Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III/3. THỊ TRƯỜNG CHỨNG CHỈ QUỸ ĐẦU TƯ

III/3. THỊ TRƯỜNG CHỨNG CHỈ QUỸ ĐẦU TƯ

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.3.1 Thị trường chứng chỉ quỹ tại các nước phát triển

a/Quỹ đầu tư tại Mỹ

Mặc dù có gốc gác từ Châu Âu, nhưng Mỹ lại là nơi các quỹ đầu tư phát

triển mạnh mẽ nhất. Quỹ đầu tư chính thức đầu tiên xuất hiện ở Mỹ vào năm 1924,

có tên gọi là Massachusetts investor trust, với quy mô ban đầu là 50.000 USD để

một năm sau tăng lên 392.000 USD với sự tham gia của trên 200 nhà đầu tư.

Tại Mỹ, các quỹ đầu tư hoạt động theo 2 mô hình phổ biến là mơ hình cơng

ty và mơ hình tín thác. Trong đó mơ hình cơng ty là mơ hình dạng quỹ mở và chiếm

ưu thế hơn cả khoảng 90% số lượng quỹ đầu tư.Mơ hình tín thác đầu tư là một dạng

công ty đầu tư được tổ chức theo kiểu hợp đồng tín thác thay vì lập cơng ty.

Nghiên cứu và tìm hiểu hoạt động của quỹ đầu tư Mỹ có thể thấy: hệ thống

QĐT Mỹ phát triển mạnh mẽ như vậy là do tổ chức và hoạt động của các quỹ được

xây dựng rất chặt chẽ, trách nhiệm và được phân chiaraats rõ ràng phù hợp với trình

độ quản lí quỹ và mục đích đầu tư của quỹ. Bên cạnh đó là một hệ thống pháp luật

liên quan đến TTCK và QĐT rất chặt chẽ và rõ ràng. Điều này chủ yếu là do TTCK

Mỹ nói chung và hệ thống QĐT nói riêng đã hoạt động trong một thời gian rất dài

và qua quá trình hoạt động thực tế đó, hệ thống pháp luật ở Mỹ khơng ngừng được

hoàn thiện đẻ đảm bảo cho các quỹ hoạt động được lành mạnh và hiệu quả, bảo vệ

quyền lợi chính đáng của người đầu tư. Khung pháp lí này có thể giúp ích cho

chúng ta rất nhiều trong q trình xây dựng hệ thống pháp luật cho hoạt động của

quỹ đầu tư Tại Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.

Hai dự luật làm cơ sở căn bản nhất cho hoạt động chứng khoán là luật chứng

khoán(The Securities Act,1933) và luật về SGDCK (the Securities Exchange Act,

1934). Cũng từ Năm 1934, UBCK của Mỹ (SEC) bắt đầu nghiên cứu những bài học

kinh nghiệm rút ra từ cuộc đại suy thoái, soạn thảo và cho ra đời luật công ty đầu tư

(Invesment Company Act,1940). Phần lớn các quỹ đầu tư bắt đầu ra đời hoặc được

tái lập sau năm 1940 để đáp ứng các quy địnhcủa đạo luật này. Đến năm 1995, luật

này lại được sửa đổi nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo an toàn hơn nữa cho

người đầu tư đồng thời cho phép các quỹ được áp dụng các nghiệp vụ đầu tư mới

nhất.

Một loại quỹ đầu tư rất thành cơng trên TTCk tồn cầu là QĐT ETF

(Exchange –Traded Fund). Quỹ ETF đầu tiên hoạt động trên TTCK Mỹ vào năm

1993 và là một trong những định chế phát triển nhanh nhất trong lịch sử các thị

trường tài chính. Kể từ ETF đầu tiên, Toronto Index Participation Shares (TIPS) bắt

đầu giao dịch trên sàn chứng khoán TSE 100, cho đến tháng 5/2008, đã có 680 ETF

tại Mỹ, với trị giá 610 tỷ USD. ETF có những đặc điểm tốt nhât của cổ phiếu, các



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

45



quỹ tương hỗ và những sự ủy thác đầu tư theo đơn vị là một công cụ giao dịch để

thay đổi cách mà chúng ta đang đầu tư. Nhìn chung, ETF là một cỗ máy đầu tư trao

đổi trên TTCK, giống như các cổ phiếu. ETF nắm giữu các tài sản như cổ phiếu

hoặc trái phiếu giao dịch cùng xấp xỉ với một mức giá như giá trị tài sản ròng NAV

với mức giá cơ sở qua mỗi phiên giao dịch trong ngày. Hầu hết ETF đều theo sát

một chỉ số, ví dụ như chỉ số trung bình cơng nghiệp Down Jones hoặc chỉ số S&P

100. Quan trọng hơn cả là hoạt động và/hoặc đầu tư của ETFs không phải là để

(vượt lên trên) chỉ số, kiểm soát chỉ số hoặc thị trường, mà là trùng và lặp lại tuyệt

đối biểu hiện (hoạt động) của các chỉ số cơ sở.

Các QĐT Mỹ được thành lâp với nhiều loại hình khác nhau, chủ yếu là quỹ

tương hỗ với hình thức quỹ tăng trưởng. Luật công ty dầu tư 1940 đã quy định về

việc thành lập và tổ chức quản lí quỹ, đây luật nhằm định hướng cho sự phát triển

các QĐT trên TTCK Mỹ.

b/ Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Singapore



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

46



TTCK Singapore –SGX ra đời vào ngày 1/12/1999, sau khi TTCK Singapore

và thị trường tiền tệ quốc tế Singapore được sáp nhập và được niêm yết thông qua

phát hành ra công chúng và sắp đặt tư nhân ( do Merrill Lynch và trung tâm quản lí

tài sản DBS của Singapore bảo lãnh) vào ngày 23/11/2000. Nền kinh tế tăng trưởng

mạnh, môi trường kinh doanh ổn định và hỗ trợ rất tốt cho NĐT cùng với cơ sở vật

chất hồn thiện, hẹ thống cơng nghệ thơng tin cao cấp, TTCK Sin tăng trưởng rất

mạnh, được coi là cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á, cũng là thị trường có tương

lai phát triển thành trung tâm giao dịch thứ cấp quan trọng của khu vực Châu Á và

một trong những trung tâm kết nối các thị trường chứng khoán của khu vực Châu Á

với các thị trường chứng khốn trên tồn cầu. Sức tăng trưởng của thị trường trái

phiếu Sin dẫn đầu thế giới, với tổng trái phiếu đang lưu hành lớn gấp 3 lần so với 5

năm trước, đạt mức 131 tỷ USD. Đây cũng là trung tâm giao dịch ngoại hối lớn thứ

4 thế giới – trung tâm ngân hàng tư nhân của cả khu vực Châu Á, Châu Âu, Trung

Đông và khu vực có các NĐT cá nhân lớn và Những tên tuổi lớn Như Freddie

mac,Goldman Sách, Ford Motors, toyota Motors,….

Hệ thống giao dịch của SGX kết nối trực tiếp với hệ thống của các cơng ty

chứng khốn thành viên để nhận lệnh trực tiếp qua các kênh khác nhau và khớp

lệnh liên tục.

Bên cạnh đó, SGX có khả năng cung rất nhiều loại sản phẩm đa dạng cho thị

trường và khả năng quản lí và giám sát thị trường một cách rất hiệu quả.

Về mặt nhân sự, phần đông nhân sự trong ban lãnh đạo của SGX đều là

những người đã từng có kinh nghiệmlàm việc nhiều năm tại các định chế tài chính

lớn của thế giới, do đó họ có những kiến thức sâu rộng về thị trường, về nguyện

vọng của các thành viên và NĐT trước khi bước vào vị trí của người quản lí và

giám sát thị trường, khả năng quản lí và giám sát thị trường một cách rất hiệu quả.

Chính vì vậy, họ có thể giúp cho SGX có những quyết định kịp thới để đáp ứng cho

những nhu cầu của NĐT

Với xu thế đó, thị trường QĐT của Sin cũng rất phát triển, đầu tiên phải kể

đến Temassek Holdings Pte Ltd là công ty đầu tư tài chính nhà nước của chính phủ

Sin nắm giữ tồn bộ vốn đầu tư nhà nước trong các công ty cổ phần của Sin. Tổ

chức này đã nắm giữu cổ phần trong nhiều công ty lớn nhất ở Sin như Singtel, DBS

bank,…bên cạnh đócũng nắm giữ vốn đầu tư trong các hình tượng cơng chúng như

Raffles Hotel và Singapore Zoo….Temasek cũng nắm giữ vốn cổ phần trong Sin

Pools, công ty cá độ duy nhất ở Sin. Khoảng một nửa tài sản do tổ chức này nắm

giữ nằm ngoài Sin bao gồm cổ phiếu trong các công ty viến thông như Telekom



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

47



malaysia. Temask cũng nắm giữu cổ phiếu trong các định chế tài chính nước ngồi

như PT bank Danamon ở Indo và NIB Bank ở parkistan. Các cơng ty có liên hệ với

temask cũng giữ một danh sách vốn đầu tư rộng rãi toàn cầu, như quyền sở hữu của

Singtel đối với công ty viễn thông australia optus. Khoảng 75% cổ phần mà temask

nắm giữ ở trong Sin, tổ chức này đang đặt ra mục tiêu cuối cùng giảm tỷ lệ này cho

1/3. 1/3 nữa sẽ được đầu tư vào các thị trường phát triển và 1/3 còn lại dự kiến đầu

tư vào các nền kinh tế đang phát triển

Temask Holding đã hợp tác đầu tư vào VN ở nhiều lĩnh vực như thủy sản,

taxi, xây dựng, phân bón và hợp tác với tổng cơng ty đầu tư và kinh doanh vốn Việt

Nam. Thời gian gần đây nhất là , Temask mua 1100 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi

của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai trong chiến lực đầu tưu vào các thị trường mới nổi

của mình

Ngồi Temask, các QĐT hoạt động TTCK Sin cũng rất đa dạng và phong

phú, đầu tư vào rất nhiều các lĩnh vực khác nhau như Bất động Sản, công nghiệp

tàu biển, trái phiếu trong và ngồi nước, chứng khốn phái sinh… như Sin index

funds…..

1.3.2 Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư ở các nước đang phát triển

a/ Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Trung Quốc

TTCK Trung quốc từ thủa “sơ khai “ được biết đến nhưu một trung tâm giao

dichj của người nước ngoài, cổ phiếu đầu tiên xuất hiện trên thị trường là của nước

ngoài, SGDCK Thượng Hải đầu tieencungx do doanh nghiệp nước ngoài sở hữu

Bắt đầu những năm 70 của thế kỉ 19, bắt đầu xuất hiện cổ phiếu Trung Quốc,

từ đó TTCK có những bước phát triển đầu tiên, chia làm hai giai đoạn phát triển:

Trong thời kỳ xây dựng đất nước đánh dấu bằng sự ra đời của SGDCK thành phó

Thiên Tân được thành lập ngày 1/6/1949 và SGDCK Bắc Kinh ngày 1/2/1950; và

thời kì sau cải cách mở cửa với sự ra đời của SGDCK Thượng Hải và SGDCK

Thâm Quyến, đánh dấu sự hình thành của TTCK tập trung, điểm khởi đầu cho thời

kỳ phát triển vượt bậc của TTCK trung quốc

Tháng 10/1992, UBCK Quốc vụ viện gọi tắt là UBCK cùng cơ quan giám sát

quản lí được thành lập. Năm 1993, Quốc vụ viện ban hành điều lệ giám sát quản lí

giao dịch, phát hành cổ phiếu và điều lệ quản lí trái phiếu của doanh nghiệp, đồng

thời xây dựng thể chế quy luật quy phạm luật chứng khoán một cách cơ bản nhất

Cùng với sự phát triển của TTCK Trung Quốc, nhiều QĐT đã được thành lập

ở TQ với nhiều hình thức đa dạng: quỹ tương hỗ, quỹ dạng đóng, QĐT tư nhân,

QĐT mạo hiểm, Quỹ ETF theo sát chỉ số SSE50 của 50 công ty hàng đầu trung

quốc và được niêm yết tại SGDCK Thượng Hải… các quỹ chủ yếu dầu tư vào các



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

48



tài sản dài hạn, đầu tư ít nhất 80% giá trị tài sản của quỹ vào các công ty TQ bao

gồm công ty có cổ phiếu niêm yết trên TTCK và cơng ty có cổ phiếu giao dịch,

thành lập ở nước ngồi. Đa phần các QĐT ở TQ là quỹ tương hỗ như JF great

China, Mathews China Fund, Alger China-US Growth Fund, … và các quỹ đóng

nhưu Greater China Fund, China Fund Inc,….

b/ Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc

QĐT Hàn Quốc được hình thành từ năm 1969 với mơ hình tương tự như mơ

hình QĐT dạng tín thác. Chính phủ Hàn Quốc quyết định chọn mơ hình này là

nhằm hỗ trợ cho chính phủ trong các chính sách phát triển kinh tế. Bởi vì QĐT mơ

hình tín thác là yếu tố cần thiết trong việc huy động được một lượng vốn khổng lồ

cho tiến trình phát triển kinh tế trong ngắn hạn và đem lại sự ổn định cho thị trường

tài chính thơng qua hoạt dộng dầu tư chứng khoán gián tiếp. Hiện nay, Hàn Quốc

đã cho phép tồn tại cả hai mơ hình tín thác và cơng ty. Có hai loại hình CTQLQ

quản lí các quỹ tín thác đầu tư chứng khốn là cơng ty tín thác đầu tư (invesment

trust company, ITC) và cơng ty quản lí tín thác đầu tư (invesment trust management

company,ITMC).

Hai loại hình cơng ty này chỉ khác biệt nhau về phạm vi hoạt động. ITC được

phép chào bán chứng chỉ đầu tư trực tiếp cho các NĐT thoogn qua mạng lưới chính

của mình, còn ITMC không được trực tiếp bán chứng chỉ cho người đầu tư mà phải

chào bán thoogn qua các đại í là các cơng ty chứng khốn hoặc các ngân hàng.

Khác với Mỹ, ở Hàn Quốc các cơng ty quản lí đảm nhiệm luôn vieejcj bán

các CCQ tới công chúng thông qua hệ thống chi nhánh của cơng ty. Chính nhờ đặc

điểm này mà các CTQLQ ở Hàn Quốc ít chịu ảnh hưởng của các cơng ty chứng

khốn và điều này là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự phát triển đáng kể

của các QĐT ở Hàn Quốc.

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Với tư cách là một nước đi sau, VN có thể tập hợp những kinh nghiệm quý

báu từ các quốc gia có thị trường chứng chỉ quỹ phát triển để áp dụng một cách linh

hoạt, giúp cho hệ thống QĐT có thể phát triển lớn mạnh, phát huy được tối đa tính

ưu việt của mình

Thứ nhất

Chúng ta có thể nhận thấy rằng thị trường phát triển có hệ thống QĐT đã có

một lịch sử phát triển lâu đời, cũng như các thị trường mới nổi có ngành QĐT đang

bắt đầu đi vào quỹ đạo phát triển cũng đều có số lượng người tham gia đầu tư

chứng khốn rất đơng. Tỷ lệ người am hiểu và tự mình trực tiếp kinh doanh chiếm

rất nhỏ, đa số đều thơng qua QĐT. Trong khi đó, ở Việt Nam với tỉ lệ người am

SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

49



hiểu TTCK còn thấp, vốn đầu tư nhỏ thì việc làm cấp bách trước mắt chính là thu

hút đơng đảo dân chúng tham gia đầu tư để giúp cho các hoạt động đầu tư mang

tính xã hội hóa cao

Thứ hai

Khâu đào tạo nguồn nhân lực cho các QĐT cũng phải được chú trọng. Theo

kinh nghiệm của Sin và TQ, để hoạt động đầu tư có hiệu quả điều quan trọng đầu

tiên là chính phủ các nước này đã quan tâm đúng mức đến việc đào tạo nguồn nhân

lực.Việt Nam cần phải tìm ra được những giải pháp có thể xây dựng được một đội

ngũ cán bộ nhân viên khoogn chỉ giỏi về kỹ năng chun mơn mà còn có đạo đức

nghề nghiệp để đảm bảo tính cơng khai, cơng bằng trong thị truowngfvaf cũng để

đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các NĐT.

Thứ ba

Trên TG hiện nay, QĐT đang tồn tại dưới hai mơ hình, mơ hình tín thác và

mơ hình cơng ty. Việc lựa chọn áp dụng mơ hình QĐT nào để phù hợp với điều

kiện kinh tế, hệ thóng pháp luật của từng nước có ý nghãi quan trọng và mang tính

quyết định đến q trình hình thành và phát triển hệ thống QĐT. Đối với thị trường

mới nổi đặc biệt là tại các nước Châu Á, các dạng tín thác được hình thành trước.

Khi hệ thống QĐT đã phát triển tới một trình độ nhất định thì các nước mới áp

dụng mơ hình QĐT dạng cơng ty. Trong khi đó tại các nước phát triển thì lại áp

dụng mơ hình QĐTdạng cơng ty và mơ hình tín thác. Điều này là hồn tàn hợp lí vì

các nước này đã phát triển ở một trình độ cao hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ

nên góp phần tạo nên một cơ chế hình thành và phát triển các QĐT một cách linh

hoạt, tạo ra sự cạnh tranh giũa cácđịnh chế đầu tư. Chính vì vậy với một đặc điểm

tương tự như Hàn, Trung, Malaysia…. Trong buổi đầu hình thành QĐT thì đối với

điều kiện hiện Vn hiện nay, việc lựa chonk mơ hình tín thác sẽ là tối ưu nhất nhưng

đến khi thị trường đi vào ổn định thì mơ hình công ty cần phát triển và mở rộng để

phù hợp với tiêu chí hội nhập kinh tế tồn cầu và hợp tác quốc tế.

Có một điểm giống nhau ở cả thị trường phat triển lẫn thị trường mới nổi là

điểm xuất phá của QĐT là QĐT dạng đóng được hình thành và phát triển trước

QĐT dạng mở. Đặc trưng của quỹ đóng là cơ cấu nguồn vốn ổn định,giúp cho các

tổ chức quản lí quỹ còn ít kinh nghiệm trong thời gian đầu thành lập có thể quản lí

tốt nguồn vốn của mình

Trong điều kiện thị trường tài chính VN còn nhỏ bé, kinh nghiệm thực tiễn

còn hạn chế thì việc hình thành quỹ đóng hay quỹ thành viên là phù hợp nhưng để

thị trường phát triển và hấp dẫn được nhiều NĐT thì cần đa dạng hóa các loại hình

QĐT như quỹ mở, quỹ đầu tư quốc tế…

SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

50



Thứ tư,

Tùy theo hệ thống pháp luật của từng nước mà các QĐT có thể chịu sự quản

lí ở các cấp khác nhau. Tuy nhiên do tầm quan trọng và ảnh hưởng to lớn của các

QĐT trên thị trường tài chính nên đại đa số các nước đều áp dụng việc các quỹ chịu

sự quản lí ở cấp trung ương vd như UBCKNN như Mỹ, Bộ tài chính như Nhật Bản,

Hàn Quốc…. Do mục tiêu đầu tư của các quỹ là vào TTCK nên hợp lí nhất là để

UBCKNN quản lí. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận thấy rằng, ở hầu hết các nước

đều có hệ thống văn bản pháp lý ở cấp độ cao nhất điều chỉnh hoạt động của QĐT,

hay tối thiểu là các chương lớn trong Luật chứng khốn. Chính vì vậy, đối với loại

hình hết sức phức tạp như QĐT, thì Việt Nam nên ngày càng hồn thiện luật để tạo

ra một khn khổ pháp lý vững chắc cho hoạt động của các quỹ. Ngồi ra, do QĐT

vẫn còn là ngành non trẻ nên Việt Nam cũng ngay từ đầu nên thực hiện các chính

sách ưu đãi như ưu đãi về thuế nhằm phát triển QĐT. Kinh nghiệm của Nhật Bản

cho thấy, nhờ vào việc áp dụng một chính sách thuế hợp lý mà hệ thống QĐT

của Nhật đã thu hút được nhiều NĐT góp phần thúc đẩy ngành này phát triển

mạnh mẽ.

Thứ năm

Sự thành công hay thất bại của việc kinh doanh QĐT phụ thuộc rất

nhiều vào khả năng phân phối và dịch vụ. Việc hỗ trợ của các ngân hàng được thể

hiện qua những nỗ lực trong việc phân phối là chìa khố cho sự thành cơng

của các QĐT Trung Quốc. Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng thương mại hiện

đang là những tổ chức tham gia lớn nhất trên thị trường tài chính với hệ thống

kênh phân phối rộng khắp đã được thiết lập từ lâu và không ngừng được mở

rộng. Vì vậy, việc phân phối với hệ thống ngân hàng để có thể tận dụng được

hệ thống kênh phân phối lớn sẵn có này sẽ là một lợi thế khơng nhỏ cho các QĐT

ở Việt Nam. Bên cạnh đó, kinh nghiệm liên doanh với nước ngoài để thành lập

QĐT và CTQLQ nhằm tranh thủ vốn và kỹ năng của đối tác nước ngoài của

Trung Quốc cũng là điều mà Việt Nam nên học tập. Hiện nay, các điều

kiện,nguồn lực của Việt Nam để hình thành và phát triển QĐT rất còn hạn chế

nên việc dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài là cần thiết. Tuy nhiên, việc liên

doanh phải hết sức thận trọng để một mặt tạo điều kiện cho các QĐT trong nước

phát triển, mặt khác tránh được sự thao túng thị trường từ bên ngoài.

Thứ sáu

Theo kinh nghiệm của Singapore, cần thiết phát triển đa dạng hóa các sản

phẩm cho thị trường như trái phiếu, các chứng khoán phái sinh, chứng khoán thị

trường tiền tệ,... để đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro và cung



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

51



cấp cho quỹ các cơ hội đầu tư đa dạng, điều này cũng góp phần đẩy nhanh hoạt

động IPO của các cơng ty, đặc biệt là các doanh nghiệp cổ phần hóa. Bên cạnh đó,

Việt Nam cũng cần xem xét về việc bảo vệ quyền lợi cho các NĐT khi tham gia

góp vốn để thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài như kinh nghiệm của

Singaporevà các quốc gia phát triển đã từng làm trước đó.



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

52



1. Khái niệm

- Quỹ đầu tư chứng khốn là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư để đầu tư vào



các chứng khoán.

- Chứng chỉ quỹ đầu tư là chứng chỉ xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư đối

với quỹ. Người đầu tư sẽ hưởng lợi từ kết quả đầu tư của quỹ , theo số lượng chứng

chỉ mà mình nắm giữ.

2. Chức năng

- Được quản lý chuyên nghiệp

- Tính năng động của quỹ đầu tư

- Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa dang mục đầu tư

- Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận

- Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền

3. Huy động vốn

- Phương thức phát hành: Đối với quỹ đầu tư hoạt động theo mơ hình cơng ty, quỹ

có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn đầu tư. Đối với quỹ đầu tư dạng tín thác, quỹ

sẽ phát hành chứng chỉ quỹ để huy động vốn đầu tư. Cũng như cổ phiếu phổ thông khác,

chứng chỉ quỹ đầu tư có thể phát hành dưới hình thức ghi danh hoặc vơ danh và có thể

được chuyển nhượng như cổ phiếu.

Định giá phát hành: Đối với quỹ theo mơ hình Cơng ty, việc định giá cổ phiếu quỹ

là do các tổ chức bảo lãnh phát hành xác định. Đối với quỹ đầu tư tín thác, Cơng ty quản

lý quỹ sẽ xác định giá chào bán ban đầu các chứng chỉ đầu tư của quỹ.

Phương thức chào bán: Về cơ bản, có hai phương thức chào bán: chào bán qua

các chức bảo lãnh phát hành và do quỹ trực tiếp chào bán. Phương thức phổ biến nhất để

bán cổ phần của quỹ đầu tư theo mơ hình Cơng ty là qua các tổ chức bảo lãnh phát hành.

Theo phương thức này, người bảo lãnh của quỹ đóng vai trò như người bán bn và

người phân phối đối với các hãng kinh doanh và mơi giới chứng khốn. Các quỹ được

trực tiếp bán cổ phiếu của nó cho nhà đầu tư không thông qua một trung gian nào. Các

quỹ đầu tư dạng tín thác do Cơng ty quản lý quỹ đứng ra thành lập thường hay chào bán

chứng chỉ đầu tư bằng hình thức này thơng qua hệ thống mạng lưới của Công ty quản lý

quỹ hoặc mạng lưới của ngân hàng giám sát.

4. Phân loại quỹ đầu tư:

- Dựa vào nguồn vốn huy động:

• Quỹ đầu tư tập thể:



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

53



Quỹ đầu tư tập thể là quỹ đầu tư tập thể là quỹ huy động vốn bằng cách phát

hành rộng rãi ra công chúng. Người đầu tư vào quỹ có thể là các thể nhân hoặc các

tổ chức kinh tế, nhưng đa số là các nhà đầu tư cá nhân, riêng lẻ, ít am hiểu thị

trường.

Nhờ có quỹ đầu tư tập thể, các nhà đầu tư nhỏ có thể đảm bảo đa dạng

hóa đầu tư giảm thiểu rủi ro, chi phí đầu tư thấp với hiệu quả đầu tư cao do tính

chuyên nghiệp của quỹ đầu tư.

• Quỹ đầu tư tư nhân:

Quỹ đầu tư tư nhân huy động vốn bằng cách phát hành riêng lẻ cho một số

giới hạn nhà đầu tư, có thể lựa chọn trước, thường là các thể nhân, các định chế tài

chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn.

Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường đầu tư với số lượng vốn lớn ,

đổi lại, họ cũng yêu cầu về quản lý quỹ rất cao. Các nhà quản lý quỹ đầu tư tư nhân

thường tham gia kiểm soát hoạt động của các công ty nhận đầu tư.

- Dựa vào cấu trúc vận động vốn:

• Quỹ đầu tư dạng đóng:

Quỹ đầu tư dạng đóng là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu /chứng chỉ đầu tư ra

công chúng 1 lần với số lượng nhất định và không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/

chứng chỉ quỹ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại.

Sau khi phát hành lần đầu ra công chúng, cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ đầu tư được giao

dịch như các chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khốn. Các nhà đầu tư

có thể mua hay bán để thu hồi vốn đầu tư vào chứng chỉ quỹ trên thị trường thứ cấp

thông qua nhà môi giới.

• Quỹ đầu tư dạng mở:

Quỹ đầu tư dạng mở là quỹ liên tục phát hành cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ đầu tư ra

công chúng và thực hiện việc mua lại cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ đầu tư khi người đàu

tư có nhu cầu thu hồi vốn.

Giá của cổ phiếu/chứng chỉ quỹ đầu tư của quỹ đầu tư dạng mở luôn gắn với giá trị

tài sản thuần túy. Chứng chỉ của quỹ đầu tư dạng mở không giao dịch trên thị

trường thứ cấp mà giao dịch thẳng với quỹ hoặc các đại lý được ủy quyền của quỹ.

- Dựa vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ:

• Quỹ đầu tư dạng công ty:

Quỹ đầu tư dạng công ty là một pháp nhân độc lập. Cơ quan điều hành cao nhất của

quỹ là hội đồng quản trị quỹ.

Người mua quỹ đầu tư dạng cơng ty là cổ đơng, có quyền bầu ra các thành viên Hội

đồng quản trị.



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

54



Quỹ đầu tư dạng hợp đồng: ( quỹ tín thác đầu tư)

Đây là quỹ đầu tư tập hợp vốn nhưng khơng hình thành pháp nhân. Mơ hình này

thể hiện rõ vai trò của ba bên tham gia vào hoạt động cảu quỹ (công ty quản lý quỹ,

ngân hàng giám sát bảo quản và các nhà đầu tư).

Với mô hình này nhà đầu tư góp vốn vào quỹ và ủy thác việc đầu tư cho công ty

quản lý quỹ để đảm bảo khả năng sinh lời lớn nhất từ khoản vốn của họ. Mặc dù

nhà đầu mua chứng chỉ quỹ đầu tư do công ty quản lý quỹ đầu tư đại diện cho quỹ

phát hành nhưng không với tư cách cổ đông mà chỉ đơn thuần là những người thụ

hưởng kết quả kinh doanh từ hoạt động đầu tư cảu quỹ.

Công ty quản lý quỹ đầu tư:

- Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán là doanh nghiệp theo mơ hình cơng ty cổ

phần (CTCP) hoặc cơng ty TNHH, được thành lập để hoạt động quản lí quỹ đầu tư

chứng khoán và một số hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật chứng

khoán và các văn bản pháp luật có liên quan.





Mơ hình tổ chức:

• Hội đồng quản trị: là cơ quan đại diện cho các chủ sở hữu của quỹ đầu tư do cổ

đông bầu ra, là cơ quan duy nhất có quyền quyết định mọi vấn đề của quỹ. Hội

đồng quản trị chịu trách nhiệm triển khai các chính sách đầu tư, chọn cơng ty quản

lý quỹ và giám sát mọi việc tuân thủ các quyết định đề ra. Theo định kỳ, Hội đồng

quản trị của quỹ sẽ họp xem xét, kiểm tra giám sát tình hình điều hành của cơng ty

quản lý quỹ để giải quyết những vấn đề nảy sinh. Chỉ có quỹ dạng cơng ty mới có

hội đồng quản trị.

• Ngân hàng giám sát: thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư chứng

khoán và giám sát cơng ty quản lý quỹ nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư.

• Cơng ty quản lý quỹ: thực hiện việc quản lý quỹ việc đầu tư theo danh mục đầu tư

được nêu trong cáo bạch của quỹ.

• Cơng ty kiểm toán: thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính xác tình

hình hoạt động của quỹ đầu tư, bảo đảm sự minh bạch.

• Ban đại diện quỹ: là các thành viên đại diện quỹ do đại hội dồng nhà đầu tư bầu ra

và hoạt động theo những nguyên tắc được quy định trong điều lệ quỹ. Ban đại diện

quỹ được thành lập theo mơ hình dạng tín khác.

Các loại quỹ ở Việt Nam



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

55



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III/3. THỊ TRƯỜNG CHỨNG CHỈ QUỸ ĐẦU TƯ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×