Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b/ Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc

b/ Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc

Tải bản đầy đủ - 0trang

hiểu TTCK còn thấp, vốn đầu tư nhỏ thì việc làm cấp bách trước mắt chính là thu

hút đơng đảo dân chúng tham gia đầu tư để giúp cho các hoạt động đầu tư mang

tính xã hội hóa cao

Thứ hai

Khâu đào tạo nguồn nhân lực cho các QĐT cũng phải được chú trọng. Theo

kinh nghiệm của Sin và TQ, để hoạt động đầu tư có hiệu quả điều quan trọng đầu

tiên là chính phủ các nước này đã quan tâm đúng mức đến việc đào tạo nguồn nhân

lực.Việt Nam cần phải tìm ra được những giải pháp có thể xây dựng được một đội

ngũ cán bộ nhân viên khoogn chỉ giỏi về kỹ năng chun mơn mà còn có đạo đức

nghề nghiệp để đảm bảo tính cơng khai, cơng bằng trong thị truowngfvaf cũng để

đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các NĐT.

Thứ ba

Trên TG hiện nay, QĐT đang tồn tại dưới hai mơ hình, mơ hình tín thác và

mơ hình cơng ty. Việc lựa chọn áp dụng mơ hình QĐT nào để phù hợp với điều

kiện kinh tế, hệ thóng pháp luật của từng nước có ý nghãi quan trọng và mang tính

quyết định đến q trình hình thành và phát triển hệ thống QĐT. Đối với thị trường

mới nổi đặc biệt là tại các nước Châu Á, các dạng tín thác được hình thành trước.

Khi hệ thống QĐT đã phát triển tới một trình độ nhất định thì các nước mới áp

dụng mơ hình QĐT dạng cơng ty. Trong khi đó tại các nước phát triển thì lại áp

dụng mơ hình QĐTdạng cơng ty và mơ hình tín thác. Điều này là hồn tàn hợp lí vì

các nước này đã phát triển ở một trình độ cao hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ

nên góp phần tạo nên một cơ chế hình thành và phát triển các QĐT một cách linh

hoạt, tạo ra sự cạnh tranh giũa cácđịnh chế đầu tư. Chính vì vậy với một đặc điểm

tương tự như Hàn, Trung, Malaysia…. Trong buổi đầu hình thành QĐT thì đối với

điều kiện hiện Vn hiện nay, việc lựa chonk mơ hình tín thác sẽ là tối ưu nhất nhưng

đến khi thị trường đi vào ổn định thì mơ hình cơng ty cần phát triển và mở rộng để

phù hợp với tiêu chí hội nhập kinh tế tồn cầu và hợp tác quốc tế.

Có một điểm giống nhau ở cả thị trường phat triển lẫn thị trường mới nổi là

điểm xuất phá của QĐT là QĐT dạng đóng được hình thành và phát triển trước

QĐT dạng mở. Đặc trưng của quỹ đóng là cơ cấu nguồn vốn ổn định,giúp cho các

tổ chức quản lí quỹ còn ít kinh nghiệm trong thời gian đầu thành lập có thể quản lí

tốt nguồn vốn của mình

Trong điều kiện thị trường tài chính VN còn nhỏ bé, kinh nghiệm thực tiễn

còn hạn chế thì việc hình thành quỹ đóng hay quỹ thành viên là phù hợp nhưng để

thị trường phát triển và hấp dẫn được nhiều NĐT thì cần đa dạng hóa các loại hình

QĐT như quỹ mở, quỹ đầu tư quốc tế…

SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

50



Thứ tư,

Tùy theo hệ thống pháp luật của từng nước mà các QĐT có thể chịu sự quản

lí ở các cấp khác nhau. Tuy nhiên do tầm quan trọng và ảnh hưởng to lớn của các

QĐT trên thị trường tài chính nên đại đa số các nước đều áp dụng việc các quỹ chịu

sự quản lí ở cấp trung ương vd như UBCKNN như Mỹ, Bộ tài chính như Nhật Bản,

Hàn Quốc…. Do mục tiêu đầu tư của các quỹ là vào TTCK nên hợp lí nhất là để

UBCKNN quản lí. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận thấy rằng, ở hầu hết các nước

đều có hệ thống văn bản pháp lý ở cấp độ cao nhất điều chỉnh hoạt động của QĐT,

hay tối thiểu là các chương lớn trong Luật chứng khốn. Chính vì vậy, đối với loại

hình hết sức phức tạp như QĐT, thì Việt Nam nên ngày càng hồn thiện luật để tạo

ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc cho hoạt động của các quỹ. Ngồi ra, do QĐT

vẫn còn là ngành non trẻ nên Việt Nam cũng ngay từ đầu nên thực hiện các chính

sách ưu đãi như ưu đãi về thuế nhằm phát triển QĐT. Kinh nghiệm của Nhật Bản

cho thấy, nhờ vào việc áp dụng một chính sách thuế hợp lý mà hệ thống QĐT

của Nhật đã thu hút được nhiều NĐT góp phần thúc đẩy ngành này phát triển

mạnh mẽ.

Thứ năm

Sự thành công hay thất bại của việc kinh doanh QĐT phụ thuộc rất

nhiều vào khả năng phân phối và dịch vụ. Việc hỗ trợ của các ngân hàng được thể

hiện qua những nỗ lực trong việc phân phối là chìa khố cho sự thành cơng

của các QĐT Trung Quốc. Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng thương mại hiện

đang là những tổ chức tham gia lớn nhất trên thị trường tài chính với hệ thống

kênh phân phối rộng khắp đã được thiết lập từ lâu và khơng ngừng được mở

rộng. Vì vậy, việc phân phối với hệ thống ngân hàng để có thể tận dụng được

hệ thống kênh phân phối lớn sẵn có này sẽ là một lợi thế không nhỏ cho các QĐT

ở Việt Nam. Bên cạnh đó, kinh nghiệm liên doanh với nước ngồi để thành lập

QĐT và CTQLQ nhằm tranh thủ vốn và kỹ năng của đối tác nước ngoài của

Trung Quốc cũng là điều mà Việt Nam nên học tập. Hiện nay, các điều

kiện,nguồn lực của Việt Nam để hình thành và phát triển QĐT rất còn hạn chế

nên việc dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài là cần thiết. Tuy nhiên, việc liên

doanh phải hết sức thận trọng để một mặt tạo điều kiện cho các QĐT trong nước

phát triển, mặt khác tránh được sự thao túng thị trường từ bên ngoài.

Thứ sáu

Theo kinh nghiệm của Singapore, cần thiết phát triển đa dạng hóa các sản

phẩm cho thị trường như trái phiếu, các chứng khoán phái sinh, chứng khoán thị

trường tiền tệ,... để đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro và cung



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

51



cấp cho quỹ các cơ hội đầu tư đa dạng, điều này cũng góp phần đẩy nhanh hoạt

động IPO của các công ty, đặc biệt là các doanh nghiệp cổ phần hóa. Bên cạnh đó,

Việt Nam cũng cần xem xét về việc bảo vệ quyền lợi cho các NĐT khi tham gia

góp vốn để thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài như kinh nghiệm của

Singaporevà các quốc gia phát triển đã từng làm trước đó.



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

52



1. Khái niệm

- Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư để đầu tư vào



các chứng khoán.

- Chứng chỉ quỹ đầu tư là chứng chỉ xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư đối

với quỹ. Người đầu tư sẽ hưởng lợi từ kết quả đầu tư của quỹ , theo số lượng chứng

chỉ mà mình nắm giữ.

2. Chức năng

- Được quản lý chuyên nghiệp

- Tính năng động của quỹ đầu tư

- Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa dang mục đầu tư

- Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận

- Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền

3. Huy động vốn

- Phương thức phát hành: Đối với quỹ đầu tư hoạt động theo mơ hình cơng ty, quỹ

có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn đầu tư. Đối với quỹ đầu tư dạng tín thác, quỹ

sẽ phát hành chứng chỉ quỹ để huy động vốn đầu tư. Cũng như cổ phiếu phổ thơng khác,

chứng chỉ quỹ đầu tư có thể phát hành dưới hình thức ghi danh hoặc vơ danh và có thể

được chuyển nhượng như cổ phiếu.

Định giá phát hành: Đối với quỹ theo mơ hình Cơng ty, việc định giá cổ phiếu quỹ

là do các tổ chức bảo lãnh phát hành xác định. Đối với quỹ đầu tư tín thác, Công ty quản

lý quỹ sẽ xác định giá chào bán ban đầu các chứng chỉ đầu tư của quỹ.

Phương thức chào bán: Về cơ bản, có hai phương thức chào bán: chào bán qua

các chức bảo lãnh phát hành và do quỹ trực tiếp chào bán. Phương thức phổ biến nhất để

bán cổ phần của quỹ đầu tư theo mơ hình Cơng ty là qua các tổ chức bảo lãnh phát hành.

Theo phương thức này, người bảo lãnh của quỹ đóng vai trò như người bán bn và

người phân phối đối với các hãng kinh doanh và môi giới chứng khoán. Các quỹ được

trực tiếp bán cổ phiếu của nó cho nhà đầu tư khơng thơng qua một trung gian nào. Các

quỹ đầu tư dạng tín thác do Cơng ty quản lý quỹ đứng ra thành lập thường hay chào bán

chứng chỉ đầu tư bằng hình thức này thơng qua hệ thống mạng lưới của Công ty quản lý

quỹ hoặc mạng lưới của ngân hàng giám sát.

4. Phân loại quỹ đầu tư:

- Dựa vào nguồn vốn huy động:

• Quỹ đầu tư tập thể:



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

53



Quỹ đầu tư tập thể là quỹ đầu tư tập thể là quỹ huy động vốn bằng cách phát

hành rộng rãi ra công chúng. Người đầu tư vào quỹ có thể là các thể nhân hoặc các

tổ chức kinh tế, nhưng đa số là các nhà đầu tư cá nhân, riêng lẻ, ít am hiểu thị

trường.

Nhờ có quỹ đầu tư tập thể, các nhà đầu tư nhỏ có thể đảm bảo đa dạng

hóa đầu tư giảm thiểu rủi ro, chi phí đầu tư thấp với hiệu quả đầu tư cao do tính

chuyên nghiệp của quỹ đầu tư.

• Quỹ đầu tư tư nhân:

Quỹ đầu tư tư nhân huy động vốn bằng cách phát hành riêng lẻ cho một số

giới hạn nhà đầu tư, có thể lựa chọn trước, thường là các thể nhân, các định chế tài

chính hoặc các tập đồn kinh tế lớn.

Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường đầu tư với số lượng vốn lớn ,

đổi lại, họ cũng yêu cầu về quản lý quỹ rất cao. Các nhà quản lý quỹ đầu tư tư nhân

thường tham gia kiểm sốt hoạt động của các cơng ty nhận đầu tư.

- Dựa vào cấu trúc vận động vốn:

• Quỹ đầu tư dạng đóng:

Quỹ đầu tư dạng đóng là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu /chứng chỉ đầu tư ra

công chúng 1 lần với số lượng nhất định và không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/

chứng chỉ quỹ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại.

Sau khi phát hành lần đầu ra công chúng, cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ đầu tư được giao

dịch như các chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán. Các nhà đầu tư

có thể mua hay bán để thu hồi vốn đầu tư vào chứng chỉ quỹ trên thị trường thứ cấp

thông qua nhà mơi giới.

• Quỹ đầu tư dạng mở:

Quỹ đầu tư dạng mở là quỹ liên tục phát hành cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ đầu tư ra

công chúng và thực hiện việc mua lại cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ đầu tư khi người đàu

tư có nhu cầu thu hồi vốn.

Giá của cổ phiếu/chứng chỉ quỹ đầu tư của quỹ đầu tư dạng mở luôn gắn với giá trị

tài sản thuần túy. Chứng chỉ của quỹ đầu tư dạng mở không giao dịch trên thị

trường thứ cấp mà giao dịch thẳng với quỹ hoặc các đại lý được ủy quyền của quỹ.

- Dựa vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ:

• Quỹ đầu tư dạng cơng ty:

Quỹ đầu tư dạng công ty là một pháp nhân độc lập. Cơ quan điều hành cao nhất của

quỹ là hội đồng quản trị quỹ.

Người mua quỹ đầu tư dạng công ty là cổ đơng, có quyền bầu ra các thành viên Hội

đồng quản trị.



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

54



Quỹ đầu tư dạng hợp đồng: ( quỹ tín thác đầu tư)

Đây là quỹ đầu tư tập hợp vốn nhưng khơng hình thành pháp nhân. Mơ hình này

thể hiện rõ vai trò của ba bên tham gia vào hoạt động cảu quỹ (công ty quản lý quỹ,

ngân hàng giám sát bảo quản và các nhà đầu tư).

Với mơ hình này nhà đầu tư góp vốn vào quỹ và ủy thác việc đầu tư cho công ty

quản lý quỹ để đảm bảo khả năng sinh lời lớn nhất từ khoản vốn của họ. Mặc dù

nhà đầu mua chứng chỉ quỹ đầu tư do công ty quản lý quỹ đầu tư đại diện cho quỹ

phát hành nhưng không với tư cách cổ đông mà chỉ đơn thuần là những người thụ

hưởng kết quả kinh doanh từ hoạt động đầu tư cảu quỹ.

Công ty quản lý quỹ đầu tư:

- Cơng ty quản lý quỹ đầu tư chứng khốn là doanh nghiệp theo mơ hình cơng ty cổ

phần (CTCP) hoặc công ty TNHH, được thành lập để hoạt động quản lí quỹ đầu tư

chứng khốn và một số hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật chứng

khoán và các văn bản pháp luật có liên quan.





Mơ hình tổ chức:

• Hội đồng quản trị: là cơ quan đại diện cho các chủ sở hữu của quỹ đầu tư do cổ

đơng bầu ra, là cơ quan duy nhất có quyền quyết định mọi vấn đề của quỹ. Hội

đồng quản trị chịu trách nhiệm triển khai các chính sách đầu tư, chọn công ty quản

lý quỹ và giám sát mọi việc tuân thủ các quyết định đề ra. Theo định kỳ, Hội đồng

quản trị của quỹ sẽ họp xem xét, kiểm tra giám sát tình hình điều hành của cơng ty

quản lý quỹ để giải quyết những vấn đề nảy sinh. Chỉ có quỹ dạng cơng ty mới có

hội đồng quản trị.

• Ngân hàng giám sát: thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư chứng

khoán và giám sát công ty quản lý quỹ nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư.

• Cơng ty quản lý quỹ: thực hiện việc quản lý quỹ việc đầu tư theo danh mục đầu tư

được nêu trong cáo bạch của quỹ.

• Cơng ty kiểm tốn: thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính xác tình

hình hoạt động của quỹ đầu tư, bảo đảm sự minh bạch.

• Ban đại diện quỹ: là các thành viên đại diện quỹ do đại hội dồng nhà đầu tư bầu ra

và hoạt động theo những nguyên tắc được quy định trong điều lệ quỹ. Ban đại diện

quỹ được thành lập theo mơ hình dạng tín khác.

Các loại quỹ ở Việt Nam



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

55



Quỹ nội tại Việt Nam

Lịch sử hình thành: Quỹ đầu tư được hình thành đầu tiên tại Châu Âu vào giữa thế

kỷ 19. Khái niệm quỹ đầu tư chứng khốn khơng mới trên thế giới nhưng trên thị

trường chứng khốn Việt Nam vẫn còn tương đối xa lạ và là cơng cụ đầu tư ít được

các nhà đầu tư nhỏ lẻ quan tâm.

• Ngành quản lý quỹ tại Việt Nam bắt đầu hình thành kể từ tháng 7/2003 với sự ra

đời của Công ty liên doanh Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của

một loại hình tổ chức kinh doanh chứng khốn mới trên thị trường chứng khoán

Việt Nam. Số lượng các công ty quản lý quỹ đã liên tục phát triển nhanh từ năm

2003 có 1 cơng ty quản lý quỹ đến năm 2008 có 44 cơng ty quản lý quỹ.





Thời gian

T7/2003

20/5/200

4



12/3/200

6

13/3/201

3

18/9/201

6

29/6/201



Sự kiện

Công ty liên doanh Quản lý quỹ đầu tư Việt

Nam ra đời.

Quỹ VF1-quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng

dạnng đóng đầu tiên của Việt Nam được thành lập

và niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM

(HOSE) với quy mơ vốn huy động ban đầu là 300 tỷ

đồng.

Quỹ VÌ, quỹ thành viên đầu tiên được cấp

phép thành lập và cấp phép thành lập với tổng số 22

thành viên. Vốn điều lệ tối đa của quỹ là 1,600 tỷ

đồng.

Quỹ mở đầu tiên được thành lâp (quỹ đầu tư

trái phiếu MB Capital Việt Nam)

Quỹ hoán đổi danh mục ETF đầu tiên của Việt

Nam – Quỹ ETF VFMVN30 được thành lập và niêm

yết trên HOSE.

Quỹ bất động sản (REIT) đầu tiên được cáp



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

56



6



giấy phép thành lập.



- Xu hướng hoạt động của các quỹ đầu tư nội tại Việt Nam

Quỹ đầu tư gia tăng về số lượng và đa dạng về loại hình

Quỹ đầu tư tại Việt Nam đã hình thành và nhanh chóng trở thành một trong

những kênh đầu tư hấp đẫn cho các nhà đầu tư. Khởi đầu năm 2003 với một công

ty quản lý quỹ đầu tiên và năm 2004 hình thành quỹ đầu tư đầu tiên thì sau 13 năm,

hiện nay số lượng quỹ và các loại quỹ tại Việt Nam cũng tăng lên nhanh chóng, đáp

ứng nhu cầu đầu tư từ thị trường.

Nếu như tháng 3/2013, trên thị trường chỉ có 1 quỹ mở thì đến nay, sau 12

năm hình thành và phát triển, trên thị trường đã có 30 quỹ đầu tư chứng khoán (số

lượng quỹ đại chúng chiếm 73%), bao gồm 1 quỹ đóng, 8 quỹ thành viên, 18 quỹ

mở, 2 quỹ ETF và 1 quỹ bất động sản.

Tính đến 30/9/2016, tổng giá trị tài sản quản lý lên tới 7,171 tỷ đồng. Hầu

hết các quỹ đều có mức tăng trưởng NAV (giá trị tài sản ròng) khá ổn định. Trong 9

tháng đầu năm 2016, tổng NAV của các quỹ tăng khoảng 2.6 tỷ đồng

Quỹ mở dần chiếm ưu thế và thay thế quỹ đóng

Quỹ đóng ra đời đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 20/5/2004 là quỹ VF1 được

cấp phép thành lập và được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán HCM (HOSE)

với số vốn ban đầu là 300 tỷ đồng. Giai đoạn đầu của quỹ đầu tư, quỹ đóng là quỹ

được các nhà đầu tư tin tưởng, số lượng quỹ đóng tăng nhanh và chiếm phần lớn

trong tổng quỹ đầu tư tại Việt Nam.

Đồng thời, trong 3 năm kể từ năm 2013 số lượng quỹ mở trên thị trường Việt

Nam đã gia tăng một cách chóng mặt. Hiện nay, trong tổng số 30 quỹ đầu tư, số

quỹ mở là 18 (chiếm 60% tổng số quỹ).Cụ thể, nếu năm 2012 số lượng quỹ đóng

trên thị trường là 6 quỹ, thì đến năm 2016 số quỹ đóng trên thị trường chỉ còn 1

quỹ duy nhất Quỹ đầu tư tăng trưởng TVAM (FUCTVGF1) của công ty Quản lý

quỹ Thiên Việt hoạt động và niêm yết trên sàn.

 Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (mã VFMVF1)



Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VFMVF1) là quỹ đại chúng đầu tiên

của Việt Nam, với quy mô vốn ban đầu 300 tỷ đồng, thành lập năm 2004. Sau 10

năm hoạt động, Quỹ đầu tư VF1 đã chuyển đổi thành cơng từ quỹ đóng sang quỹ

mở. Quỹ được phát hành bởi CTCP Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) và được

kiểm soát bởi Ngân hàng THHH một thành viên Standard Chartered (Việt Nam).



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

57



Tên



Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam



quỹ

Tên

Quỹ đầu tư VF1

viết tắt



VFMVF1, niêm yết tại HOSE ( 30-12-2005)

giao dịch

Vốn

1,000 tỷ đồng

điều lệ

Mệnh

10,000 đồng/đơn vị quỹ

giá

Thời

10 năm kể từ ngày thành lập

gian

hoạt

động

Ngân

Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

hàng giám ( Vietcombank)

sát

Công

Ernst & Young Vietnam Ltd.

ty kiểm tốn

Nước

39,897,240 (39.9%)

ngồi

sở

hữu

Beta

Ngày

giao dịch đầ

tiên



0.88

18-12-2006



Lịch sử hình thành



Quỹ đầu tư VF1 được cấp giấy phép tành lập và phát hành CCQĐT ra công

chúng vào ngày 24/03/2004 bởi UBCKNN căn cứ theo Nghị định 1442003/NĐCP

ngày 28/11/2003 về chứng khốn và TTCK và các văn bản pháp lý có liên quan.



Cơng ty bắt đầu niêm yết với mã VFMVF1 ngày 08/11/2004 trên sàn giao

dịch chứng khoán TPHCM.

-







Một số ngành nghề kinh doanh:

SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

58































































Ngành nghề chế biến nơng lâm thủy sản

Ngành tài chính ngân hàng

Ngành du lịch và khách sạn

Ngành giáo dục và y tế

Ngành hàng tiêu dùng

Ngành vân tải hàng hóa

Ngành tiện ích cơng cộng

Bất động sản

Các cơng cụ thị trường tiền tệ

Lợi thế của VFMVF1

Tính thanh khoản cao

Lợi nhuận kỳ vọng cao hơn kênh truyền thống

Giao dịch nhanh gọn, thuận tiện

Khơng đòi hỏi vốn lớn

Phù hợp với các mục tiêu tài chính lâu dài

Vì sao nên đầu tư vào VFMVF1

Lợi nhuận trung bình đạt 16% trong vòng 5 năm trở lại đây

Giao dịch thuận tiện nhất trên thị trường

Phí cạnh tranh nhất

Linh hoạt chuyển đổi giữa các quỹ mà khơng mất phí

Phù hợp cho nhà đầu tư tìm lợi nhuận ổn định trong dài hạn

Các quỹ ngoại trên thị trường Việt Nam

- Giai đoạn phát triển:



Giai đoạn 1991-2001 (trước khi có thị trường chứng khốn Việt Nam): hoạt

động của các quỹ còn nhỏ lẻ, manh mún



Giai đoạn 2001-2005 (thị trường chứng khốn Việt Nam hình thành): dòng

quỹ ngoại bắt đầu quay trở lại thị trường chứng khốn Việt Nam.



Giai đoạn từ 2006 (Việt Nam gia nhập WTO) đến nay: quỹ ngoại hoạt động

mạnh mẽ có vai trò quan trọng với thị trường chứng khốn Việt Nam.



Một số quỹ ngoại niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam





SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

59









Dragon Capital

Hoạt động lâu đời nhất tại Việt Nam là quỹ Vietnam Enterprise Investments

Limited (VEIL) của Dragon Capital, quỹ đầu tư này được thành lập từ năm 1995,

trước khi UBCKNN được thành lập. Sự gắn bó của Dragon Capital phần nào cho

thấy nhà đầu tư lớn nhất này vẫn đang đặt niềm tin vào tiềm năng tăng trưởng của

TTCK Việt.



Năm 2015, Dragon Capital đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử

của quỹ, khi sáp nhập quỹ Vietnam Growth Fund (VGF) vào VEIL, để đưa giá trị

tổng tài sản lên gần mức hơn 1 tỷ USD và trở thành quỹ đầu tư nước ngồi lớn nhất

trên thị trường chứng khốn Việt Nam.







ST •

Cơng ty



Mã •

% tỷ

T

trọng



1 •

CTCP Sữa Việt Nam•

VNM•

13.33

%



2 •

CTCP Thế giới di•

MW •

7.07%

động

G



3 •

Ngân hàng TMCP Á•

ACB•

6.38%

Châu



4 •

CTCP FPT



FPT •

5.82%



5 •

Ngân hàng TMCP•

MBB•

5.22%

Qn đội



6 •

Tổng cơng ty cảng•

ACB•

4.85%

hàng khơng Việt Nam –

CTCP



7 •

Tổng cơng ty khí•

GAS•

4.55%

Việt Nam – CTCP



8 •

CTCP Tập đồn đầu•

NVL•

4.37%

tư địa ốc No Va



9 •

CTCP tập đồn Hồ•

HPG•

4.3%

Phát



10 •

CTCP hàng không•

VJC •

4.17%

Vietjet



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

60



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b/ Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×