Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Rừng xà nu là hình ảnh trung tâm có vẻ đẹp riêng, gắn bó mật thiết với cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân Tây Nguyên, biểu tượng cho những phẩm chất cao đẹp của con người Tây Nguyên: sức sống mãnh liệt, kiên cường, bất khuất, khao khát tự do.

- Rừng xà nu là hình ảnh trung tâm có vẻ đẹp riêng, gắn bó mật thiết với cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân Tây Nguyên, biểu tượng cho những phẩm chất cao đẹp của con người Tây Nguyên: sức sống mãnh liệt, kiên cường, bất khuất, khao khát tự do.

Tải bản đầy đủ - 0trang

@hthd2410

- Nghệ thuật trần thuật: trong truyện Rừng xà nu có hai lớp thời gian: thời gian

kể chuyện( chỉ trong một buổi chiều và đêm Tnú về thăm làng Xô Man) và thời gian

các sự kiện được kể rất dài ( các sự kiện về cuộc đời Tnú).

- Điểm nhìn trần thuật : ngôi thứ ba giấu mặt và cụ Mết.

- Tính sử thi:

+ Hướng tới vấn đề mang tính cộng đồng, ý nghĩa toàn dân tộc, thời đại.

+ Phản ánh cuộc kháng chiến của nhân dân làng Xô Man, người dân Tây Nguyên

+ Các nhân vật mang tính sử thi( Tnú, cụ Mết) tiêu biểu cho dân làng Xô Man,

tính cách điển hình của người dân Tây Ngun.

+ Hình tượng cây xà nu mang vẻ đẹp sử thi lớn lao, kỳ vĩ, có sự kết hợp giữa hiện

thực và biểu tượng lãng mạn.

+ Ngôn ngữ nghệ thuật trang trọng, hào hùng, tráng lệ.

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

- Nguyễn Thi –

Kiến thức cơ bản

1. Tác giả: Nguyễn Thi (1928-1968)

- Gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ, là nhà văn của nhân dân Nam Bộ thời kỳ

chống Mỹ

- Nhân vật tiêu biểu: Người nơng dân Nam Bộ có lòng cảm thù giặc sâu sắc, vơ cùng

gan góc, kiên cường, thuỷ chung son sắc với quê hương và cách mạng.

- Cây bút có năng lực phân tích tâm lí sắc sảo.

- Ngơn ngữ phong phú, góc cạnh, giàu giá trị tạo hình và đậm chất Nam Bộ.

2. Tác phẩm: "Những đứa con trong gia đình".

- Truyện ngắn xuất sắc - ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

* Đọc, hiểu văn bản:

1. Cảm nhận chung:

- Kể chuyện: tự sự qua dòng hồi tưởng của Việt khi bị trọng thương nằm lại 1 mình ở

chiến trường, trong bóng tối.

→ nhà văn có điều kiện nhập sâu vào thế giới nội tâm nhân vật để dẫn dắt câu chuyện.



⇒ Diễn biến câu chuyện biến đổi linh hoạt, tự nhiên.



- Sự hòa quyện, gắn bó giữa tình cảm gia đình với tình yêu đất nước, những truyền

thống gia đình với truyền thống dân tộc tạo nên sức mạnh to lớn của người Việt nam,

dân tộc Việt nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

2. Hình tượng nhân vật:

a. Nét chung thống nhất của gia đình:

- Căm thù giặc sâu sắc

- Gan góc, dũng cảm, khao khát, chiến đấu, giết giặc.

- Giàu tình nghĩa, rất mực thủy chung son sắt với quê hương, Cách mạng.



129



@hthd2410



→ truyền thống gia đình trong mối quan hệ với truyền thống Cách mạng, dân tộc tạo

nên 1 dòng sơng truyền thống.

b. Nét riêng tiêu biểu từng thành viên:

(1) Chú Năm:

- Hay kể về sự tích gia đình, tác giả của cuốn biên niên sử gia đình.

- Dặn dò các cháu

- Tiếng hò đầy tâm tư: tha thiết, nhắn nhủ, lời thề, trái tim, tâm hồn, luôn hướng về

truyền thống, đại diện và lưu giữ truyền thống. Ông là khúc thượng nguồn của dòng

sơng truyền thống, là nơi kết tinh đầy đủ hơn cả truyền thống của gia đình.

(2) Má Việt - Chiến:

- Hiện thân của truyền thống:

+ Tảo tần, đảm đang, tháo vát thương yêu chồng con hết mực.

+ ghìm nén đau thương đời mình để sống chở che cho đàn con và chiến đấu.

→ Bà là biểu tượng về người phụ nữ nông dân Nam Bộ thời chống Mỹ.

(3) Chị Chiến:

- Giống mẹ:

+ Vóc dáng

+ Đức tính: gan góc, đảm đang

→ kế thừa



- Tính cách:

+ Vừa trẻ con: tranh cơng bắt ếch, tranh đi tòng qn, tranh công bắt tàu giặc

+ Vừa ý thức là chị: thương em, lo cho em, nhường nhịn em.

→ Một cô bé hồn nhiên, vô tư ở tuổi mới lớn



- Khác mẹ

+ trẻ trung, thích làm dáng

+ có điều kiện trực tiếp cầm súng đánh giặc trả thù nhà, thực hiện lời thề sắt đá.

→ biết kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình và dân tộc.

(4) Việt

- Tính tình hồn nhiên, trẻ con

+ Ln giữ trong mình cái ná thun, cho tới khi đã vào bộ đội

+ Vị thương rất nặng tới lần 2 "trong bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo", Việt không sợ

chết mà lại sợ ma và bóng đêm.

+ Yêu chị nhưng hay tranh giành với chị.

+ Rất yêu quý đồng đội nhưng khơng nói thật là mình có chị, sợ mất chị, phải giấu chị.

- Có tình thương u gia đình sâu đậm:

130



@hthd2410

+ Tình cảm chi em, đối với linh hồn má, với chú Năm.

+ Hình ảnh cha mẹ thân u ln chập chờn trong hồi ức khi bị thương.

- Tính chất anh hùng, tinh thần chiến đấu dũng cảm:

+ Luôn ý thức phải sống và chiến đấu để trả thù nhà, đền nợ nước xứng đáng với

truyền thống gia đình.

+ Can đảm chịu đựng khi bị thương.

+ Tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu dù đang bị kiệt sức.

→ một con sóng vươn xa nhất trong dòng sơng truyền thống, người tiêu biểu cho tinh

thần tiến công cách mạng.

* Tiểu kết: Mỗi con người trong gia đình là một khúc sơng trong dòng sơng truyền

thống. Mỗi khúc sơng có một đặc điểm riêng nhưng họ vẫn hướng về tô đậm hơn, phát

huy hơn truyền thống gia đình gắn chặt trong mối tình đất nước thời kháng chiến

chống Mỹ.

* Ngơn ngữ nghệ thuật:

- Xây dựng nhân vật bằng chi tiết cụ thể, làm rõ góc cạnh của cuộc sống, tạo nên khơng

khí chân thực và có linh hồn.

+ Chi tiết đắt giá nhất: "Chị em Chiến khiêng bàn thờ má sang gởi nhà chú Năm →

tập quán lâu đời gợi sự thiêng liêng, nhân vật trở nên trưởng thành hơn.

- Ngôn ngữ mang đậm chất Nam Bộ.

- Phát huy tối đa ngôn ngữ độc thoại nội tâm.

tài năng Nguyễn Thi trong nghệ thuật kể chuyện.

3. Tổng kết:

- Nghệ thuật trần thuât độc đáo

- Truyện phản ánh, ngợi ca tinh thần bất khuất, truyền thống đấu tranh chống giặc

ngoại xâm của dân tộc và đồng bào Nam Bộ.



CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

- Nguyễn Minh Châu –

KIẾN THỨC CƠ BẢN:

1. Kiến thức về tác giả:

- Nguyễn Minh Châu (1930- 1989), xuất thân trong một gia đình nơng dân, q ở

xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Ông bắt đầu viết văn từ 1954, nhưng thực sự khẳng định tài năng của mình kể từ

tiểu thuyết Cửa sơng (1967) và Dấu chân người lính (1972).

- Ơng được coi là nhà văn mở đường tinh anh của văn học Việt Nam thời kì đổi

mới.



131



@hthd2410

- Năm 2000, ơng được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ

thuật.

2. Kiến thức về tác phẩm:

a. Hoàn cảnh, xuất xứ tác phẩm:

- “Chiếc thuyền ngoài xa” viết năm 1983, là nhan đề truyện ngắn nhưng đồng

thời cũng là tên tập truyện do Nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1987. Năm

2001, truyện ngắn này được in trong Nguyễn Minh Châu, Toàn tập, tập 3.

- Tác phẩm nằm trong xu hướng chung của văn học thời kì đổi mới: hướng nội,

khai thác sâu sắc số phận cá nhân và số phận con người trong cuộc sống đời thường.

b. Nội dung, nghệ thuật:

- Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh:

+ Thứ nhất:

.Một cảnh “đắt” trời cho- một cảnh tượng tuyệt đẹp mà thiên nhiên, cuộc sống

ban tặng cho con người. Đó là hình ảnh chiếc thuyền lưới vó ẩn hiện trong biển sớm

mờ sương có pha đơi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào, “từ đường nét đến ánh

sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và tồn bích”.

.Với người nghệ sĩ, khung cảnh đó chứa đựng “chân lí của sự tồn thiện”, làm

dấy lên trong Phùng những xúc cảm thẩm mĩ, khiến tâm hồn anh như được gột rửa, trở

nên trong trẻo, tinh khôi. Cái đẹp đã thanh lọc được tâm hồn con người.

+ Thứ hai:

Một cảnh tượng phi thẩm mĩ: một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi; một gã đàn

ơng to lớn, dữ dằn, phi nhân tính. Gã đàn ơng đánh đập người vợ một cách thơ bạo;

đứa con vì thương mẹ đã đánh cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố... ->một cảnh

tượng hoàn toàn trái ngược, giống như một trò đùa quái ác của cuộc sống.

Phùng “ngơ ngác” khơng tin vào mắt mình. Anh kinh ngạc, sững sờ, chết lặng bởi

cái xấu, cái ác lại hiện hữu ngay trước mắt, ngay sau cái đẹp kì diệu kia.

=>Qua hai phát hiện của người nghệ sĩ, nhà văn muốn phát biểu: Cuộc đời

không đơn giản, xuôi chiều mà ln chứa đựng nhiều nghịch lí. Cuộc sống ln tồn tại

những mặt đối lập, mâu thuẫn. Chính vì thế, con người, nhất là người nghệ sĩ, không

nên vội đánh giá con người, sự vật, hiện tượng ở dáng vẻ bên ngoài mà phải phát hiện

ra bản chất thực sau vẻ ngoài ấy.

- Câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện:

+ Chị đến tòa án để nghe chánh án Đẩu khuyên bảo và đề nghị từ bỏ người chồng

vũ phu. Nhưng chị đã từ chối và sẵn sàng đánh đổi mọi giá để không phải li hơn. Chị lí

giải: Hắn là chỗ dựa quan trọng của những người đàn bà hàng chài như chị. Chị cần

hắn để nuôi dưỡng đàn con. Hơn nữa, trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái hòa

thuận, vui vẻ ...

+ Câu chuyện đã giúp chánh Đẩu hiểu ra rất nhiều điều, trong anh “có một cái gì

mới vừa vỡ ra”. Còn nghệ sĩ Phùng nhận thấy người đàn bà hàng chài là một phụ nữ

nghèo khổ, nhẫn nhục nhưng không ngờ nghệch mà kín đáo, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời.

Tuy bề ngồi thơ kệch nhưng chị có tâm hồn đẹp đẽ, giàu đức hi sinh và lòng vị tha.



132



@hthd2410

Lòng tốt và pháp luật là rất cần thiết nhưng phải được xem xét trong những hoàn cảnh

cụ thể ...

=> Qua câu chuyện về cuộc đời người đàn bà hàng chài và cách ứng xử của các

nhân vật, nhà văn muốn gửi đến người đọc thơng điệp: đừng nhìn cuộc đời, con người

một cách đơn giản, phiến diện, mà phải đánh giá sự việc, hiện tượng trong các mối

quan hệ đa diện, nhiều chiều.

- Tấm ảnh được chọn trong “bộ lịch năm ấy”:

+ Mỗi lần nhìn kĩ vào bức ảnh đen trắng, nghệ sĩ Phùng vẫn thấy “hiện lên cái màu

hồng hồng của ánh sương mai”- đó là chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc đời, cũng là biểu

tượng của nghệ thuật.

+ Nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy “người đàn bà ấy đang bước ra khỏi

tấm ảnh”- đó hiện thân của những lam lũ, khốn khổ, là sự thật cuộc đời vẫn buộc

những con người có lương tri phải trăn trở.

=> Qua tấm ảnh được chọn trong “bộ lịch năm ấy”, Nguyễn Minh Châu thể hiện

những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời:

Nghệ thuật chân chính khơng thể tách rời, tách li cuộc sống. Nghệ thuật phải gắn với

cuộc đời và phải vì cuộc đời.

- Nghệ thuật:

+ Xây dựng được một tình huống truyện độc đáo, có ý nghĩa khám phá, phát hiện về

đời sống;

+ Nhà văn lựa chọn ngơi kể, điểm nhìn thích hợp, làm cho câu chuyện trở nên

gần gũi, chân thực và có sức thuyết phục;

+ Ngôn ngữ nhân vật sinh động, phù hợp với tính cách; lời văn giản dị mà sâu sắc, đa

nghĩa.

HỒN TRUƠNG BA, DA HÀNG THỊT

( Trích)- Lưu Quang Vũ

Kiến thức cơ bản.

1. Tác giả:

- Lưu Quang Vũ (1948-1988), quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại Phú Thọ trong một gia

đình trí thức.

- Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, viết truyện… nhưng

thành công nhất là sáng tác kịch.

- LQV trở thành hiện tượng đăc biệt của sân khấu kịch VN thế kỉ XX, là nhà viết

kịch tài năng nhất của văn học VN hiện đại.

- Ơng được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.

2. Tác phẩm:

a. Hoàn cảnh sáng tác:

- Lưu Quang Vũ viết vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” năm 1981, năm 1984

thì ra mắt công chúng. Vở kịch dựa vào câu chuyện dân gian, nhưng đã có những thay

đổi cơ bản.

133



@hthd2410

– Điểm khác biệt :

+ Trong truyện dân gian, nhân vật Trương Ba tiếp tục sống bình thường, hạnh

phúc khi được nhập hồn vào thân xác anh hàng thịt. Ngắn gọn và đơn giản, truyện dân

gian mang một tư tưởng triết học có phần cơ bản đúng, nhưng chỉ đề cao linh hồn,

tuyệt đối hóa linh hồn, khơng để ý đến mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn.

+ Vở kịch của Lưu Quang Vũ tại tập trung diễn tả tình cảnh trớ trêu, nỗi đau khổ, giày

vò của Trương Ba từ khi “bên trong một đằng, bên ngồi một nẻo”. Từ đó đưa đến những

tư tưởng mới : sự tồn tại độc lập của thân xác đối với linh hồn và khẳng định một quan

niệm đúng đắn về cách sống.

b.Tóm tắt tác phẩm:

Trương Ba là một người làm vườn và giỏi đánh cờ đã bị Nam Tào bắt chết

nhầm. Vì muốn sửa sai, nên Nam Tào và Đế Thích cho Hồn Trương Ba sống lại và

nhập vào xác hàng thịt mới chết. Trú nhờ trong xác anh hàng thịt, Trương Ba gặp rất

nhiều phiền toái : lý tưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba

cũng cảm thấy xa lạ,… mà bản thân Trương Ba thì đau khổ vì phải sống trái tự nhiên

và giả tạo. Đặc biệt thân xác hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những

nhu cầu vốn khơng phải chính bản thân ông. Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và

sự phiền toái do mượn thân xác của kẻ khác, Trương Ba quyết định trả lại xác cho

hàng thịt và chấp nhận cái chết.

c. Đặc trưng của kịch.

Tạo được những tình huống xung đột, mâu thuẫn và diễn tả được sự phát triển

xung đột, mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, rồi cuối cùng là giải quyết các xung đột, mâu

thuẫn đó

*Tìm hiểu khái niệm bi kịch

- Bi kịch là một thể của loại hình kịch (đối lập với thể hài kịch).

- Xung đột kịch được tạo dựng từ những mâu thuẫn không thể giải quyết được,

mọi cách khắc phục mâu thuẫn đó đều dẫn đến sự diệt vong những giá trị quan trọng.

- Nhân vật của bi kịch thường là những người anh hùng, có những say mê, khát

vọng lớn lao nhưng đơi khi còn có cả những sai lầm trong hành động và suy nghĩ nên

dẫn đến kết thúc bi thảm. Kết thúc bi thảm của nhân vật bi kịch thường có ý nghĩa

thức tỉnh, khơi gợi tình cảm nhân văn của mỗi con người.

3. Đoạn trích:

a. Vị trí.

* Vị trí : Đoạn trích trích cảnh VII và đoạn kết của vở kịch.

* Tóm tắt diễn biến tình huống kịch: Xung đột trung tâm của vở kịch (hồn

Trương Ba và xác hàng thịt) lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng trú ngụ trong thể xác

anh hàng thịt, Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè, người thân và ơng cũng

chán ghét chính mình. Từ đó dẫn đến cuộc đối thoại mang tâm trạng dằn trở của nhân

vật: đối thoại với chính mình (độc thoại) đan xen với các cuộc đối thoại khác (đối

thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, với những người thân, với Đế Thích).

Trương Ba đau khổ, tuyệt vọng và đi đến quyết định giải thoát.

b. Nội dung, nghệ thuật:

134



@hthd2410

* Nội dung:

Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt

- Trương Ba được trả lại sự sống nhưng đó là một cuộc sống đáng hổ thẹn, vì phải

sống chung với sự dung tục và bị sự dung tục đồng hóa.

- Khi con người phải sống trong dung tục thì tất yếu cái dung tục ấy sẽ ngư trị,

thắng thế và sẽ tàn phá những gì trong sạch cao q của con người.

- Linh hồn và thể xác là hai phương diện tồn tại trong mỗi con người. Đừng “bỏ bê”

thân xác để chỉ biết đến một thứ linh hồn chung chung trừu tượng không thuộc về một ai

trên cõi thế gian này.

- Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và xác thịt là cuộc đấu tranh giữa đạo đức và tội

lỗi, giữa khát vọng và dục vọng, giữa phần “người” và phần “con” trong mỗi con

người

Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và những người thân

- Tình huống bi kịch thúc đẩy hồn Trương Ba phải lựa chọn với sự phản kháng mãnh

liệt "chẳng còn cách nào khác…, Khơng cần đến cái đời sống do mày mang lại. Không

cần".

- Con người phải đấu tranh với nghịch cảnh, với chính bản thân , chống lại sự

dung tục để hoàn thiện nhân cách.

Màn đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Đế Thích

- Đế Thích: cái nhìn hời hợt, phiến diện về con người

- Trương Ba: ý thức sâu sắc về ý nghĩa của sự sống: Sống thực cho ra một con

người không phải là điều đơn giản- Hồn và Xác phải hài hòa, khơng thể có một tâm

hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục tội lỗi

Màn kết

- Trương Ba trả xác cho anh hàng thịt; chấp nhận cái chết để được là chính mình

và linh hồn được trong sạch

- Hóa thân vào cây cỏ, các sự vật thân thương để tồn tại vĩnh viễn bên cạnh

những người thân yêu với niềm tin cuộc sống vẫn tuần hồn theo quy luật của mn

đời.

- Bi kịch mang âm hưởng lạc quan; thông điệp về sự chiến thắng của cái Thiệncái Đẹp- của cuộc sống đích thực.

=> Ý nghĩa

- Bi kịch của con người khi bị đặt vào nghịch cảnh: Phải sống vay mượn, sống

tạm bợ và trái với tự nhiên khiến tâm hồn nhân hậu, thanh cao bị nhiễm độc và tha hóa

bởi sự lấn át của thể xác thô lỗ, phàm tục.

- Vẻ đẹp tâm hồn của những người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự giả

tạo và dung tục, bảo vệ quyền được sống đích thực cùng khát vọng hồn thiện nhân

cách.

- Thông điệp:

+ Được sống làm người thật là quý giá ; nhưng được sống đúng là mình, sống

trọn vẹn với những giá trị mình muốn có và theo đuổi còn quý giá hơn.

135



@hthd2410

+ Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi người ta được sống tự nhiên với sự hài hoà giữa tâm

hồn và thể xác.

+ Con người phải luôn luôn đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bản thân,

chống lại sự dung tục, để hồn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao

quý

* Nghệ thuật:

+ Sự hấp dẫn của kịch bản văn học và nghệ thuật sân khấu.

+ Sự kết hợp giữa tính hiện đại với các giá trị truyền thống.

+ Nghệ thuật dựng cảnh, dựng đối thoại, độc thoại nội tâm.

+ Hành động của nhân vật kịch phù hợp với hồn cảnh, tính cách, góp phần phát triển

tình huống kịch.

+ Kết hợp hài hòa sự phê phán quyết liệt và chất trữ tình đằm thắm, bay bổng.



NGƯỜI LÁI ĐỊ SƠNG ĐÀ(Trích)

- Nguyễn TuânKiến thức cơ bản

1. Về tác giả:

- Nguyễn Tuân ( 1910 - 1987 ), quê Nhân Mục - Từ Liêm - Hà Nội.

- Sinh ra trong gia đình nhà nho khi Hán học đã suy tàn.

- Nguyễn Tuân là người ham mê xê dịch.

- Viết văn muộn nhưng nhanh chóng nổi tiếng ( 28 tuổi ).

- Là tổng thư kí hội nhà văn Việt Nam ( 1948 - 1958 ).

- Phong cách nghệ thuật độc đáo: tài hoa, uyên bác.

2. Về tác phẩm:

2.1. Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ.

Người lái đò sơng Đà là kết quả của nhiều dịp đến với Tây Bắc của Nguyễn

Tuân, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Đây là trong số 15 bài tuỳ bút của

Nguyễn Tuân in trong tập tập Sông Đà xuất bản năm 1960.

2.2 Nội dung.

* Sông Đà - con sông “hung bạo” ở miền Tây Bắc.

- Vẻ đẹp hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội của thiên nhiên Sông Đà:

+ Các vách đá: Cảnh hai bên bờ sông “Đá dựng vách thành...như một cái yết

hầu”gợi sự nguy hiểm và vẻ đẹp kỳ vĩ của khung cảnh thiên nhiên.

+ Qng “ mặt ghềnh Hát Lng” con sơng “ gùn ghè... như lúc nào cũng đòi

nợ xuýt bất cứ người lái đò nào” ,“Nước xơ đá, đá xơ sóng, sóng xơ gió’’ tạo nên mối

đe dọa với bất cứ người lái đò nào qua đây.



136



@hthd2410

+ Những Cái hút nước chết người hiện hình dưới nhiều góc độ khác nhau: Giống

như “cái giếng bê tông”; “ thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”; “ nước ặc ặc lên như vừa

rót dầu sơi vào”.

+ Thác nước “ nghe như là ốn trách, ...van xin”; khi thì “khiêu khích, giọng

gằn và chế nhạo”....có lúc nó “ rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng lồng lộn

giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa”...

+ Đá sông Đà trông “ ngỗ ngược, nhăn nhúm” sẵn sàng giao chiến. Khi thì mai

phục, liều lĩnh, khi thì kiêu ngạo, khiêu khích và thách thức với con người. Cả trận địa

đá đã được bày binh bố trận sẵn sàng dìm chết con thuyền.

=>Tất cả tốt lên vẻ dữ dội, kì vĩ của thiên nhiên.

* Sơng Đà - con sơng “trữ tình” của miền Tây Bắc.

- Hình dáng:“Con sơng Đà tn dài tn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc

chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn

cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”; Sông Đà như một thiếu nữ Tây Bắc với vẻ

đẹp trữ tình, trẻ trung và duyên dáng.

- Màu nước: Màu sắc đa dạng của son sông Đà biến đổi theo mùa, mỗi mùa một

vẻ đẹp riêng: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích...mùa thu lừ lừ chín đỏ...”

- Cảnh hai bên bờ sông:.bờ sông hoang dại ...hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích.

- Cảnh trên mặt sơng: “lặng tờ...những đàn cá dầm xanh, cá anh vũ quẫy..rơi

thoi”, “những con đò nở mình chạy buồm vải”

=> Vẻ đẹp n ả thanh bình.

* Người lái đò sơng Đà:

- Là một người lao động, nhưng là nghệ sĩ trong lao động, hơn nữa là một dũng

tướng trong cuộc thuỷ chiến thường xuyên với thác nước sơng Đà. Đó là một con

người bình thường, hiền lành, dũng cảm, say mê sông nước. Khi chở đò, ơng lái đò là

nghệ sĩ, là dũng tướng tài ba trên sông nước.

- Kết thúc công việc, ông lại là một người bình thường:

+ Con người quý giá ấy lại chỉ là những ơng lái, nhà đò nghèo khổ, làm lụng âm

thầm, giản dị, vô danh.

+ Những con người vơ danh đó đã nhờ lao động, nhờ đấu tranh chinh phục thiên

nhiên mà trở nên lớn lao, kì vĩ, hiện lên như đại diện của con người.

=> Vẻ đẹp và chủ nghĩa anh hùng khơng chỉ có trong chiến đấu mà còn trong lao

động. Người lái đò dũng cảm, tài hoa, trí dũng chính là “vàng mười” của vùng Tây

Bắc.

2.3. Nghệ thuật.

- Đặc điểm nổi bật của tuỳ bút Nguyễn Tuân là uyên bác và tài hoa. Ông vận

dụng kiến thức lịch sử, địa lí, hội hoạ, điện ảnh, quân sự để viết về con sông hung dữ

và thơ mộng. Ơng ln có cảm hứng đặc biệt trước những hiện tượng phi thường, gây

cảm giác mạnh. Nhà văn nhìn cảnh vật và con người thiên và phương diện mĩ thuật và

tài hoa.



137



@hthd2410

- Để làm nổi bật tính chất hung bạo và trữ tình của Sơng Đà, tác giả đã vận dụng

và kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa, liên tưởng, tưởng tượng độc

đáo, thú vị, câu văn đa dạng nhiều tầng bậc giàu hình ảnh, nhịp điệu ...ln xây dựng

hình tượng nhân vật ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ.



AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DỊNG SƠNG

- Hồng Phủ Ngọc Tường –

Kiến thức cơ bản:

1.Tác giả:

- Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế.

- Nguyên quán: Làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

- Học Trung học tại Huế, tốt nghiệp ĐHSP Sài Gòn năm 1960 và Đại học Huế năm

1964.

- Từng là: Tổng thư ký Hội văn học nghệ thuật Trị Thiên - Huế, Chủ tịch Hội văn học

nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt.

-> Hồng Phủ Ngọc Tường là một trí thức u nước, có vốn hiểu biết sâu rộng trên

nhiều lĩnh vực. Ông là một trong những nhà văn chuyên về thể loại bút ký.

Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính

trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức

phong phú về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lý... Tất cả được thể hiện qua lối hành văn

hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.

2. Tác phẩm:

a. Bố cục:

- Đoạn 1: Từ đầu đến “dưới chân núi Kim Phụng”; Sơng Hương vùng thượng lưu là

dòng chảy có mỗi quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn.

- Đoạn 2: Từ “Phải nhiều thế kỷ” đến “Quê hương xứ sở”: Sông Hương những mối

quan hệ với kinh thành Huế.

- Đoạn 3: Còn lại: Sơng Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, với cuộc

đời và thi ca.

b. Chủ đề:

- Tình u và lòng tự hào tha thiết, lắng sân dành cho dòng sơng q hương, cho xứ

Huế và càng làm cho đất nước văn hiến từ nghìn xưa.

- Sông Hương là biểu tượng cho vẻ đẹp của cảnh và người đất kinh thành.

* Đọc - hiểu văn bản:

1. Thủy trình của Hương giang:

a. Ở nơi khởi nguồn: Sơng Hương có vẻ đạp hoang dại, đầy cá tính, là bản trường

ca của rừng già, là cơ gái di-gan phóng khoáng và man dại, là người mẹ phù sa của

một vùng văn hóa xứ sở.

- Trong “ sử thi buồn”, Hồng Phủ Ngọc Tường từng nói: “ Trước khi về hội nhau ở

ngã ba Tuần, cả hai nhánh nguồn của sông Hương đều đã rong ruổi triền miên qua

địa bàn sinh sống của nguời Cà Tu giữa rừng già. Trước khi là sơng Hương của Huế,



138



@hthd2410

nó đã là một dòng sông của dân tộc Cà Tu, mang cái tên gốc “Pơ-ly-ê-điêng” là sơng

“A Pàng”.

+ “Pàng”, tiếng Cà Tu có nghĩa là đời người.

+ “A Pàng”, dòng sơng “Đời người”, ơi dòng sơng Huế, nó đã chở đầy phận người từ

thuở giọt địa chất sinh ra.( Sử thi buồn).

=> Trong cảm nhận hướng nội tài hoa của tác giả, đời sông tựa như đời người nên

sông Hương vùng thượng nguồn mang vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại

và đầy cá tính:

- Trong đoạn này:

+ Sơng Hương tựa như “một bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu hùng

tráng, dữ dội: khi “ rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, lúc “ mãnh liệt vượt qua ghềnh

thác”, khi “ cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu”, lúc “ dịu dàng và say

đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”.

+ Sơng Hương hiện ra tựa “Cơ gái Digan phóng khoáng và man dại” với một “bản

lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”.

=> Theo tác giả, nếu ai đó mải mê nhìn ngắm khn mặt kinh thành của dòng sơng thì

sẽ khơng hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sơng hình như không

muốn bộc lộ. Cái tâm hồn vừa sục sôi vừa đằm thắm của “thiếu nữ A Pàng”.

b. Đến ngoại vi TP Huế: Sông Hương như người gái nằm ngủ mơ màng giữa cánh

đồng Châu Hóa đầy hoa dại được người tình mong đợi đến dánh thức. Thủy trình của

SH khi bắt đầu về xi tựa một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của

một người con gái đẹp trong câu chuyện tình yêu lãng mạn nhuốm màu cổ tích.

- Trong cái nhìn minh triết và lãng mạn của tác giả: Trước khi trở thành “Người tình

dịu dàng và chung thuỷ của cố đơ”, tồn bộ thuỷ trình của dòng sơng tựa như một

cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của người con gái trong một câu

chuyện tình u nhuốm màn cổ tích:

- Giữa cánh đồng Châu Hố đầy hoa dại: Sơng Hương là “cô gái đẹp ngủ mơ màng”.

- Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi: Sông Hương như nàng tiên được đánh

thức: Bừng lên sức trẻ và niềm khát khao của tuổi thanh xuân trong sự “chuyển dòng

liên tục”, rồi “vòng những khúc quanh đột ngột”, “vẽ một hình cung thật tròn”, “ơm

lấy chân đồi Thiên Mụ”, rồi “trơi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”.

c. Đến giữa TP Huế: SH như tìm được chính mình vui hẳn lên…mềm hẳn đi như một

tiếng “vâng” khơng nói ra của tình u . Nó có những đường nét tinh tế, đẹp như

điệu “slow” tình cảm dành riêng cho Huế, như người tài nữ đánh đàn lúc đêm

khuya…

- Khi chảy qua kinh thành Huế Sông Hương như cô gái Huế: tài hoa, dịu dàng mà sâu

sắc, đa tình mà kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình. Khéo trang điểm mà không

loè loẹt, giống như cô dâu Huế ngày xưa trong sắc áo điều lục.

=> Như từng thấy chính mình khi gặp thành phố thân u:

- sơng Hương “vui tươi hẳn lên giữa những bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long”.

- rồi kéo một nét thẳng đầy cá tính “theo hướng tây nam – đơng bắc”, rồi “uốn một

cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Huế”

- những dòng sơng mềm hẳn đi như một tiếng “Vâng!” khơng nói ra của tình u.”



139



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Rừng xà nu là hình ảnh trung tâm có vẻ đẹp riêng, gắn bó mật thiết với cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân Tây Nguyên, biểu tượng cho những phẩm chất cao đẹp của con người Tây Nguyên: sức sống mãnh liệt, kiên cường, bất khuất, khao khát tự do.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×