Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
e/ Đối với nhà nước.

e/ Đối với nhà nước.

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.5 Các loại hình của quỹ đầu tư chứng khốn

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại hình quỹ đầu tư căn cứ theo

tiêu chí phân loại khác nhau và có các tiêu chí chính như sau:

QUỸ ĐẦU TƯ



Nguồn vốn huy động



QĐT tập thể

QĐT thành viên



Cấu trúc vận động



QĐT dạng đóng

QĐT dạng mở



Đối tượng đầu tư

Cơ cấu tổ chức và quản lí hoạt động



QĐT chứng khốn

QĐT dạng cơng ty

QĐT thị trường tiền tệ

QĐT dạng hợp đồng( tín thác)

Quỹ khác:…



Ngồi căn cứ tiêu chí phân loại chính trên còn có rất nhiều các căn cứ khác

để phân loại quỹ đầu tư như:

Theo mức độ tự do trong quản lý ( mức độ linh hoạt trong quỹ)

Quỹ đầu tư cố định: Là loại quỹ không cho người quản lý quỹ được thay đổi các

chứng khoán trong danh mục đầu tư của quỹ ngoại trừ trường hợp người phát hành

chứng khoán nằm trong danh mục thay đổi tính chất hay quyền hạn pháp lý của

người sở hữu chứng khoán. Thuận lợi của quỹ là người đầu tư có thể các định bản



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

14



chất của chứng khoán nằm trong danh mục đầu tư.Bất lợi của quỹ là khả năng chịu

đựng kém khi giá chứng khoán trong danh mục đầu tư bị giảm.

Quỹ đầu tư linh hoạt: Là loại quỹ đầu tư cho phép người quản lý quỹ có thể thay

đổi đổi các chứng khoán trong danh mục đầu tư của quỹ theo tính tốn của cá nhân

nhằm tránh những tổn thất có thể xảy ra đối với giá trị tài sản của quỹ.Thuận lợi

của quỹ là có được tự do nhất định tron quản lý quỹ, đạt tính chun mơn cao cho

các chuyên gia, cho phép họ kiểm soát các suy giảm trong giá trị tài sản thuần trên

cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ.

Theo mục đích đầu tư

Quỹ đầu tư theo danh mục: chủ yếu mua các chứng khoán niêm yết tạo sở

giao dịch chứng khoán địa phương, hoặc cổ phiếu của công ty thuộc thị trường mới

nổi niêm yết tại các trung tâm tiền tệ quốc tế.

Quỹ đầu tư cổ phần tư nhân: mua các cổ phần tối thiểu qun trọng của các

công ty chưa niêm yết.

Quỹ đầu tư mạo hiểm: chủ yếu mua cổ phần tư nhân trong các công ty mới

và nhỏ hơn. Quỹ đầu tư mạo hiểm mua cổ phiếu thiểu số quan trọng của các công

ty và thường cung cấp tư vấn về quản lý.

Quỹ tương hỗ trong nước: huy động vốn từ cá nhà đầu tư trong nước và mua

chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước.

…….

1.5.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động (phương thức huy động vốn)

Căn cứ vào phương thức huy động vốn, có thể chia quỹ đầu tư chứng

khoán thành hai loại là quỹ tập thể ( hay quỹ công chúng) và quỹ cá nhân (thành

viên)

a/ Quỹ tập thể( công chúng):

là quỹ huy động vốn bằng việc phát hành CCQ rộng rãi ra công chúng với

số lượng tối thiểu là 100 NĐT, có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là

các NĐT riêng lẻ ít am hiểu thị trường với số lượng vốn huy động đạt được ít nhất

là 50 tỷ đồng Việt Nam.Quỹ đại chúng cung cấp cho các NĐT nhở phương tiện đầu

tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu

quả cao do tính chuyên nghiệp ủa QĐT mang lại

đây còn gọi là quỹ đầu tư tập thể, là những quỹ đầu tư được hình thành từ

vốn góp của rất nhiều nhà đầu tư và ủy thác cho một công ty quản lí quỹ để thực

hiện các hoạt động đầu tư của quỹ. Thuật ngữ Muatual Fund có nghĩa là quỹ tương



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

15



hỗ, thuật ngữ này được dùng rất nhiều ở Mỹ, nơi có hệ thống các QĐT rất phát

triển. Thuật ngữ này cũng là một cách gọi đối với các quỹ công chúng.

Do nguồn vốn của quỹ công chúng được huy động từ nhiều nhà đầu tư nên

hoạt động đầu tư của quỹ công chúng phải tuân thủ rất nhiều hạn chế nghiêm ngặt

của pháp luật. Cơng ty quản lí quỹ, cũng phải tn thủ rất nhiều điều kiện khắt khe,

trong hoạt động quản lí của các quỹ này. Cụ thể trong nội dung của điều 92- luật

chứng khoán 2006

Điều 92. Hạn chế đối với quỹ đại chúng



1. Công ty quản lý quỹ không được sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu

tư chứng khoán để thực hiện các hoạt động sau đây:

a) Đầu tư vào chứng chỉ quỹ của chính quỹ đại chúng đó hoặc của một

quỹ đầu tư khác;

b) Đầu tư vào chứng khoán của một tổ chức phát hành quá mười lăm

phần trăm tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của tổ chức đó;

c) Đầu tư quá hai mươi phần trăm tổng giá trị tài sản của quỹ vào

chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành;

d) Đầu tư quá mười phần trăm tổng giá trị tài sản của quỹ đóng vào bất động

sản; đầu tư vốn của quỹ mở vào bất động sản;

đ) Đầu tư quá ba mươi phần trăm tổng giá trị tài sản của quỹ đại chúng

vào các cơng ty trong cùng một nhóm cơng ty có quan hệ sở hữu với nhau;

e) Cho vay hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào.

2. Công ty quản lý quỹ không được phép vay để tài trợ cho hoạt động

của quỹ đại chúng, trừ trường hợp vay ngắn hạn để trang trải các chi phí cần

thiết cho quỹ đại chúng. Tổng giá trị các khoản vay ngắn hạn của quỹ đại

chúng không được quá năm phần trăm giá trị tài sản ròng của quỹ đại chúng

tại mọi thời điểm và thời hạn vay tối đa là ba mươi ngày.

3. Trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, cơ cấu đầu tư

của quỹ đại chúng có thể sai lệch nhưng khơng q mười lăm phần trăm so

với các hạn chế đầu tư quy định tại khoản 1 Điều này. Các sai lệch phải là kết

quả của việc tăng hoặc giảm giá trị thị trường của tài sản đầu tư và các khoản

thanh toán hợp pháp của quỹ đại chúng.

4. Công ty quản lý quỹ có nghĩa vụ báo cáo Uỷ ban Chứng khốn Nhà

nước và công bố thông tin về các sai lệch trên. Trong thời hạn ba tháng, kể từ

ngày sai lệch phát sinh, công ty quản lý quỹ phải điều chỉnh lại danh mục đầu

tư để bảo đảm các hạn mức đầu tư quy định tại khoản 1 Điều này.



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

16



Mục đích của các hạn chế trên là nhằm đảm bảo sự an tồn cho quỹ đầu tư

chứng khốn, bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của các nhà đầu tư.

b/Quỹ cá nhân (thành viên)

Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ CCQ cho một

nhóm nhở cacsc NĐT dựa trên hợp đồng góp vốn của tối đa là 30 thành viên và chỉ

bao gồm thành viên pháp nhân với số vốn đạt được ít nhất là 50 tỷ đồng Việt Nam.

Tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ đại chúng các NĐT tham gia vào

các quỹ này thường với lượng vốn lớn nhưng họ có thể thường xuyên tham gia vào

trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ. Việc kiểm soát này có thể dưới hình thức là

thành viên của HĐQT, cung cấp tư vấn hoặc có ảnh hưởng đáng kể đến các thành

viên của các HĐQT của công ty nhận đầu tư.

Về bản chất, quỹ thành viên là một dạng quỹ đầu tư chứng khoán tuy nhiên,

quỹ này chỉ giới hạn ở một số ít nhà đầu tư tham gia góp vốn.

Mục tiêu chủ yếu của việc thành lập các quỹ thành viên là để thực hiện các

hoạt động đầu tư có tính chất tương đối mạo hiểm. Các hoạt động đầu tư này có thể

mang lại những khoản lợi nhuận tiềm năng rất cao cho các nhà đầu tư, tuy nhiên rủi

ro cũng rất lớn.

Với tính chất rủi ro như vậy, quỹ thành viên không phù hợp với việc huy

động vốn từ quần chúng. Quy mô và phạm vi huy động vốn của quỹ chỉ tập trung

vào một số nhà đầu tư lớn, có tiềm lực tài chính và có khả năng chấp nhận những

rủi ro cao trong hoạt động đầu tư. Chính vì vậy, để tham gia vào quỹ thành viên,

các nhà đầu tư phải đạ được những điều kiện nhất định do pháp luật đặt ra.

Với tính chất và mục tiêu như trên, các quỹ thành viên thường không phải

chịu các hạn chế như quỹ công chúng.

Hiện tại, hầu hết các nước có thị trường chứng khốn phát triển đều có hình

thức đầu tư này.

1.5.2 Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn

a/Quỹ đóng

Đây là hình thức quỹ phát hành CCQ một lần duy nhất khi tiến hành

huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/CCQ khi

NĐT có nhu cầu bán lại. Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi

kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các CCQ sẽ được niêm yết trên

TTCK. Các NĐT có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc CCQ của

mình thơng qua thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ cố định và

không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động. CCQ có thể được giao dịch



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

17



với giá thấp hoặc cao hơn giá trị tài sản dòng của quỹ ( NAV). Hình thức quỹ

đóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là quỹ đầu tư VF1 do cơng VFM

huy động vốn quản lý.



Đặc tính của quỹ đóng

Chỉ tiêu



ĐẶC TÍNH

Huy động vốn từ NĐT trong một giai đoạn phát hành,có

thể tăng vốn theo thời điểm khác nhau.

CTQLQ chỉ giao dịch trực tiếp với NĐT trong thời gian

huy động vốn, và khi Quỹ giải thể do hết thời hạn hoạt động.

Quỹ đóng được niêm yết và giao dịch trên sàn giao dịch

chứng khoán.

NĐT sử dụng các dịch vụ giao dịch ccq như một chứng

khốn niêm yết thơng qua sàn giao dịch

-



Giao

dịch

mua/bán

chứng

chỉ quỹ



Dựa trên giá thị trường, phụ thuộc vào lượng cung/cầu

thị trường.

Có thể lớn hoặc nhỏ hơn giá trị NAV của Quỹ

Giá trị NAV của quỹ phản ánh hiệu quả đầu tư nhưng chỉ

mang tính tham khảo.

NĐT trả phí giao dịch chứng khốn cho cơng ty chứng

khốn.

-



Giá giao

dịch



Phân

phối



- Việc phân phối CCQ chỉ thực hiện trong thời gian huy động

lần đầu, hoặc khi tăng vốn điều lệ Quỹ thông qua cơng ty

chứng khốn hoặc CTQLQ.



b/Quỹ mở

Quỹ mở là quỹ được thành lập với thời gian vô hạn. Sau đợt phát hành lần

đầu ra công chúng, giao dịch mua/bán của nhà đầu tư được thực hiện định kỳ căn

cứ vào giá trị tài sản ròng (NAV). Giao dịch này được thực hiện trực tiếp với công

ty Quản Lý Quỹ hoặc tại các Đại lý chỉ định.



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

18



Khác với quỹ đóng, tổng vốn cũa quỹ mở biến động theo từng ngày giao

dịch do tính chất đặc thù của nó là NĐT được quyền bán lại CCQ đầu tư cho

quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao

dịch. Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua bán CCQ được thực hiện

trực tiếp với CTQLQ và các CCQ không được niêm yết trên TTCK. Do việc

đòi hỏi tính thanh khoản cao, hình thức quỹ mở này mới chỉ tồn tại ở các nước

có nền kinh tế và TTCK phát triển như Châu Âu, Mỹ, Canada… và chưa có

mặt tại Việt Nam. Quỹ mở chỉ mới dừng lại ở khái niệm theo Luật Chứng

Khốn năm 2006 và chưa có văn bản cụ thể hướng dẫn thực hiện cho loại quỹ

này ở Việt Nam

Tổng vốn của quỹ mở biến động theo từng đợt giao dịch do tính chất đặc thù

của nó. Giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản

lý quỹ và các chứng chỉ quỹ khơng được niêm yết trên thị trường chứng khốn

Đặc tính của quỹ mở

Chỉ tiêu



ĐẶC TÍNH

-



Giao dịch

mua/bán

chứng chỉ

quỹ



-



Giá giao

dịch

Phân phối



Huy động vốn liên tục trong q trình hoạt động

Có thể mua/bán vào thời điểm định kỳ với CTQLQ.

Có thể chuyển đổi giữa các quỹ khác nhau cùng công ty quản

lý quỹ.

Không niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán.

CTQLQ phải cân bằng giữa tỷ lệ tiền mặt phù hợp và đảm

bảo tính thanh khoản khi nđt muốn rút vốn.

Quy trình quản lý quỹ phức tạp hơn vì luồng tiền được

ra/vào thường xuyên – thời điểm nđt nộp tiền/rút vốn có khả

năng ảnh hưởng tới kết quả đầu tư của quỹ;



- Mua/bán CCQ căn cứ vào giá trị NAV của quỹ tại thời điểm giao

dịch. -Khơng có chiết khấu giữa giá giao dịch và giá trị NAV.

- NĐT phải trả phí phát hành/phí mua lại/phí chuyển đổi cho

CTQLQ khi thực hiện giao dịch.

-



CCQ được phân phối liên tục tại các Đại lý Phân phối (Cty

Chứng khoán, ngân hàng, CTQLQ).

Phân biệt giữa quỹ đầu tư đóng và quỹ đầu tư mở



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

19



Tiêu chí



Quỹ mở



Quỹ đóng



Số lượng cổ phiếu/CCQ

lưu hành



Ln thay đổi



Ổn định



Chào bán ra công chúng/

phát hành



Liên tục( nhiều lần)



Một lần



Việc mua/ bán lại



Có mua lại



Khơng mua lại



Thời gian hoạt động



Vơ thời hạn



Thơng thường có giới hạn và

được quy định trong bản cáo

bạch



Niêm yết trên TTCK



Khơng







Nơi mua bán/ giao dịch

chứng chỉ quỹ



Mua bán trực tiếp

tại quỹ đầu tư,

người bảo lãnh phát

hành hay mơi giới,

các đại lí được ủy

quyền



Cổ phiếu giao dịch trên thị

trường chứng khốn tập trung

và OTC. Hay nói cách khác là

trên thị trường thứ cấp như

thông qua HOSE



Mối quan hệ giữa giá

mua/ giá trị tài sản ròng

NAV



Giá mua =NAV

phí giao dịch



Giá mua được xác định theo

cung cầu trên thị trường => giá

mua có thể thấp hơn hoặc cao

hơn giá trị tài sản thuần



+/-



Ngồi ra còn có một số dạng khác xuất phát từ hai hình thái trên:

Quỹ bán mở: có sự hạn chế hơn so với Quỹ mở. Nhà quản lý Quỹ đồng ý mua

cổ phiếu từ các cổ đơng tại mức giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu tại các thời gian

định trước.

Quỹ tín thác đơn vị UIT (unit investment trust): được thành lập theo một chứng thư

uỷ thác hay một công cụ tương đương về tính pháp lý. Vốn đóng góp cũng như mọi đầu

tư bằng vốn đóng góp sẽ do cá nhân hoặc tổ chức được uỷ thác giữ. Ban đầu, khi thành

lập Quỹ, nhà tư vấn đầu tư thu xếp gộp vào trong một danh mục đầu tư rồi phân ra thành

các đơn vị (giống như các cổ phần thường) để bán cho người đầu tư qua môi giới. Các

đơn vị thường được bán theo giá trị tròn số (Mỹ: 1.000USD) trong lần phát hành đầu tiên.

SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

20



Các nhà môi giới, bảo lãnh phát hành sẽ đồng thời là người duy trì hoạt động mua bán các

đơn vị đó. Giá các đơn vị sẽ tuỳ thuộc vào giá các chứng khoán trong danh mục đầu tư

của Quỹ. Người mua các đơn vị đầu tư này phải trả một khoản phí ban đầu cho người

mơi giới bán, thường là 4%. Chính khoản phí cao như vậy mà các nhà đầu tư ngắn hạn

thấy khơng có lợi khi đầu tư vào loại quỹ này

1.5.3 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và quản lí hoạt động

Dựa vào cơ cấu tổ chức và hoạt động quỹ chia quỹ đầu tư thành hai dạng đó

là quỹ đầu tư dạng cơng ty và quỹ đầu tư dạng hợp đồng( tín thác).

a/Quỹ đầu tư dạng cơng ty

Trong mơ hình này, QĐT là một pháp nhân, tức là một cơng ty được hình

thành theo quy định của pháp luật từng nước. Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ

là hội đồng quản trị do các cổ đơng (NĐT) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lý

toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn CTQLQ, giám sát hoạt động đầu tư của

CTQLQ và có quyền thay đổi CTQLQ. Trong mơ hình này, CTQLQ hoạt động

như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý

danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác. Mơ hình này

chưa xuất hiện ở Việt Nam vì theo quy định của UBCKNN, QĐT khơng có tư cách

pháp nhân.

Cơng ty đầu tư hoạt động trên cơ sở Luật doanh nghiệp và các quy định tài

chính chuyên ngành. Được thiết lập dưới hình thức cơng ty cổ phần.

Cơng ty đầu tư huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ

đầu tư và bán cho người đầu tư. Nhà đầu tư là cổ đông với tư cách một đơng

thường. Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ có thể niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán

hoặc thị trường phi tập trung.

b/Quỹ đầu tư dạng hợp đồng

Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư. Khác với mơ hình QĐT dạng cơng ty,

mơ hình này QĐT khơng phải là pháp nhân mà hoàn toàn là một lượng tiền nhất định

do các nhà đầu tư đóng góp. CTQLQ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động

vốn, thực hiện đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó,

ngân hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa

CTQLQ và ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng giám sát trong đó quy

SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

21



Quản lý

Lưu lý

Giám sát



Kiểm toán



định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư

đểĐiều

bảohành

vệ quyền lợi của các NĐT. NĐT là những người góp vốn vào quỹ nhưng

Quản líphải

đầu tư

khơng

là cổ đơng như mơ hình NĐT dạng cơng ty và ủy thác việc đầu tư cho

Nghiên cứu

CTQLQ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ.



Cơng ty quản lí quỹ



Cơng ty kiểm toá

(Erast & Young)



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

22



Là một cơ chế hoạt động gồm công ty quản lý quỹ, người lưu giữ tài sản

của quỹ và người đầu tư.

Quỹ này được tạo lập bằng việc ký hợp đồng tín thác giữa cơng ty quản lý

quỹ và người được tín thác. Người đầu tư trở thành người hưởng lợi của quỹ bằng

việc đóng tiền vào quỹ và sau đó được nắm giữ chứng chỉ quỹ.

Ngồi ra, theo thơng lệ quốc tế, việc phân loại các quỹ đầu tư cũng được xem

xét theo hình thức đầu tư tập trung cửa quỹ. Khi quỹ được thành lập, trong bản cáo

bạch của quỹ nêu rất rõ quỹ sẽ đầu tư lĩnh vực nào hoặc quốc gia nào…, hoặc có

những quỹ lại taaoj trung vào một lĩnh vực nào đó như: lĩnh vực cơng nghiệp, lĩnh

vực dịch vụ, lĩnh vực sản xuất phần mềm….

1.5.4 Căn cứ vào đối tượng đầu tư



Căn cứ vào đối tượng đầu tư quỹ đầu tư được chia ra thành rất nhiều loại và

bản thân mỗi loại lại bao gồm nhiều dạng nhỏ khác. Sơ đồ trên là một số dạng nhở

nói chung. Cụ thể sẽ như sau:

a/Quỹ đầu tư cổ phiếu (stock fund):

Là quỹ đầu tư hoàn toàn vào một chủng loại cổ phiếu nhất định, như cổ

phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu chưa niêm yết, mạo hiểm… để phù hợp

với nhu cầu, sở thích, điều kiện của từng nhà đầu tư cụ thể. Bao gồm:



SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

23



– Quỹ đầu tư cổ phiếu tăng trưởng (growth fund) theo đuổi sự tăng trưởng

vốn, thu nhập cổ tức khơng phải là yếu tố chính yếu. Các Quỹ này đầu tư vào cổ

phiếu thường của các công ty có chiều hướng tăng trưởng cao.

– Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm (venture capital fund hay hedging fund) theo

đuổi sự tăng trưởng tối đa về vốn, thu nhập cổ tức khơng phải là yếu tố chính yếu.

Các Quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu của công ty mới, công ty đang gặp khó khăn

hay thuộc các ngành tạm thời khơng được ưa chuộng. Các Quỹ này có thể sử dụng

các kỹ thuật đầu tư đòi hỏi mức rủi ro cao hơn trung bình.

– Quỹ đầu tư thu nhập – vốn cổ phần (income-equity fund) theo đuổi mức

thu nhập cao bằng việc đầu tư chủ yếu vào các cổ phiếu và cơng ty có tiền sử trả cổ

tức tốt.

– Quỹ đầu tư chọn ngành (industry selection fund) theo đuổi sự tăng trưởng

vốn. Các Quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo vị thế của ngành hoặc theo một số

tiêu chuẩn riêng của Quỹ. Hình thức đầu tư này đi ngược lại nguyên tắc đa dạng

hoá danh mục đầu tư, nó tạo những rủi ro khơng thể lường trước.

– Quỹ đầu tư chọn vốn (capital selection fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn.

Các Quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo quy mơ vốn của cơng ty, có thể là cơng

ty vốn lớn, trung bình hoặc vốn nhỏ.

– Quỹ đầu tư tăng trưởng và thu nhập (growth and income fund) theo đuổi sự

tăng trưởng vốn dài hạn và thu nhập hiện tại. Các Quỹ này đầu tư vào cổ phiếu

thường của các cơng ty có giá trị cổ phần tăng lên và có một tiền sử trả cố tức vững

chắc.

b/Quỹ đầu tư vàng và kim loại quý (precious metals/ gold fund) theo đuổi sự

tăng trưởng vốn. Quỹ này đầu tư vào các loại kim loại như vàng, bạc, kim

cương… hoặc cổ phiếu của các công ty kinh doanh các loại kim loại này. Sự tăng

giảm giá trị ròng của quỹ phụ thuộc vào sự biến động giá của các kim loại này.

c/Quỹ đầu tư chỉ số (index fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại cao

Là quỹ có danh mục đầu tư được xây dựng để mô phỏng một chỉ số cụ thể

(như S&P 500 hay VN-Index) nhằm mục đích đa dạng hóa danh mục và tối thiểu

hóa rủi ro phi hệ thống. Loại quỹ này phù hợp với các nhà đầu tư thụ động bởi nó

cho phép người quản lý bỏ ra ít cơng sức hơn so với các loại quỹ có danh mục biến

đổi thường xuyên.

Hai loại hình quỹ đầu tư chỉ số phổ biến là quỹ tương hỗ chỉ số và quỹ giao

dịch chỉ số – Exchange Traded Fund (ETF). Exchange Traded Fund (Quỹ ETF) là

một hình thức quỹ đầu tư thụ động mơ phỏng theo một chỉ số cụ thể. Danh mục của

SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN- 1141270022

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

e/ Đối với nhà nước.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×