiệp được bảo lãnh có vốn tối đa 20

tỷ đồng và sử dụng tối đa 500 lao động.

2.2.2. Chính sách tỷ giá

Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh linh hoạt mức tỷ giá mua vào và bán ra. Khi

thị trường ngoại hối dư cầu, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời bán ngoại tệ can thiệp,

hạ nhiệt thị trường. Trong thời điểm thị trường dư cung, Ngân hàng Nhà nước mua

ngoại tệ ở mức hợp lý, đảm bảo tỷ giá không giảm sâu, nhằm thực hiện mục tiêu

kiềm chế nhập siêu.

Ngân hàng Nhà nước luôn theo dõi, bám sát thị trường ngoại hối đồng thời giám

sát, cập nhật thông tin cũng như đánh giá các dòng vốn ra và vốn vào để có thể đưa

ra những chính sách tỷ giá thích hợp, kịp thời. Cụ thể:



 Điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 2% để phản ánh sát hơn cung

cầu thị trường.



 Mở rộng biên độ tỷ giá giao dịch USD/VND từ mức



lên mức



so



với tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố.



 Tăng mạnh lãi suất tập trung nguồn tiền đồng vào hệ thống ngân hàng, kiềm

chế lạm phát và giảm áp lực lên tỷ giá.



 Công bố mức dự trữ ngoại hối nhà nước, tạo long tin thị trường.

 Yêu cầu các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối nghiêm túc chấp

hành biên độ tỷ giá giữa USD và VND, thực hiện liêm yết và giao dịch theo

đúng quy định.



47



 Tăng cường bán ngoại tệ cho các Ngân hàng thương mại để đáp ứng nhu cầu

của nền kinh tế, đáp ứng tối đa các nhu cầu thiết yếu như nhập xăng dầu, thuốc

chữa bệnh,… các nhu cầu hợp lệ cảu cá nhân và hỗ trợ trạng thái cho các Ngân

hàng thương mại.



 u cầu các tổ chức tín dụng kiểm sốt chặt chẽ hoạt động của các đại lý, đảm

bảo thực hiện nghiêm túc các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối.

Từ ngày 7/11/2008, biên độ tỷ giá giao dịch USD/VND mở rộng từ



lên



so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước cơng bố.

2.3.



Nhóm cơng cụ biện pháp khác



Kích cầu đầu tư nước ngồi

Chính phủ đã đề ra 6 nhóm giải pháp cấp bách, chủ yếu để tăng cường thu

hút, sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngồi:

Thứ nhất là nhóm giải pháp liên quan tới chính sách thu hút đầu tư. Chính

phủ chỉ đạo tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách về đầu tư, kinh doanh, ban

hành các chính sách đầu tư vào một số lĩnh vực, thực hiện các biện pháp thúc đẩy

giải ngân…

Thứ hai về quy hoạch. Theo đó cơng bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê

duyệt, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư, quán triệt và thực

hiện thống nhất quy định của Luật đầu tư công trong công tác quy hoạch ….Báo cáo

rà soát quy hoạch trong quý IV/2009.

Thứ ba, là nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng, bao gồm tổng rà soát, điều

chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020, huy

động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, tăng cường năng lực

cạnh tranh…

Thứ tư, trong nhóm giải pháp về nguồn nhân lực, Chính phủ u cầu hồn

thiện các văn bản pháp lý về hợp tác đầu tư trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo, tạo

điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài đào tạo lao động ở các trình độ,

nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

nâng cao trình độ lao động đặc biệt với nông dân bị thu hồi đất sản xuất để giao cho

dự án.



48



Thứ năm là nhóm giải pháp về cơng tác phối hợp trong quản lý nhà nước

với hoạt động ĐTNN. Theo đó, Trung ương và địa phương sẽ phối hợp chặt chẽ

trong việc cấp phép và quản lý các dự án ĐTNN. Tăng cường bồi dưỡng cán bộ

quản lý ĐTNN, tiến hành tổng kết, đánh giá việc phân cấp trong quản lý nhà nước

về ĐTNN.

Thứ sáu, là nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư, gồm nghiên cứu đề xuất

chính sách vận động, thu hút đầu tư với những tập đoàn đa quốc gia cũng như có

chính sách riêng đối với từng tập đồn và đối tượng kinh tế trọng điểm , hồn thành

thơng tin chi tiết về dự án đối với danh mục đầu tư quốc gia kêu gọi đâu tư nước

ngoài giai đoạn 2006-2010, tổ chức khảo sát, xây dựng mơ hình cơ quan xúc tiến

đầu tư ở trung ương và địa phương,

Bên cạnh đó chính phủ cũng đề ra một số giải pháp khác như: đẩy mạnh cải cách

thủ tục hành chính, phòng chơng tham nhũng tiêu cực, …

3. Tình hình thực hiện

Theo NHNN, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đến 24/12/2009 là 412.179,83 tỷ

đồng. Chi tiết về tình dư nợ cho vay HTLS phân chia theo đối tượng như sau: Dư

nợ theo nhóm tổ chức tín dụng: Nhóm NHTM nhà nước và Quỹ tín dụng nhân dân

Trung ương là 274.883,94 tỷ đồng; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là

108.085,31 tỷ đồng; nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

và ngân hàng 100% vốn nước ngồi là 20.747,34 tỷ đồng; cơng ty tài chính là

8.463,24 tỷ đồng, giảm 99,62 tỷ đồng (tương đương giảm 1,16%). Dư nợ phân theo

đối tượng khách hàng vay vốn: Doanh nghiệp nhà nước 59.379,70 tỷ đồng; doanh

nghiệp ngoài nhà nước (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh

nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài …) 287.971,90 tỷ đồng; hộ

sản xuất là 64.828,23 tỷ đồng. Theo báo cáo cuối năm 2009 của Bộ Tài chính, ước

cả năm, tổng số thuế miễn, giản, giảm khoảng 20 tỷ đồng. Đồng thời, đã tiếp tục rà

soát để bãi bỏ khoảng 140 tỷ đồng các khoản phí và lệ phí khác. Trong năm 2009,

chính phủ đã tăng vốn đầu tư cơng để kích cầu nền kinh tế. Cụ thể, ứng trước

31.393 tỷ đồng vốn ngân sách cho các bộ, cơ quan Trung ương, các địa phương, ước

cả năm 2009 giải ngân được khoảng 80-85% vốn ứng trước.

4. Tác động cuả gói kích cầu

4.1.



Tác động tích cực



4.1.1. Tới nền kinh tế chung

* Tăng trưởng kinh tế



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×