Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vốn hóa thị trường

Vốn hóa thị trường

Tải bản đầy đủ - 0trang

28/02/2018



3,039,209



235,328



696,153



1,026,843



4,997,533



99.79%



0.



30/03/2018



3,186,099



237,953



736,297



1,031,951



5,192,301



103.68%



3.



27/04/2018

31/05/2018



2,876,908

2,945,041



226,495

214,841



675,738

624,220



1,032,563

1,038,222



4,811,704

4,822,325



96.08%

96.29%



-7

0.



29/06/2018



3,048,495



192,917



648,052



1,055,580



4,945,044



98.74%



2.



31/7/2018



3,040,885



193,967



646,156



1,071,789



4,952,797



98.90%



0.



31/8/2018



3,161,198



202,931



667,128



1,087,793



5,119,050



102.22%



3.



30/9/2018



3,253,949



207,223



773,810



1,105,958



5,340,940



106.65%



2.



31/10/2018



2,938,857



189,558



730,342



1,113,320



4,972,077



99.28%



-6



Nguồn : Báo cáo của UBCKNN



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

66



Đến 2016 là năm có nhiều khởi sắc đối với TTCK Việt Nam. TTCK Việt

Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng tốt và lọt vào “Top” 5 thị trường có mức

tăng trưởng cao nhất tại khu vực Đơng Nam Á. Năm 2016, công tác huy động vốn

qua TTCK đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Tổng mức huy động vốn trên TTCK

ước đạt 348 nghìn tỷ đồng, tăng 54% so với cùng kỳ năm 2015. Tổng giá trị thu

được qua cổ phần hóa, thối vốn trên TTCK đạt khoảng trên 20 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ

thành cơng tăng từ 40% lên 64%.

Chỉ số VN-Index đã tăng 15% trong năm 2016, với mức vốn hóa thị trường

đạt 1.923 nghìn tỷ đồng, tương đương 46% GDP, tăng 40%. Thanh khoản thị

trường tăng mạnh, quy mơ giao dịch bình qn đạt 6.888 tỷ đồng/phiên, tăng 39%

so với cuối năm 2015. Quy mơ TTCK ngày càng được mở rộng, trong năm 2016,

có 695 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên hai sàn, 377 cổ phiếu đăng ký giao

dịch trên UPCoM, nâng tổng giá trị niêm yết trên toàn thị trường lên 712 nghìn tỷ

đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các

công ty niêm yết đều có kết quả khả quan, một số chỉ tiêu về doanh thu, hàng tồn

kho và chi phí tài chính… đã được cải thiện hơn.

Tiếp nối thành công của năm 2016, trong quý I/2017, chỉ số VN-Index đã

tăng 7,7% so với quý I/2016. Trong phiên giao dịch 24/3/2017, VN-Index cũng đã

vượt đỉnh cao nhất 9 năm qua (đạt 722,14 điểm). Thị trường cổ phiếu đã đạt tốc độ

tăng trưởng trung bình gần 50%/năm trong 10 năm trở lại đây. Điều này cho thấy,

TTCK ngày càng có vai trò quan trọng và góp phần định hình cấu trúc hệ thống tài

chính hiện đại theo thơng lệ các thị trường phát triển, qua đó bảo đảm sự ổn định,

bền vững của hệ thống tài chính. Cùng với đó, tính minh bạch của các công ty niêm

yết đã được cải thiện đáng kể, trong đó doanh nghiệp đã quan tâm nhiều đến quản

trị công ty, phát triển bền vững. TTCK cũng đã thể hiện được vai trò rất tốt trong

cơng tác thúc đẩy q trình cổ phần hóa hiệu quả hơn.

Năm 2017, kinh tế vĩ mô trong nước tiếp tục ổn định và có mức phục hồi cao

hơn trong năm 2016. Nền kinh tế trong nước với nhiều điều kiện thuận lợi như:

Tăng trưởng kinh tế (GDP) của Việt Nam vẫn giữ nhịp tăng trưởng ở mức cao; Làn

sóng doanh nghiệp lên sàn mạnh mẽ; Đà tăng trưởng vốn đầu tư trực tiếp nước

ngồi tiếp tục tích cực; Lạm phát được kiểm sốt ở mức hợp lý; Tín dụng tăng

trưởng tốt, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện... là những động

lực cho TTCK Việt Nam tăng trưởng và thu hút các nhà đầu tư.

TTCK Việt Nam sẽ sớm được nâng hạng lên mới nổi, đây sẽ là một bước

thay đổi rất quan trọng về “chất” và vị thế thị trường Việt Nam. Mục tiêu đặt ra đối

với



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

67



TTCK Việt Nam đến năm 2020 là quy mô thị trường cổ phiếu sẽ tăng gấp đôi hiện

nay, đạt khoảng 60% GDP. TTCK Việt Nam sẽ khẳng định vững chắc hơn vai trò

huy động, phân bổ vốn trong nền kinh tế bên cạnh kênh ngân hàng; mặt khác sẽ là

một cơng cụ để đầu tư, tích lũy tài sản của người dân



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

68



Về niêm yết và giao dịch chứng khoán :sau 20 năm, TTCK đã có hơn

1.000 cơng ty niêm yết, với quy mô đạt 65% GDP và tổng giá trị vốn đã huy động

đạt 2 triệu tỷ đồng, đáp ứng khoảng 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Năm 2000, chỉ với 02 công ty niêm yết khi đưa TTGDCK TP.HCM đi vào

hoạt động, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa

khan hiếm, chỉ số VN-Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày

25/6/2001. Sau đó, thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau đó, trước

khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003.

Năm 2005, sau khi TTGDCK Hà Nội đi vào hoạt động, tổng số các công ty

niêm yết trên cả hai thị trường là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn

tỷđồng. Tuy nhiên, nhìn chung, giai đoạn 2000-2005 là giai đoạn hoạt động khá

trầm lắng của TTCK Việt Nam.

Kể từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Nam bắt đầu khởi sắc và đã có

bước tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng cơng ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch.

Tính đến cuối năm 2010, số lượng doanh nghiệp niêm yết trên cả hai sàn là 622 với

giá trị vốn hóa thị trường đạt 736,1 nghìn tỷ đồng. Như vậy, so với 2009, số doanh

nghiệp niêm yết mới đã tăng 168 doanh nghiệp, tương đương 37%, đây là mức tăng

kỷ lục kể từ khi ra đời TTCK Việt Nam.

TTCK Việt Nam ngày càng thu hút nhiều doanh lên niêm yết/đăng ký giao

dịch, đến tháng 11/2016 đã có 691 cơng ty niêm yết trên hai Sở GDCK (tăng gấp

gần 16 lần so với năm 2005; 373 công ty đăng ký giao dịch trên UPCoM. Tháng

10/2018 trên TTCK số lượng công ty niêm yết tăng vượt trội: 369 trên sàn HOSE,

374 trên sàn HNX, 793 trên sàn UPCoM… tăng 4,42% so với năm 2017 còn đối

với năm 2005 tăng 17 lần theo số liệu của UBCKNN. Qua đó đã giúp thu hẹp thị

trường tự do, mở rộng phát triển thị trường có tổ chức nhằm tăng cường tính minh

bạch, chuyên nghiệp và bảo vệ nhà đầu tư. Kèm theo sự phát triển của thị trường,

số lượng các công ty trung gian trên thị trường chứng khốn cũng tăng mạnh, đến

nay, có 79 cơng ty chứng khốn và 43 cơng ty quản lý quỹ đang hoạt động bình

thường trên thị trường sau quá trình tái cấu trúc. Cùng với sự lớn mạnh về số lượng

và quy mô của các tổ chức trung gian, công tác quản lý nhà nước cũng được tăng

cường, UBCKNN luôn chú trọng phát triển, nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ

chức trung gian thị trường. Năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ thông tin, đầu tư

trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho kinh doanh ngày càng được cải thiện.

Cùng với việc triển khai giao dịch trực tuyến, các loại hình dịch vụ cung cấp trên

thị trường ngày càng đa dạng và có chất lượng, đảm bảo tính cơng khai, minh bạch

và bình đẳng trên thị trường, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư trong và ngồi nước.

Khơng chỉ về quy mơ niêm yết mà TTCK đã có sự tăng trưởng cả về tính

thanh khoản của thị trường. Nếu như năm 2005, bình quân có 667.600 cổ phiếu



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

69



được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên 2,6 triệu đơn

vị(tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu trong hai năm sau

đó. Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng từ 0,43 lần

(năm 2006) lên 0.64 lần (năm 2007), 0,68 lần (năm 2008) và ước đạt 1,13 lần (năm

2009). Năm 2010 đạt kỷ lục lên sàn niêm yết (thêm 81 cổ phiếu trên HOSE, 110

cổ phiếu niêm yết trên HNX và 82 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên UPCoM)

và cũng là năm kỷ lục của doanh nghiệp huy động vốn qua TTCK với tổng giá trị

huy động vốn lên tới 110.000 tỷ đồng, tăng 3 lần so với năm 2009 và tăng 4 lần so

với năm 2008Giai đoạn 2006-2009 cũng chứng kiến những kỷ lục của TTCK

Việt Nam. Tháng 3/2007, các chỉ số chứng khoán đạt được mức cao nhất:

VNIndex đạt mức 1.170,67 điểm và HASTC-Index đạt 459,36 điểm. Còn xét về

khối lượng giao dịch, tháng 5/2009 là tháng có khối lượng giao dịch lớn nhất, bình

qn có 77 triệu cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị đạt 2.270,57 tỷ

đồng.Đồng thời, với sự mở rộng của các thị trường chính thức là sự thu hẹp của thị

trường tự do OTC. Nhiều loại cổ phiếu giao dịch trên thị trường OTC chủ yếu

từ các DNNN cổ phần hóa, tuy nhiên, tính thanh khoản của thị trường này trong

năm 2009 đã sụt giảm rõ rệt.

Đến giai đoạn 2011-2017, giá trị giao dịch đã đạt hơn 3.300 tỷ đồng/phiên

(tăng gấp 2,5 lần giai đoạn trước 2000-2005). Đặc biệt, giá trị giao dịch bình quân

trong những tháng đầu năm 2016 Thanh khoản thị trường tăng mạnh, quy mô giao

dịch bình quân đạt 6.888 tỷ đồng/phiên, tăng 39% so với cuối năm 2015. Quy mô

TTCK ngày càng được mở rộng, trong năm 2016, có 695 cổ phiếu và chứng chỉ

quỹ niêm yết trên hai sàn, 377 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên UPCoM, nâng tổng

giá trị niêm yết trên tồn thị trường lên 712 nghìn tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ

năm trước. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơng ty niêm yết đều có kết quả

khả quan, một số chỉ tiêu về doanh thu, hàng tồn kho và chi phí tài chính… đã được

cải thiện hơn.Tiếp nối thành công của năm 2016, trong quý I/2017, chỉ số VNIndex đã tăng 7,7% so với quý I/2016. Trong phiên giao dịch 24/3/2017, VN-Index

cũng đã vượt đỉnh cao nhất 9 năm qua (đạt 722,14 điểm).

Ngoài ra, nhằm từng bước hoàn chỉnh cấu trúc thị trường, hệ thống giao dịch

Up Com–hệ thống giao dịch cho các chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm

yết –cũng đã được đưa vào vận hành vào ngày24/6/2009 trên SGDCK Hà Nội.Cuối

năm 2010, khối lượng giao dịch là 316.654 đơn vị trên hệ thống Upcom với

tổng giá trị giao dịch đạt gần 4,37 tỷ đồng. Trong năm 2017, thị trường UPCoM

đã có sự phát triển vượt bậc cả về quy mô và thanh khoản thị trường, trung bình,

khối lượng giao dịch đạt 11,6 triệu cổ phiếu/phiên, giá trị giao dịch đạt 218 tỷ

đồng/phiên, tăng 35% về khối lượng và 71% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ

năm trước.



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

70



Về hàng hóa

Trong giai đoạn 2000-2002, TPCP là hàng hóa niêm yết chủ đạo trên

SGDCK Tp.HCM, tuy nhiên, số lượng không nhiều (40 mã). Trong giai đoạn này,

TPCP tương đối kém thanh khoản, giá trị giao dịch bình quân cũng rất thấp,

với khoảng 2% giá trị TPCP niêm yết.

Giai đoạn 2004-2007, giá trị trái phiếu niêm yết so với GDP tăng đáng kể,

lên tới 11,3% GDP, đồng thời, nhiều quy định mới được áp dụng nhằm thúc đẩy

giao dịch trái phiếu như: không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu của

các tổ chức, cá nhân nước ngoài; bỏ biên độ dao động giá; cơ chế giao dịch thỏa

thuận; rút ngắn thời gian thanh tốn T+1. Vì vậy, tính thanh khoản của thị

trường cũng tăng dần. Trong thời gian gần đây, do biến động của lãi suất, việc

phát hành TPCP không được như mong muốn, dẫn đến tỷ lệ giá trị niêm yết so

với GDP giảm xuống và chỉ còn khoảng 10,81% vào cuối năm 2009. Tuy

nhiên, nếu so sánh với tổng dư nợ trái phiếu phát hành là 16,9% GDP thì vẫn còn

một lượng khá lớn trái phiếu đưa vào niêm yết và giao dịch trên các SGDCK. Số

trái phiếu này phần lớn là trái phiếu doanh nghiệp chưa được phát hành trong thời

gian gần đây.

Trước năm 2006, TPCP được giao dịch đồng thời tại HOSE và HNX. Tuy

nhiên, từ ngày 24/9/2009, hệ thống giao dịch TPCP chuyên biệt với gần 30

thành viên, trong đó, có nhiều ngân hàng thương mại và các cơng ty chứng khốn

lớn đã chính thức hoạt động. Hệ thống này tách biệt khỏi hệ thống giao dịch cổ

phiếu và với nhiều đặc điểm mới, được phát triển phù hợp với các đặc thù của giao

dịch trái phiếu đã khắc phục một số hạn chế của hệ thống giao dịch trái phiếu trước

đây.

Về hệ thống cơ sở nhà đầu tư (cầu đầu tư)

Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo. Số lượng nhà

đầu tư cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng kể. Từ

khoảng gần 3000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trường vào năm

2000, tính đến nay đã có trên 90.000 tài khoản giao dịch, trong đó số nhà đầu tư tổ

chức trong nước là 2.662, số nhà đầu tư cá nhân trong nước là 807.558, số nhà đầu

tư nước ngoài là hơn 13.000 nhà đầu tư.

Về hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán

Hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khốn phát triển nhanh về

quy mơ và năng lực nghiệp vụ, với hệ thống mạng lưới chi nhánh, phòng giao

dịch trải khắp các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước, góp phần giúp cơng chúng

đầu tư tiếp cận dễ dàng hơn với TTCK. Khi thị trường bắt đầu đi vào hoạt động,

tồn thị trường mới chỉ có 7 cơng ty chứng khốn và cho đến tận năm 2004 vẫn

chưa có một cơng ty quản lý quỹ nào. Sau 10 năm hoạt động, tính đến thời



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

71



điểm hiện tại, đã có 105 cơng ty chứng khốn và 47 CTQLQ (tham khảo Phụlục

02) đang hoạt động tại Việt Nam. Số thành viên lưu ký của TTLKCK là 122 thành

viên, trong đó, có 8 ngân hàng lưu ký và 12 tổ chức mở tài khoản trực tiếp.

Bảng 3: tốc độ tăng trưởng CTCK, CTQLQ từ 2000-2010



Số lượng người hành nghề tăng nhanh, phù hợp với sự tăng trưởng của

các CTCK. Từ năm 2007 đến 2009 đã có gần 8400 người hành nghề được cấp

chứng chỉ. Số lượng công ty quản lý quỹ gia tăng nhanh kể từ năm 2006 trở lại

đây (năm 2005 mới chỉ có 6 CTQLQ thì đến cuối 2010 đã có 47 cơng ty được

cấp phép hoạt động). Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của các Công ty quản

lý quỹ là không đồng đều và đang có sự phân hóa rõ rệt. Hiện nay, mới chỉ có

33/47 Cơng ty đã triển khai hoạt động quản lý tài sản, trong đó, mới có 14

cơng ty huy động được quỹ.

Về tổ chức thị trường

Mặc dù việc tái cấu trúc lại thị trường bước đầu được thực hiện để khắc phục

sự thiếu đồng bộ và tạo sự phân định của thị trường, nhưng đây vẫn là hạn chế lớn

nhất của TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Về cơ cấu tổ chức, việc tách các

SGDCK và TTLKCK trở thành pháp nhân độc lập khỏi UBCKNN đã đạt được kết

quả nhất định trong việc tách bạch chức năng quản lý nhà nước trong hoạt động



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

72



chứng khoán và chức năng tổ chức vận hành TTCK.Việc phân chia thị trường

tập trung thành hai thị trường bộ phận với cùng một phương thức giao dịch

dựa trên các điều kiện niêm yết về lợi nhuận và vốn điều lệ trong giai đoạn vừa

qua đã góp phần quan trọng mở rộng thị trường có tổ chức, phát huy tính năng

động của các TTGDCK/SGDCK trong việc thu hút các doanh nghiệp vào niêm yết,

đăng ký giao dịch.

Về hoạt động quản lý, giám sát thị trường

Trong giai đoạn 2000-nay, công tác quản lý Nhà nước và điều hành

TTCK được thực hiện tương đối linh hoạt, bảo đảm TTCK vận hành an tồn và

phát triển ổn định, khơng để xảy ra đổ vỡ, xáo trộn lớn ảnh hưởng đến sự phát

triển kinh tế–xã hội của đất nước, từng bước nâng cao năng lực giám sát và

cưỡng chế thực thi quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

nhà đầu tư. Hoạt động quản lý và giám sát TTCK với trọng tâm lấy việc bảo vệ

quyền lợi của nhà đầu tư là nòng cốt; các chính sách quản lý TTCK đã thể hiện

mục tiêu tăng cường tính cơng khai, minh bạch, từng bước áp dụng các thông lệ về

quản trị công ty tốt, các chuẩn mực về kế toán, kiểm toán quốc tế và khuyến

cáo của Tổ chức quốc tế các UBCK (IOSCO)

2.1.2 Cơ sở hình thành và phát triển quỹ đầu tư ở Việt Nam

Sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam sau hơn 20 năm hoạt động

đã góp phần thúc đẩy thị trường tài chính phát triển nhanh, mạnh hơn trước. Như đã

được phân tích ở phần trên, thị trường cổ phiếu Việt Nam đã đạt được những thành

tựu đáng ghi nhận từ chỉ 2 cổphiếu niêm yết ban đầu thì nay đã lên tới hơn 600, giá

trị vốn hóa khoảng 40% GDP. Ngồi ra, các thịtrường chuyên biệt như thị trường

trái phiếu, UPCoM được hình thành và từng bước phát triển... cũng đã tạo ra ngày

càng nhiều hàng hóa mở rộng mơi trường hoạt động cho ngành cơng nghiệp

quỹ. Bên cạnh đó, ngành cơng nghiêp quỹ ở Việt Nam còn được sự hỗ trợ của

các nhân tố thuận lợi nói riêng cho hoạt động của mình được khởi sắc ởViệt Nam:

a)Mơi trường đầu tư ở Việt Nam với nền tảng chính trị ổn định, kinh tế tăng

trưởng nhanh

Trong khoản 5 năm trở lại đây, trong khi hoạt động đầu tư ở các nước phát

triển, hoạt động đầu tư đứng trước nguy cơ bão hòa thì các quốc gia đang phát triển

nổi lên thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài,cả nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và

gián tiếp (FII), chỉ riêng năm 2007, TTCK Việt Nam đã đón khoảng 11-12 tỷ USD

vốn FII. Sau giai đoạn khủng hoảng 2008-2009, dù vốn FII giảm mạnh nhưng tính

trên 02 sàn niêm yết khối ngoại cũng mua ròng hơn 15.400 tỷ đồng trong năm

2010.

Bên cạnh đó, nhịp điệu tăng trưởng của kinh tế Việt Nam khá hấp dẫn. Giai

đoạn thăng hoa 2003-2006, Việt Nam giữ được nhịp tăng trưởng cao nhất khu vực



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

73



Đông Nam Á. Sang đến thời kỳ hồi phục 2009 –2010, kinh tế Việt Nam tiếp tục

chứng tỏ sức bật của mình với tốc độ tăng trưởngGDP năm 2009 đạt 5,32%.

Trong năm 2010, mặc dù còn những bất ổn trong các vấn đề vĩ mô, Việt Nam

vẫn đạt tốc độ tăng trưởng 6,78%. Ngân hàng phát triển Châu Á –ADB cũng

nâng dự báo tốc độ tăng GDP năm 2011 được điều chỉnh từ 6,8% lên 7%.Sức hút

của kinh tế VN nằm ở tiềm năng tăng trưởng trong tương lai với lợi thế về nguồn

nhân lực, tài nguyên dồi dào, thị trường tiêu thụ lớn... -những lợi thế nàykhông phải

quốc gia đang phát triển nào cũng sở hữu. Bên cạnh đó, mơi trường đầu tư ngày

càng thơng thống, tình hình kinh tế chính trị tương đối ổn định, khắc phục khủng

hoảng kinh tế tương đối hiệu quả, Việt Nam trong dài hạn sẽ còn thu hút được giới

đầu tư nước ngoài nhiều hơn nữa. Các doanh nghiệp trong nước cũng ngày càng

quan tâm hơn đến tình hình đầu tư và có nhu cầu được đầu tư mạnh dạn hơn trong

thời gian tới. Theo thống kê của A.T. Kearney về Chỉ số niềm tin FDI (FDI

Confidence Index) thì Việt Nam xếp hạng thứ 12 về Chỉ số niềm tin FDI. Trong số

các nước Đông Nam Á lọt vào Top 25 của xếp hạng Chỉ số niềm tin FDI 2010, Việt

Nam đứng trên Indonesia (vị trí 21), Malaysia (vị trí 20), và Singapore (vị trí 24).

Trong nhóm các thị trường mới nổi CIVETS gồm Colombia, Indonesia, Việt

Nam, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi thì theo đánh giá của EIU và World Bank,

Việt Nam là nước có tình hình chính trị ổn định nhất, đồng thời dẫn đầu về đầu tư

FDI với 10,6% và vốn FDI vào Việt Nam có vai trò quan trọng hơn so với các nước

khác trong CIVETS.

b)Cơ sở pháp lý cho ngành Công nghiệp Quỹ Việt Nam

Cơ sở pháp lý cho hoạt động CTQLQ, QĐT theo Luật chứng khoán hiện nay

gồm Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007, Quyết định số

35/2007/QĐ-BTC ngày 15/05/2007 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động

của CTQLQ, Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC ngày 05/06/2007 về thành lập và

quản lý QĐT

Thông tư số 194/2009/TT-BTC ngày 02/10/2009 về việc hướng dẫn chào mua

công khai cổ phiếu của công ty đại chúng, chứng chỉ quỹ của QĐT đại chúng dạng

đóng và Nghị định 84/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung cho Nghị định 14/2007/NĐCP ngày 19/01/2007.

Hiện nay, UBCKNN cũng đang xem xét để ban hành luật quy định, hướng

dẫn cho sự ra đời của một số các sản phẩm mới nhằm phục đa dạng hóa các hàng

hóa cho thị trường chứng khốn, mà cụ thể ở đây là sự ra đời của quỹ mở. Với loại

hình đã khá phổ biến trên thế giới, hy vọng Việt Nam sẽ lôi kéo được sự chú ý của

các NĐTNN đầu tư vào TTCK Việt Nam thông qua các QĐT. Có thể thấy, với

mức độ thơng thống trong mơi trường đầu tư, tiềm năng thu hút FDI, FII được xếp

hạng cao bởi World Bank và những nổ lực cải cách chính sách thu hút đầu tư của



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

74



Chính phủ, TTCK Việt Nam sẽ sơi động hơn trong thời gian tới và ngành công

nghiệp quỹ sẽ phát huy được vai trò đầu tàu của mình trong nổ lực hòa nhập thị

trường khu vực và thế giới

2.2 Thực trạng về tình hình hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên

thị trường chứng khoán Việt Nam

2.2.1 Đánh giá sơ lược tình hình hoạt động của các Cơng ty Quản lý Quỹ

và Quỹ Đầu Tư Chứng khoán trong nước

Thời kỳ sôi động của hoạt động QĐT trong nước là từ tháng 7/2006 tới tháng

3/2008, khi có tới 20 QĐT trong nước được thành lập với tổng vốn huy động

hơn 13.500 tỷđồng (trong đó có 4 quỹ đại chúng). Đây cũng là thời kỳ bùng nổ

của TTCK Việt Nam với sự tăng trưởng thần kỳ cả về quy mô cũng như số

lượng doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa và niêm yết.

Từ tháng 3/2008 tới nay, cùng với suy thoái kinh tế tồn cầu, tình hình huy

động quỹ trong nước của các CTQLQ gặp rất nhiều khó khăn. Chỉ có 3 QĐT

được thành lập trong năm 2010 với tổng số vốn huy động 800 tỷ đồng, đưa tổng

số quỹ trong nước lên con số 23. Như vậy, trong số 47 CTQLQ thành lập theo Luật

Chứng khốn, chỉ có 13 cơng ty lập được quỹ trong nước và thực hiện nghiệp vụ

quản lý quỹ, còn các CTQLQ khác chủ yếu chỉ cung cấp dịch vụ quản lý danh mục

đầu tư cho các NĐT trong và ngồi nước. Về tính chất nguồn vốn, 23 QĐT trong

nước chủ yếu huy động nguồn vốn nội địa, duy nhất QĐT thành viên của công

ty cổ phẩn quản lý quỹ đầu tư FPT có hơn 51% vốn góp từ NĐTNN

Thống kê khơng chính thức cho thấy, số lượng QĐT hoạt động tại Việt

Nam khá đông đảo, khoảng hơn 400 quỹ với hơn 50 QĐT chứng khoán (tham

khảo Phụ lục 03), trong khi quỹ thành lập trong nước còn q nhỏ bé, cả về số

lượng và quy mơ vốn quản lý. Các QĐT vào Việt Nam, tính tới thời điểm này, chủ

yếu dưới hình thức cơng ty đầu tư hoặc QĐT của NĐTNN thành lập tại nước thứ

ba là các thiên đường thuế như Cayman Islands, Bermuda, British Virgin Island và

sau đó mở tài khoản đầu tư vào Việt Nam với tư cách một NĐTNN đầu tư gián

tiếp.Nhận thấy cơ hội từ dòng vốn ngoại dồi dào và sự quan tâm của NĐTNN

đối với tiềm năng phát triển của TTCK Việt Nam, nhiều CTQLQ đã chuyển

hướng lấy huy động nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài làm mục tiêu để thành lập

quỹ trong nước. Tuy nhiên, các nỗ lực huy động vốn nước ngoài cho mục tiêu trên

đều chưa đạt được kết quả

2.2.2 Phân tích hoạt động của một số Công ty Quản lý Quỹ và Quỹ Đầu Tư

Chứng khốn trong nước

2.2.2.1 Cơng ty Liên Doanh Quản lý QĐT Vietfund Management

CTQLQ VFM được thành lập với tên gọi ban đầu là Công ty Liên doanh

quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VietFund Management) theo Giấy



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

75



phép số 01/GPĐT-UBCKNN ngày 15/7/2003 của UBCKNN (sau được chuyển

đổi thành Công ty Cổ phần quản lý Quỹ đầu tư Việt Nam theo Giấy phép thành

lập và hoạt động số45/UBCK-GP ngày 08/01/2009), là công ty liên doanh đầu tiên

tại Việt Nam chuyên về quản lý QĐT chứng khoán, và quản lý danh mục đầu tư,

với tổng vốn điều lệ100 tỷ đồng do các bên liên doanh góp vốn là Công ty Dragon

Capital Management (49%) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương

Tín (Sacombank) (51%). Hiện nay, Công ty quản lý quỹVFM đang quản lý tổng tài

sản hơn 5.000 tỷ đồng với hơn 15.000 NĐT là pháp nhân, cá nhân trong và ngồi

nước thơng qua các sản phẩm quỹ:

Quỹ đầu tư chứng khốn Việt Nam (VF1) (có mã giao dịch niêm yết vào

ngày 22/09/2004 trên HOSE là VFMVF1), Quỹ đầu tư tăng trưởng Việt Nam

(VF2), Quỹ đầu tư Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (VF4) (có mã giao dịch

niêm yết vào ngày 03/06/2008 trên HOSE là VFMVF4), Quỹ đầu tư năng động

(VFA) (có mã giao dịch niêm yết vào ngày 09/07/2010 trên HOSE là VFMVFA) và

một số nguồn vốn ủy thác khác.Quỹ đầu tư chứng khoán VF1 :QĐT Việt Nam VF1

là quỹ cơng chúng dạng đóng đầu tiên của Việt Nam, được huy động nguồn vốn

từcá nhân, pháp nhân trong và ngồi nước với quy mơ vốn ban đầu 300 tỷ đồng

vào tháng 4/2004 (tham khảo Phụ lục 05). QĐT VF1 được niêm yết tại

SGDCK TPHCM (trước đây là TTGDCK TPHCM) từ tháng 11/2004

Quỹ đầu tư chứng khốn Việt Nam (VF1) (có mã giao dịch niêm yết vào

ngày 22/09/2004 trên HOSE là VFMVF1), Quỹđầu tư tăng trưởng Việt Nam

(VF2), Quỹ đầu tư Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (VF4) (có mã giao dịch

niêm yết vào ngày 03/06/2008 trên HOSE là VFMVF4), Quỹ đầu tư năng động

(VFA) (có mã giao dịch niêm yết vào ngày 09/07/2010 trên HOSE là VFMVFA) và

một số nguồn vốn ủy thác khác.Quỹ đầu tư chứng khốn VF1 :QĐT Việt Nam VF1

là quỹ cơng chúng dạng đóng đầu tiên của Việt Nam, được huy động nguồn vốn từ

cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước với quy mô vốn ban đầu 300 tỷ đồng vào

tháng 4/2004 (tham khảo Phụ lục 05). QĐT VF1 được niêm yết tại SGDCK

TPHCM (trước đây là TTGDCK TPHCM) từ tháng 11/2004 .

Bảng 4 : Báo cáo NAV của VF1 qua các năm2004-2010



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

76



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vốn hóa thị trường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×