Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Thực trạng về tình hình hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2 Thực trạng về tình hình hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

phép số 01/GPĐT-UBCKNN ngày 15/7/2003 của UBCKNN (sau được chuyển

đổi thành Công ty Cổ phần quản lý Quỹ đầu tư Việt Nam theo Giấy phép thành

lập và hoạt động số45/UBCK-GP ngày 08/01/2009), là công ty liên doanh đầu tiên

tại Việt Nam chuyên về quản lý QĐT chứng khoán, và quản lý danh mục đầu tư,

với tổng vốn điều lệ100 tỷ đồng do các bên liên doanh góp vốn là Cơng ty Dragon

Capital Management (49%) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương

Tín (Sacombank) (51%). Hiện nay, Cơng ty quản lý quỹVFM đang quản lý tổng tài

sản hơn 5.000 tỷ đồng với hơn 15.000 NĐT là pháp nhân, cá nhân trong và ngồi

nước thơng qua các sản phẩm quỹ:

Quỹ đầu tư chứng khốn Việt Nam (VF1) (có mã giao dịch niêm yết vào

ngày 22/09/2004 trên HOSE là VFMVF1), Quỹ đầu tư tăng trưởng Việt Nam

(VF2), Quỹ đầu tư Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (VF4) (có mã giao dịch

niêm yết vào ngày 03/06/2008 trên HOSE là VFMVF4), Quỹ đầu tư năng động

(VFA) (có mã giao dịch niêm yết vào ngày 09/07/2010 trên HOSE là VFMVFA) và

một số nguồn vốn ủy thác khác.Quỹ đầu tư chứng khoán VF1 :QĐT Việt Nam VF1

là quỹ cơng chúng dạng đóng đầu tiên của Việt Nam, được huy động nguồn vốn

từcá nhân, pháp nhân trong và ngồi nước với quy mơ vốn ban đầu 300 tỷ đồng

vào tháng 4/2004 (tham khảo Phụ lục 05). QĐT VF1 được niêm yết tại

SGDCK TPHCM (trước đây là TTGDCK TPHCM) từ tháng 11/2004

Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1) (có mã giao dịch niêm yết vào

ngày 22/09/2004 trên HOSE là VFMVF1), Quỹđầu tư tăng trưởng Việt Nam

(VF2), Quỹ đầu tư Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (VF4) (có mã giao dịch

niêm yết vào ngày 03/06/2008 trên HOSE là VFMVF4), Quỹ đầu tư năng động

(VFA) (có mã giao dịch niêm yết vào ngày 09/07/2010 trên HOSE là VFMVFA) và

một số nguồn vốn ủy thác khác.Quỹ đầu tư chứng khốn VF1 :QĐT Việt Nam VF1

là quỹ cơng chúng dạng đóng đầu tiên của Việt Nam, được huy động nguồn vốn từ

cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước với quy mô vốn ban đầu 300 tỷ đồng vào

tháng 4/2004 (tham khảo Phụ lục 05). QĐT VF1 được niêm yết tại SGDCK

TPHCM (trước đây là TTGDCK TPHCM) từ tháng 11/2004 .

Bảng 4 : Báo cáo NAV của VF1 qua các năm2004-2010



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

76



Tình hình hoạt động năm 2010 của VF1 suy giảm là do ảnh hưởng chủ yếu

của cổ phiếu niêm yết trên sàn Hà Nội và cổ phiếu chưa niêm yết giảm 11,1%,

đóng góp vào sự sụt giảm NAV 2,1% trong tổng mức giảm 8,2%. Tuy nhiên, 2010

là năm khó khăn đối với hoạt động của tất cả các QĐT nên mức sụt giảm này cũng

nằm trong quỹ đạo chung so với NAV của các quỹ khác hoạt động trên TTCK Việt

Nam

theo báo cáo của tổchức LCF Rothschild (tham khảo Phụ lục 04).

Biểu đồ 3: so sánh NAV của CCQ VF! So với VN Index



2.2.2.2 Công ty Quản lý Quỹ Đầu Tư Prudential Việt Nam ( PVFMC):

Thành lập vào tháng 5/2005, CTQLQ Đầu tư Prudential Vietnam(PVFMC)

là CTQLQ quốc tế hàng đầu với số lượng NĐT lớn nhất tại Việt Nam.PVFMC

áp dụng nguyên tắc đầu tư theo định hướng giá trị trong dài hạn đối với các quỹ và

danh mục đầu tư cho các NĐT cá nhân và NĐT tổ chức trong và ngoài nước.

Ngoài việc quản lý tài sản của Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Prudential Việt

Nam, PVFMC đang quản lý quỹ đại chúng PRUBF1 được thành lập ngày

05/10/2006 với vốn điều lệ là 500 tỷ đồng (thao khảo Phụ lục 08) và Chứng chỉ

QĐT cân bằng Prudential (PRUBF1) đã được chào bán ra công chúng bắt đầu từ

ngày 24/07/2006.Cơ cấu danh mục đầu tư chủ yếu hiện nay của PRUBF1 chủ yếu

tập trung vào Cổ phiếu (37%), trái phiếu (61%) và tiền gửi có kỳ hạn (1%). Trong

đó danh mục cổ phiếu chủ yếu của nhóm ngành tiêu dùng (26,4%), xây dựng

(22,8%) và tài chính (18,4%

Thị giá của chứng chỉ quỹ PRUBF1 có xu hướng giảm dần gần về cuối năm

2010 do tác động khách quan của nền kinh tế khi Chính phủ tăng lãi suất để kiềm

chế lạm phát. NAV của PRUBF1 tính đến cuối năm 2010 là 435,5 tỷ đồng, tương



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

77



ứng NAV/Ccq của PRUBF1 là 8.711đồng/ccq. Điều này cho thấy thị trường thứ

cấp đã ảnh hưởng mạnh đến thị giá giao dịch của PRUBF1 và ảnh hưởng đến giá trị

của QĐT nói chung, khơng chỉ của riêng quỹ PRUBF1.

2.2.3 Đánh giá sơ lược tình hình hoạt động của các Cơng ty Quản lý Quỹ và

QĐT Chứng khốn nước ngồi tại Việt Nam

Kể từ khi Việt Nam tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng thị

trường, mở cửa với thế giới, nhiều làn sóng đầu tư nước ngồi đổ vào Việt Nam.

Làn sóng đầu tư gián tiếp thứ nhất của các QĐTnước ngoài xuất hiện nhưng

cũng đi vào bế tắc vào giai đoạn cuối những năm 90, giai đoạn chập chững

bước vào ngưỡng cửa của hội nhập. Làn sóng thứ hai hình thành từ năm 2002,

góp phần làm thay đổi diện mạo của đất nước, bước đầu gặt hái được thành công.

Và đặc biệt sau khi cánh cửa của hội nhập đã rộng mở, Việt Nam đã là thành

viên của một tổ chức thương mại quy mô tồn cầu, khi thịtrường Việt Nam

hòa chung vào thị trường thế giới, làn sóng đầu tư càng trở nên ồ ạt và đáng chú ý

hơn nữa.

QĐT nước ngoài ở Việt Nam –làn sóng thứnhất (giai đoạn 1990 -2002)

Lịch sử đã ghi nhận làn sóng đầu tư gián tiếp đầu tiên đã xuất hiện tại Việt

Nam từ những năm đầu của thập kỉ 90 với sự xuất hiện của 7 QĐT nước ngoài,

tổng lượng vốn huy động được khoảng hơn 300 triệu USD.

Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 đã khiến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước

ngồi (FDI), đặc biệt là từ khu vực Châu Á lập tức đổ vào Việt Nam, chủ yếu là

thông qua liên doanh với các DNNN bằng cách tài trợ cho ngành sản xuất thay thế

hàng nhập khẩu và các ngành phi thương mại khác. Sau đó là Khốn 10 ban hành

năm 1987 đã cởi trói cho nơng nghiệp, biến Việt Nam thành nước xuất khẩu gạo

lớn kể từ năm 1989, là quyết định tự do hóa giá cả của hầu hết các hàng hóa, bẻ

ngoặt lịch sử kinh tế Việt Nam theo hướng thị trường. Quan hệ bình thường hóa với

Trung Quốc (1991), ASEAN và Hoa Kỳ (1995) tạo điều kiện cho Việt Nam mở

rộng xuất khẩu vươn xa khỏi thị trường nội địa bé nhỏ trước đây. Chính nhờ các

động thái mở cửa và hội nhập của Việt Nam như vậy mà nhiều QĐT nước ngoài đã

thành lập và hoạt động ở nước ta từ năm1990 như: Vietnam Fund, Vietnam Keppel

Fund, Beta Vietnam Fund...

Bảng 5 -Tóm lược Quỹ Đầu Tư nước ngồi giai đoạn 1990-2002

QĐT



CTQLQ



Thành lập



Vietnam Fund (VF)



Vietnam Fund Management

Company Ltd



10/1991



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

78



Vốn (triệu

USD)

61,3



Beta FundLTD

(BVNF)

Templetion Vietnam

Opportunities Fund

Ltd

Vietnam Frontier

Fund Ltd (VFF)

Vietnam Enterprise

Investment Ltd

(VEIL)

Lazard Vietnam

Fund Ltd (LVF)

Tổng cộng



Indochina Asset

Management Ltd (ICAM)

Templetion Vietnam

Opportunities Fund Inc



09/1993



80



09/1994



104



Finansa Ltd



06/1994



25



Enterprise Investment

Management Ltd (thuộc

Dragon Capital)

Lazard Manegement

Company



04/1995



16,39



04/1995



63

349,7



Nguồn: www.saga.com

QĐT nước ngoài ở Việt Nam –Làn sóng thứ hai (giai đoạn 2002 -2006)

Làn sóng thứ hai khởi động lại từ năm 2002 với sự thành lập của gần 20

QĐT nước ngoài với tổng số vốn 20 tỷ USD. Bắt đầu là sự xuất hiện của Mekong

Enterprise Fund với số vốn 18,5 triệu USD. Ngay sau đó VinaCapital và một số

cơng ty quản lý khác đã vào cuộc với việc công bố thành lập các quỹ mới và

hướng mục tiêu đầu tư vào nhiều lĩnh vực đa dạng. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư của

các quỹ này khá thầm lặng do tâm lý khá e ngại và còn băn khoăn về sự thành cơng

của mơ hình này, vì vậy các NĐT mới chỉ dám bỏ các khoản đầu tư nhỏ nhằm thăm

dò thị trường. Cho đến tận năm 2005, vốn đầu tư gián tiếp (FII) mới chỉ đạt khoảng

1% so với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). So với các nước khác trong khu

vực, con số đầu tư gián tiếp của Việt Nam tương đối mờ nhạt và phần lớn cũng chỉ

tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Đến 2006, cùng với sự phát triển của TTCK,giờ đây, làn sóng đầu tư gián

tiếp đã được hình thành và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Vào thời điểm cuối năm

2006, BộTài Chính cho biết đã có trên 20 tỷ USD đầu tư vào Việt Nam trong đó

vốn đầu tư gián tiếp là trên 2 tỷ. Cao điểm của làn sóng đầu tư này bắt đầu vào

thời điểm giữa năm 2006, khi CTQLQ VinaCapital khai trương quỹ bất động sản

Vinaland. Số tiền mà các NĐTNN góp vào quỹ này lên tới 65 triệu USD, vượt

qua mức dự kiến ban đầu 15 là triệu USD. Thêm vào đó VinaCapital còn nổ lực

giải ngân số tiền còn lại trị giá 50 triệu USD trong quỹ Vietnam

Opportunities Fund (VOF) với hướng chính là đầu tư vào thị trường OTC và

lĩnh vực địa ốc. Mảnh đất của các QĐT đã đông dần thêm khi liên tiếp các quỹ mới



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

79



ra đời. Ngoài VEIL (vốn 190 triệu USD) và VGF (vốn 90 triệu USD), Dragon

Capital còn chào đón thêm quỹ thành viên thứ ba VDF (Vietnam Dragon Fund)

với số vốn 35 triệu USD. Không hề kém cạnh, Mekong Capital cũng đẩy mạnh

đầu tư số vốn 18.5 triệu USD của Mekong Enterprise Fund vào các doanh

nghiệp cổ phần. Indochina Capital sở hữu hai quỹ, một địa ốc với 42 triệu

USD và một chứng khoán với 50 triệu USD.Ngay từ đầu năm 2007,

VinaCapital đã lên kế hoạch thành lập mới một công ty đầu tư bất động sản với

tổng vốn đầu tư lên tới 200 triệu USD để đón đầu các dự án trong lĩnh vực này.

Trong khi đó, nhằm phục vụcho mục tiêu lâu dài trên thị trường bất động sản

Việt Nam, Indochina Capital đã thành lập quỹIndochina Capital Vietnam

Holding Limited và thực hiện đợt phát hành và niêm yết trên TTCK London

với quy mô đầu tư ban đầu là 500 triệu USD. Như vậy có thể nói đây chính là

thời điểm vàng để đầu tư vào thị trường Việt Nam thông qua con đường đầu tư

gián tiếp bởi đây là thời điểm mà thị trường Việt Nam đang hội tụ những yếu tố

hết sức có lợi cho hoạt động đầu tư tìm kiếm lợi nhuận. Chính vì vậy, hàng loạt

NĐT tầm cỡ như Merrill Lynch, Morgan Stanley, Goldman Sachs, JP Morgan

Chase đã bước đầu đã có những hoạt động khảo sát. Ngay tại tổng công ty

Đầu Tư và Kinh Doanh Vốn Nhà Nước (SCIC) đã có khơng ít các buổi làm

việc với các tập đoàn lớn về cơ hội đầu tư ở Việt Nam. Một số các tổ chức tập

đồn tài chính hàng đầu của Mỹ như Citigroup cũng đã ký biên bản ghi nhớ

(MOU) về hợp tác chiến lược với Ngân hàng Đơng Á. Theo đó, Đơng Á coi

Citigroup như đối tác chiến lược (kể cả về mặt đầu tư). Thuỵ Sĩ trong giai đoạn

này cũng bắt đầu quan tâm đến thị trường tài chính Việt Nam, cụ thể như

QĐT Vietnam Holding của Thuỵ Sĩ với số vốn 112,5 triệu đô la Mỹ đã bỏ

tiền vào các doanh nghiệp cổ phần hố,...

QĐT nước ngồi ở Việt Nam –Làn sóng thứ ba :

Năm 2010, thị trường lại một lần nữa đối mặt với những thách thức mới.

Về cơ bản, các yếu tố kinh tế từ bên ngoài đã gây nên những tác động tâm lý

tiêu cực đến với các thành viên trên thị trường. Tuy nhiên, Việt Nam đã có

những biện pháp xử lý phù hợp và quyết liệt về các vấn đề lạm phát, lãi

suất, tỷ giá... Mặc dù thế giới còn nhiều khó khăn, nhưng thị trường vẫn đang

phát triển. Vậy nên trong sự phát triển đó, sự ra đi của một số dòng vốn

trong giai đoạn vừa qua có thể là do ảnh hưởng từ yếu tốtâm lý. Trong khi tại

châu Âu, nền kinh tế đang lắng dịu trở lại. Mỹ đang cố gắng kết hợp giải

quyết vấn đề phát triển kinh tế với vấn đề việc làm, thì Việt Nam có ổn định

chính trị, ổn định kinh tế, có những biện pháp định hướng đưa ra là tương

đối chính xác. Sự tăng trưởng đều đặn của Việt Nam vẫn là tiềm năng

thực sự. Chính vì vậy các QĐT nào tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

80



thì chắc chắn lợi ích của họ còn tốt, còn phát triển. Giai đoạn tới đây, Dragon

Capital dự báo TTCK Việt Nam sẽ có “làn sóng thứ ba” phát triển kể từ

năm 2011 trở về sau. Tuy nhiên, các điều này sẽ gắn với những định hướng và

điều hành chính sách của Chính phủViệt Nam trong q trình tiếp tục cổphần

hố các doanh nghiệp nhà nước, tiếp tục tái cơ cấu các doanh nghiệp không

hiệu quả.

2.3 Những thành tựu và hạn chế của ngành cơng nghiệp Quỹ ở Việt Nam

2.3.1 Thành tựu

Thứ nhất:QĐT hình thành và ngày càng phát triển góp phần bình ổn và kích

thích hoạt động TTCK.

Những QĐT đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng đầu những

năm 1990 chỉ với 8 QĐT và lượng vốn huy động là 700 triệu USD. Nhưng bắt đầu

từ giữa năm 2006 cùng với những biến đổi tích cực và mạnh mẽ của TTCK,

hệ thống tài chính Việt Nam đã ghi nhận giai đoạn bùng nổ các QĐT và

CTQLQ. Chỉ riêng trong 2 năm 2006-2007 đã có khoảng 20 QĐT được mở mới và

UBCKNN cũng cấp giấy phép hoạt động cho 17 CTQLQ với quy mơ vốn cũng

tăng lên tương ứng.

Cho đến hiện nay thì số lượng CTQLQ đã tăng gần gấp 3 lần gồm 47

CTQLQ và 24 QĐT (5 quỹ đại chúng và 19 quỹ thành viên) với tổng tài sản gần

72.000 ngàn tỷ đồng; cùng 29 văn phòng đại diện đang hoạt động.

Thứ hai: Hiệu quả huy động vốn và vận hành của QĐT tạo cơ sở cho hoạt

động sôi nổi của TTCK, kích thích phát triển kinh tếViệt Nam

Nhiều đợt huy động vốn cả trong và ngoài nước đều tăng kỳ vọng điển hình

như sự kiện VinaCapital khai trương QĐT bất động sản Vinaland với dự kiến

huy động 50 triệu USD nhưng đã nhận được 65 triệu USD từ các NĐT hay thành

công trong lần phát hành và niêm yết trên TTCK London của Indochina Capital

Vietnam Holding Limited thể hiện tính sẵn sàng của các dòng vốn cho thị trường

Việt Nam.

Với nguồn lực tài chính dồi dào và hình ảnh hấp dẫn, các QĐT tại

Việt Nam (cả trong nước và quốc tế) không gặp trở ngại nào trong việc tập

hợp và xây dựng đội ngũ chuyên môn sáng giá nhất trên thị trường. Nhiều

QĐT vận hành hiệu quả nhờ có đội ngũ quản lý kinh nghiệm và am hiểu thị

trường. Chính nhờ tính chun nghiệp trong hoạt động đầu tư của mình, QĐT đã

nhiều lúc phát huy được vai trò đầu tàu của mình giúp bình ổn TTCK trong

những lúc thị trường cần được điều chỉnh, góp phần củng cố và cải thiện tình hình

bất ổn của TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Thứ ba: QĐT giúp khơi thơng và duy trì nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước

ngồi (FII) vào Việt Nam



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

81



Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) gia tăng mạnh mẽ sau khi TTCK

đi vào hoạt động, đặc biệt trong giai đoạn 2006-2007 ước đạt khoảng 11-12 tỷ USD

và riêng năm 2007 đạt 5,7 tỷ USD_chiếm hơn 50% tổng vốn nước ngoài vào Việt

Nam (theo báo cáo của ngân hàng ANZ) thông qua phần lớn hoạt động của

các QĐT nước ngoài ởViệt Nam đã giúp khơi thông nguồn vốn này, và ngược lại

lĩnh vực hoạt động của các QĐT nước ngoài ở Việt Nam cũng thay đổi.

Những QĐT trong những năm sau này được thành lập vì các NĐTNN đã

nhận thấy tiềm năng phát triển lớn của TTCK Việt Nam qua chính sách cổ

phần hóa các DNNN có quy mơ lớn sẽ được đẩy mạnh thực hiện. Nhờ đó, nguồn

vốn FII tìm được điểm đến ở Việt Nam và thông qua QĐT, nguồn vốn này tiếp tục

được khơi thơng, duy trì và đảm bảo hơn.

Tuy nguồn vốn này có sự sụt giảm trong những năm gần đây nhưng với vai

trò quan trọng của mình, nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngồi FII luôn được Nhà

nước quan tâm và nổ lực cải thiện cơ chế, chính sách, mơi trường đầu tư để thu hút.

Ngành cơng nghiệp quỹ nhờ đó cũng sẽ tạo được những bước đi đột phá trong giai

đoạn sắp tới, giúp nguồn vốn này đầu tư có hiệu quả và duy trì lâu dài, tạo sự ổn

định bền vững cho TTCK nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung.

Thứ tư: Sự đổ bộ của các QĐT nước ngoài tạo cơ hội cho các QĐT và các tổ

chức, cá nhân trong nước học hỏi kinh nghiệm đầu tư chuyên nghiệp.Các hoạt động

đầu tư của các QĐT nước ngoài trên thị trường tạo cơ hội cho các QĐT trong nước

học hỏi kinh nghiệm từ cơ cấu tổ chức, quản lý hay định hướng đầu tư cũng như

khi quyết định thành lập và niêm yết chứng chỉ quỹ ở nước ngoài, hay như việc

các QĐT nước ngoài biết cách tận dụng ưu đãi thuế ở các quốc gia khuyến khích

thành lập quỹ ở nước họ để tận dụng các ưu đãi như thế nào. Đội ngũ quản lý các

NĐTNN khi tham gia liên doanh hay hoạt động trên thị trường Việt Nam cũng giúp

cho các nhà quản lý Việt Nam tiếp cận với bên ngoài và tăng cường khả năng quản

lý, tận dụng được nhiều cơ hội đầu tư, học hỏi được các hình thức đầu tư trên thị

trường cũng như phát triển được các mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, phòng ngừa rủi

ro hiệu quả.

2.3.2 Hạn chế của ngành cơng nghiệp Quỹ ở Việt Nam

Quy mô và số lượng vốn quản lý của các QĐT trong nước còn nhỏ bé

Từ tháng 3/2008 tới nay, cùng với suy thoái kinh tế tồn cầu, tình hình huy

động quỹ trong nước của các CTQLQ gặp rất nhiều khó khăn. Chỉ có 3 QĐT

được thành lập trong năm 2010 với tổng số vốn huy động 800 tỷ đồng. Trong số

47 CTQLQ thành lập theo Luật Chứng khốn, chỉ có 13 cơng ty lập được quỹ

trong nước và thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ, còn các CTQLQ khác chủ yếu

chỉ cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư cho các NĐT trong và ngồi nước.

Về tính chất nguồn vốn, 23 QĐT trong nước chủ yếu huy động nguồn vốn nội địa,



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

82



duy nhất QĐT thành viên của CTCP QLQ đầu tư FPT có hơn 51% vốn góp từ

NĐTNN.

Bên cạnh đó, trong 23 QĐT chỉ có 5 quỹ đại chúng và 18 quỹ thành viên,

thực tế cho thấy các quỹ trong nước muốn thành lập quỹ thành viên hơn là quỹ đại

chúng do sự tiện lợi và nhanh chóng trong thể chế, chính sách cũng như dễ dàng

huy động vốn từ các NĐT thành viên hơn là các NĐT đại chúng. Như vậy, số lượng

các quỹ đại chúng vẫn còn rất hạn chế trên thị trường quỹ Việt Nam.

Loại hình QĐT đang hoạt động ở Việt Nam chưa đa dạng, phong phú

Do các hạn chế về thể chế chính sách hay một số nguyên nhân khách quan

khác mà các loại hình QĐT hiện nay ở Việt Nam thực sự chưa đa dạng va

phong phú như trên thị trường quỹ của nước ngoài

Huy động nguồn vốn đầu tư từ NĐTNN để thành lập quỹ trong nước gặp

nhiều trở ngại

Nếu giai đoạn từ 2007 trở về trước các QĐT trong nước rất thành cơng trong

việc nhanh chóng huy động được vốn để thành lập quỹ thì trong 03 năm trở lại đây

việc huy động vốn từ các NĐT trong nước trở nên hết sức khó khăn do sự thiếu

hụt vốn của các tổ chức nội địa, áp lực lãi suất cao và diễn biến TTCK kém hấp

dẫn.Khi NĐT chọn lựa giữa vhình thức (1) đầu tư vào quỹ trong nước thành lập

theo Luật Chứng khoán à (2) đầu tư với tư cách một NĐTNN đầu tư gián tiếp vào

Việt Nam thì họ sẽ lựa chọn phương án thứ hai. Bên cạnh các nguyên nhân chủ

quan là bản thân hoạt động của các CTQLQ trong nước còn chưa thực sự hiệu quả,

thiếu chuyên nghiệp và thiếu kinh nghiệm quản lý vốn do sự non trẻcủa TTCK

trong nước, các nguyên nhân khách quan về trở ngại của môi trường đầu tư đã

hạn chế các NĐTNN đầu tư vào quỹ trong nước.

Những rào cản về các quy định pháp lý

Quỹ thành viên được hiểu là quỹ thành lập dựa trên ý chí của các thành

viên về mục tiêu, chính sách đầu tư cũng như các điều kiện và điều khoản khác.

Theo thông lệ quốc tế, CTQLQ đăng ký thành lập quỹ thành viên và trên cơ sở

các điều khoản quỹ đã được xác nhận đăng ký để kêu gọi các NĐT góp vốn.

Tại Việt Nam, quy trình gần như ngược lại, hồ sơ thành lập quỹ yêu cầu có danh

sách các thành viên góp vốn, biên bản thỏa thuận góp vốn và giấy xác nhận của

ngân hàng lưu ký về quy mô vốn đã huy động. Đối với NĐTNN, cam kết góp

vốn và việc nộp tiền chỉ áp dụng với quỹ đã được pháp luật xác nhận thành lập.

Còn với UBCK Việt Nam, quỹ chỉ được xác nhận thành lập khi có đủ cam kết

góp vốn của NĐT. Sự khác nhau này tạo ra mâu thuẫn và đặt ra câu hỏi “con gà

– quả trứng” đối với các NĐT.

Mặt khác, NĐTNN đầu tư vào quỹ trong nước còn gặp nhiều khó khăn

khác về mặt giấy tờ, thủ tục, phải có báo cáo tài chính chứng minh năng



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

83



lực của NĐT. Ngoài ra, quy định hiện hành chỉ cho phép thành lập quỹ

đóng, theo đó, NĐT khơng được rút vốn trước khi hết thời hạn của quỹ. Các quy

định về quỹ mở đang được xây dựng nhưng với tốc độ rất chậm và còn nhiều

điểm vướng mắc, các CTQLQ chắc còn phải chờ đợi để các quy định này đi

vào thực tế.

Rủi ro tỷ giá

Rủi ro tỷ giá cũng là một trong những quan ngại của NĐTNN khi xem xét

đầu tư vào quỹ trong nước do họ phải góp vốn hồn tồn bằng tiền Việt Nam ngay

khi quỹ được thành lập. Thời gian giải ngân của quỹ thường kéo dài từ 6

tháng tới 2 năm, tùy thuộc vào mục tiêu đầu tư và tình hình thị trường. Trong khi,

nếu đầu tư dưới hình thức 2, NĐT khơng bắt buộc phải chuyển đổi tồn bộ ngoại

tệ ngay khi bắt đầu đầu tư mà có thể chuyển đổi từng phần để giải ngân theo tiến

độ đầu tư. Ngồi ra, việc khơng được rút vốn trước hạn cũng gây quan ngại về rủi

ro tỷ giá.

Rào cản về thuế

Đối với trường hợp NĐTNN đầu tư vào Việt Nam theo hình thức 1 (theo

hướng dẫn tại Cơng văn số10945/BTC-TCT ngày 19/8/2010) mức thuế phải chịu

trên lợi nhuận thu về là 25%. Ngược lại, nếu đầu tư theo hình thức 2, NĐT sẽchịu

mức thuế khoán là 0,1% trên tổng giá trị giao dịch bán (theo hướng dẫn tại Thông

tư số 72/2006/TT-BTC).Giả thiết, NĐT tổ chức nước ngồi có vốn đầu tư 100

tỷđồng đầu tư tại Việt Nam theo hình thức 2, giao dịch với tần suất cao, tổng giá trị

bán trong năm gầp 12 lần vốn gốc ban đầu. Như vậy, tổng giá trịthuếphải nộp trong

năm là: 1.200 x 0,1% = 1,2 tỷ đồng.

Tương tự, trong trường hợp khác, NĐT này tham gia đầu tư vào một quỹ

trong nước, giả thiết lãi 15%/năm (mức tối thiểu mà các NĐTNN thường yêu

cầu). Khi đó, thuế đánh vào lợi nhuận từ đầu tư quỹ này là 100 x 15% x 25% = 3,75

tỷ đồng.

Sự chênh lệch này cho thấy, trừ khi QĐT trong nước bị lỗ hoặc lãi dưới

5%/năm (thuế là 1,2 tỷ đồng tính theo hình thức 1) thì NĐT theo phương thức 1

mới được lợi so với phương thức 2. Mà đây là điều không NĐT và CTQLQ nào

mong muốn.

Chính những trở ngại trên đã làm cho bài tốn huy động vốn nước ngoài để

thành lập quỹ trong nước của các CTQLQ trở nên nan giải trong suốt thời gian qua.

Huy động vốn và niêm yết CCQ trên TTCK nước ngồi còn chưa phổ biến

đối với các QĐT trong nước

Cũng giống như trường hợp huy động vốn của các NĐTNN cho việc thành

lập các quỹ trong nước, việc huy động vốn và niêm yết CCQ trên TTCK nước

ngoài cũng gặp nhiều trở ngại đối với các quỹ trong nước. Hiện nay, chỉ mới có



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

84



Luật Chứng khốn có hiệu lực từ 1/1/2007, Nghị định 14/2007/NĐ-CP do Thủ

tướng Chính phủ ký ban hành tại đó có một số điều quy định về việc chào bán và

niêm yết chứng khốn ở nước ngồi cho các tổ chức Việt Nam. Ngồi ra, các QĐT

phải đảm bảo được tính minh bạch thông tin, cũng như đáp ứng được các chuẩn

mực quốc tế khi tham gia niêm yết ở nước ngoài và có các hoạt động giao dịch trên

thị trường này.

Bên cạnh đó, khó khăn lớn nhất ngăn cản việc niêm yết trên các TTCK nước

ngoài là phát triển là sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực

kế tốn quốc tế. Các khó khăn khác có thể kể đến là: rào cản ngôn ngữ, chuẩn mực

về quản trị doanh nghiệp, cũng như mức độ hiểu biết về những thị trường này,..

Đồng thời, việc áp dụng chế độ quản trị cũng như việc tuân thủ công bố thông tin

cũng chưa thực sự được làm quen với các tổ chức trong nước.

Động cơ thối vốn, đóng quỹ của các QĐT

Sự tham gia của các QĐT được đánh giá là tăng tính chuyên nghiệp cho

TTCK. Tuy nhiên trong trường hợp các NĐT bất ngờ yêu cầu thoái vốn hay đóng

quỹ sẽ gây ảnh hưởng khơng nhỏ đến hoạt động của thị trường và gây tâm lý hoang

mang cho các NĐT khác vì liệu rằng một QĐT thối vốn đóng quỹ có thể dẫn đến

điều tương tự cho các QĐT khác đang hoạt động tại thị trường Việt Nam. Bên cạnh

việc thối vốn thì hạn chế khác của QĐT là hạn chế về thời gian hoạt động của quỹ.

Đến năm 2013 sẽ có một số quỹ sẽ chấm dứt thời gian hoạt động tại Việt Nam như

quỹ Quỹ đầu tư Prudential, và với việc TTCK gặp nhiều khó khăn như hiện nay

làm các quỹ hầu như khơng có hoạt động giải ngân đáng kể nào nhằm bảo toàn

vốn. Như vậy, liệu các CQLQ có tiếp tục thực hiện chu kỳ đầu tư dài hạn mới khi

nhiều thành viên góp vốn có ý định rút vốn về vào năm 2013? Đây cũng là một vấn

đề cần phải xem xét của các QĐT nói riêng và thị trường nói chung.

Một số hạn chế khác

Mơi trường kinh tế, chính trị thế giới chưa ổn định

Với các bất ổn về kinh tế, chính trị thế giới như hiện nay, các QĐT dài hạn

do ngại rủi ro sẽ rất thận trọng khi đầu tư vào bất kỳ quốc gia nào kể cả Việt Nam

(dù được đánh giá cao ở tiềm năng thu hút), có chăng chỉ là các Quỹ đầu cơ (hedge

fund) với xu hướng đầu tư ngắn hạn và thiên về lợi nhuận, không cam kết gắn bó

lâu dài với thị trường Việt Nam. Vì vậy, bước đi của Việt Nam trong dài hạn là cần

ổn định hơn nữa nền kinh tế, cũng như đánh giá tín nhiệm lại hệ thống ngân hàng

để lơi kéo các QĐT lớn, đầu tư dài hạn vào Việt Nam.Mặt khác, về mặt vi mơ Việt

Nam cũng còn những hạn chế, cụ thể là đưa tiền vào Việt Nam còn khó khăn, vì

phải xin phép, xin cấp mã số, khi có mã số lại vướng “room” (tỷ lệ đầu tư tối đa),

những công ty lớn lại hết “room”. Mặt khác dòng vốn ra vào Việt Nam lúc này

khơng chỉ được quyết định bởi tình hình Việt Nam mà là tình hình tồn cầu. Phải



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

85



nhìn vào hệ thống tài chính tồn cầu. Gánh nặng bội chi ngân sách lớn chưa từng

thấy ở Mỹ và Châu Âu. Tổng cầu của thế giới chưa phục hồi, nếu có chỉ là cầu ở

khu vực cơng. Chính phủ các nước phải bơm tiền ra để kích cầu...

Hành lang pháp luật

Có thểthấy hành lang pháp luật của Việt Nam đang được cải tổnhưng

thực tếnó ln khơng theo kịp diễn biến của thị trường. Giới hạn của Luật doanh

nghiệp chỉ cho phép các đối tác nước ngoài được nắm giữ tối đa 49% cổ phiếu của

một cơng ty. Do đó, tác động của họ với đối tác đầu tư hồn tồn khơng đủ mạnh.

Bên cạnh đó, các điều luật về chứng khốn, tài chính, ngân hàng có liên quan

cũng đều khơng đồng bộ. Tất cả những bất cập đó khiến các QĐT phải hoạt động

trong một hành lang pháp lý hẹp.

Sự phát triển của thị trường mới nổi khác

Trước đây các NĐT rất háo hức tham gia vào thị trường Việt Nam, coi đây là

một thị trường mới nổi đầy tiềm năng. Nhưng sau một thời gian hoạt động

không hiệu quả, bên cạnh đó lại xuất hiện nhiều thịtrường mới nổi khác có

mơi trường đầu tư thuận lợi hơn nhiều so với Việt Nam, nên đã buộc các NĐT phải

cân nhắc lại quyết định đầu tư của mình.

Hoạt động của TTCK

Hoạt động của các QĐT có hiệu quả, có mang lại lợi nhuận hay không phụ

thuộc vào sự sôi động của TTCK. Trong khi đó,nhịp độ hoạt động trên TTCK lại

là hệ quả của sự tham gia của các doanh nghiệp và sự quan tâm của công

chúng đầu tư vào TTCK. Nhiều doanh nghiệp cho rằng họ vẫn chưa thực sự có

nhu cầu huy động vốn dài hạn thơng qua TTCK.

Vềphía cơng chúng, họ ngại môi trường kinh tế không ổn định dễ phát sinh

rủi ro khi đầu tư vào chứng khốn

Chính sách thu hút đầu tư

Các QĐT nước ngồi ln nhắm đến TTCK và mong muốn đầu tư vào các

cổ phiếu niêm yết hoặc sắp được niêm yết vì chất lượng và tính thanh khoản cao

của thị trường này. Q trình đầu tư gián tiếp này còn giúp họ tiết kiệm được

thời gian nghiên cứu cơ hội và giảm thiểu chi phí đầu tư so với đầu tư trực tiếp

trong khi vẫn đóng góp được vốn và kinh nghiệm quản trị cho các doanh nghiệp

đầu tư. Các nhà quản lý hình đang dần hồn thiện, cải cách chính sách thơng thống

để thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp này nhưng vẫn chưa thật sự triệt để.

Nhân lực

Trong một vài trường hợp, tuyển dụng các nhà quản lý dựa trên mối quan hệ

cá nhân ở Việt Nam với kết quả là người quản lý không phù hợp với các tiêu chuẩn.

Một số trường hợp khác, người điều hành được tuyển do các công ty săn đầu người



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

86



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Thực trạng về tình hình hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×