Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Nghiên cứu bản kết luận điều tra: Bản kết luận điều tra là văn bản xác nhận kết quả của quá trình hoạt động điều tra, trong đó nêu rõ diễn biến của hành vi phạm tội, các chứng cứ chứng minh tội phạm, nhân thân bị can và quan điểm đề xuất xử lý vụ án của

- Nghiên cứu bản kết luận điều tra: Bản kết luận điều tra là văn bản xác nhận kết quả của quá trình hoạt động điều tra, trong đó nêu rõ diễn biến của hành vi phạm tội, các chứng cứ chứng minh tội phạm, nhân thân bị can và quan điểm đề xuất xử lý vụ án của

Tải bản đầy đủ - 0trang

các chứng cứ chứng minh tội phạm, nhân thân bị can và quan điểm đề xuất xử lý vụ án

của Cơ quan điều tra. Khi nghiên cứu Bản kết luận điều tra kiểm sát viên cần chú ý:

+ Nắm chắc nội dung bản kết luận điều tra như: Vụ án diễn biến như thế nào, thời

gian, địa điểm xảy ra vụ án, hành vi phạm tội cụ thể của bị can, hậu quả, động cơ, mục

đích phạm tội…; họ tên, tuổi, nhân thân, địa chỉ của bị can, quan điểm xử lý vụ án của

Cơ quan điều tra như thế nào, việc đình chỉ điều tra có đúng khơng, thời hạn điều tra có

đảm bảo khơng? Việc tách ra như vậy có đúng các tình tiết của vụ án khơng như thế

nào, việc đình chỉ điều tra như vậy đã đúng chưa?. Việc nắm được nội dung cơ bản vụ

án và các tình tiết của hành vi phạm tội thể hiện trong bản kết luận điều tra giúp cho

Kiểm sát viên có những cơ sở đánh giá bước đầu về tính có căn cứ, tính hợp pháp khi

nghiên cứu các tài liệu tiếp theo.

+ Nghiên cứu kỹ các nội dung về đề nghị truy tố, xem bản kết luận điều tra đã

nêu rõ các chứng cứ đề chứng minh tội phạm chưa? Đã nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị

truy tố chưa? thế nào?. Căn cứ khoản 1 Điều 163 BLTTHS (đối chiếu Điều 233

BLTTHS năm 2015) thì bản kết luận có nêu những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của

Cơ quan điều tra làm sở cho việc truy tố của Viện kiểm sát. Tuy nhiên có trường hợp,

căn cứ bản kết luận điều tra, nhận thức giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát khơng

thống nhất về tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Bởi lẽ, quy định của pháp

luật không bắt buộc cơ quan điều tra phải nêu rõ tội danh và điều, khoản được áp dụng.

- Nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can: Biên bản hỏi cung bị can là văn bản

không những xác định kết quả cụ thể của hoạt động điều tra mà còn là tài liệu, chứng cứ

nhằm làm rõ sự thật về hành vi phạm tội của bị can và đồng phạm. Căn cứ Điều 131 Bộ

luật TTHS (đối chiếu quy định BLTTHS 2015) thì việc hỏi cung bị can do Điều tra viên

hoặc Kiểm sát viên tiến hành. Khi nghiên cứu lời khai của bị can, Kiểm sát viên cần chú

ý các vấn đề sau đây:

+ Nghiên cứu tính hợp pháp của biên bản hỏi cung bị can. Kiểm sát viên căn cứ

các điều 131, 132 BLTTHS (đối chiếu quy định BLTTHS năm 2015) để kểm tra tính

hợp pháp của hoạt động hỏi cung bị can. Để đảm bảo tính hợp pháp của biên bản hỏi

15



cung bị can, Kiểm sát viên cần đối chiếu để xem xét, đánh giá biên bản hỏi cung ấy có

phù hợp với các quy định của pháp luật hay không? Kiểm sát viên phải xem ai là người

hỏi cung, đơn vị, chức vụ; khi hỏi cung đã giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can theo

quy định tại Điều 49 Bộ luật TTHS chưa; thời gian bắt đầu và kết thúc việc hỏi cung,

nếu hỏi vào ban đêm thì người hỏi cung có ghi rõ lý do khơng; nếu biên bản có nhiều

trang thì mỗi trang đã có chữ ký của bị can chưa, nếu hỏi nhiều lần thì mỗi lần hỏi có

ghi rõ lần thứ mấy khơng; các câu hỏi và trả lời đã được ghi đầy đủ chưa. Nếu cuộc hỏi

cung có người bào chữa, phiên dịch hoặc người đại diện hợp pháp tham dự thì người hỏi

cung đã giải thích quyền, nghĩa vụ cho họ như thế nào, cuối bản cung người hỏi cung, bị

can và những người tham gia hỏi cung đã ký vào biên bản như thế nào. Trong trường

hợp người bào chữa hỏi bị can thì Kiểm sát viên cần kiểm tra xem biên bản hỏi cung bị

can đã ghi đầy đủ chưa? Trong trường hợp bị can tự viết lời khai thì cán bộ hỏi và bị can

ký xác nhận ra sao? Trường hợp có băng ghi âm cuộc hỏi cung thì người hỏi cung có

thơng báo cho bị can biết khơng; những chỗ viết thêm, gạch xố đã được người hỏi

cung và bị can ký xác nhận như thế nào. Nếu Kiểm sát viên hỏi cung thì biên bản hỏi

cung cũng được kiểm tra kỹ như trên.

+ Nghiên cứu về tính có căn cứ của biên bản hỏi cung bị can. Để làm rõ tính có

căn cứ của biên bản hỏi cung bị can, Kiểm sát viên cần nắm được tình hình bị can khai

báo như thế nào? (bị can nhận tội, bị can không nhận tội, bị can nhận tội sau đó phản

cung...); tổng hợp xem trong hồ sơ vụ án có bao nhiêu bản cung của bị can, trong đó có

bao nhiêu bản cung bị can nhận tội, bao nhiêu bản cung không nhận tội, thời gian nhận

tội và không nhận tội diễn ra như thế nào. Đây là những tài liệu quan trọng để đối chiếu

với các lời khai của các bị can, người làm chứng khác, qua đó có đánh giá, xem xét q

trình điều tra vụ án diễn ra khách quan như thế nào. Ví dụ, trước khi bắt giam thì bị can

khơng nhận tội, sau khi vào trại giam thì nhận tội, đến khi Kiểm sát viên hỏi cung bị can

lại không nhận tội và khai rằng trong nhà tạm giam bị can bị bức cung. Từ những thông

tin này Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ các bản cung để xem xét tính chính xác của



16



bản cung và dự kiến sắp tới Kiểm sát viên cần hỏi thêm nội dung gì để kết luận về tính

có căn cứ của các biên bản hỏi cung bị can.

Khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can kiểm sát viên cần lưu ý một số trường

hợp sau:

+ Đối với trường hợp bị can nhận tội thì cần kiểm tra xem việc nhận tội đó có nội

dung như thế nào? Các tình tiết đó đã được xác minh ra sao? Kết quả xác minh có phù

hợp với các chứng cứ khác khơng? Nếu các tình tiết của lời khai nhận tội đó đã được

xác minh và phù hợp với các chứng cứ khác thì lời khai đó có cơ sở tin cậy. Đây là tài

liệu, chứng cứ quan trọng của hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, xem xét một

cách toàn diện trong mối quan hệ với các chứng cứ khác.

+ Đối với trường hợp bị can khai nhận tội cho người khác thì Kiểm sát viên phải

nghiên cứu kỹ tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết hợp với các chứng cứ khác để xem xét vị

trí, vai trò của bị can trong vụ án như thế nào. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm

sát viên phải tự đặt các câu hỏi: Tại sao bị can lại khai nhận trách nhiệm về mình? Lời

khai nhận đó đã được xác minh chưa?

+ Đối với trường hợp bị can khơng nhận tội thì Kiểm sát viên cần đọc kỹ các tình

tiết khơng nhận tội như thế nào, các tình tiết đó đã được xác minh chưa? Kết quả xác

minh lời khai không nhận tội đó đã bị các chứng cứ khác bác bỏ như thế nào? Nếu có

căn cứ bác bỏ lời khai khơng chính xác đó thì biên bản hỏi cung bị can cũng cần được

xác định.

Tóm lại: Khi nghiên cứu lời khai của bị can thì dù lời khai đó có nhận tội hay

không nhận tội, Kiểm sát viên phải chú ý xem lời khai đó có căn cứ hay khơng. Chỉ

được coi là chứng cứ khi lời khai đó phù hợp với các chứng cứ khác. Đặc biệt đối với

các lời khai của những bị can không biết chữ, hoặc lời khai của những người bị hạn chế

về thể chất, tinh thần mà nhờ người khác viết thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu thật kỹ

lưỡng các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án để xem việc nhận tội đó có phù hợp với

sự thật khách quan của vụ án không.



17



- Nghiên cứu lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự bị đơn dân sự, người

có quyển lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Căn cứ Điều 137 BLTTHS (đối chiếu quy

định BLTTHS năm 2015) thì việc lấy lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị

đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên

tiến hành và phải được lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật. Khi nghiên cứu

lời khai của những người này Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau:

+ Nghiên cứu tính hợp pháp của biên bản ghi lời khai: Xem người lấy lời khai đã

giải thích quyền và nghĩa vụ của họ chưa, mối quan hệ giữa họ với bị can ra sao, liên

quan với các tình tiết của vụ án như thế nào. Trong trường hợp lời khai của người bị hại,

nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đến 16

tuổi thì cơ quan điều tra đã mời cha, mẹ, người đại diện hợp pháp hoặc thầy giáo, cô

giáo tham gia buổi hỏi cung theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 110 BLTTHS (đối

chiếu quy định BLTTHS năm 2015) chưa? Các lời khai của những người này đã được

người lấy lời khai đọc và cùng ký tên trong các biên bản ghi lời khai như thế nào?.

+ Nghiên cứu tính có căn cứ của lời khai: Nghiên cứu, xem xét việc những người

này khai về diễn biến của hành vi phạm tội như thế nào, nhất là về hành vi phạm tội của

bị can ra sao; đối chiếu với lời khai của bị can và những người làm chứng khác để xem

có tình tiết nào phù hợp, tình tiết nào mâu thuẫn, những mâu thuẫn đó đã được xác minh

và đối chất chưa. Những tình tiết của vụ án phù hợp hoặc khơng phù hợp giữa các lời

khai thì cần được ghi chép kỹ vào bản nghiên cứu để tổng hợp đánh giá đồng thời kiểm

tra kỹ những quan điểm của họ về giải quyết bồi thường thiệt hại ra sao để xem xét việc

bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị

đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Nghiên cứu lời khai của người làm chứng: Căn cứ Điều 55 Bộ luật TTHS (đối

chiếu quy định BLTTHS năm 2015) thì người làm chứng là người biết được những tình

tiết liên quan đến vụ án (có thể trực tiếp hay gián tiếp). Căn cứ Điều 135 BLTTHS (đối

chiếu quy định BLTTHS năm 2015) thì Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên tiến hành lấy lời



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Nghiên cứu bản kết luận điều tra: Bản kết luận điều tra là văn bản xác nhận kết quả của quá trình hoạt động điều tra, trong đó nêu rõ diễn biến của hành vi phạm tội, các chứng cứ chứng minh tội phạm, nhân thân bị can và quan điểm đề xuất xử lý vụ án của

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×