Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lý Đàn Tư (Lý Đàn Tư)

Lý Đàn Tư (Lý Đàn Tư)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phụ Lục



Trương Nguyên

Bia Mộ Liễu Tuyền Bồ Tiên Sinh

Tiên sinh húy Tùng Linh, tự Lưu Tiên, lại tự Kiếm Thần, biệt hiệu Liễu Tuyền. Văn chương ý khí

hào hùng một thời, người học bất kể thân sơ xa gần, quen hay không quen, cũng không ai không biết

Liễu Tuyền tiên sinh, vì thế danh tiếng tiên sinh lẫy lừng khắp thiên hạ. Tiên sinh đầu tiên dự thi khóa

Đồng tử, lập tức đỗ đầu cả ba kỳ ở huyện ở phủ ở tỉnh, được bổ Bác sĩ đệ tử, nổi tiếng văn chương

trong các Chư sinh. Nhưng cứ vào thi hội là trượt, cảm khái nói “Là do mệnh chăng!". Vì thế quyết ý

bỏ đường khoa danh, dốc sức vào cổ văn, phấn phát rèn luyện, ngày càng tinh tiến. Mà bình sinh chán

chường thất chí, rơi rụng uất ức, nhìn ngắm chuyện đời, bi phẫn cảm khái, lại có chỗ khích phát chí

khí, nên văn chương trong lòng nảy hoa, kỳ lạ chập chùng, vì thế có thể dứt bỏ sự rỗng tuếch, tự thành

một nhà. Mà chỗ uẩn súc chưa dùng hết, nên lại sưu tập chuyện quái lạ, soạn thành bộ Chí dị, tuy việc

dính líu tới chuyện xa xôi hư ảo, nhưng gọt sửa nghiêm cẩn, yếu chỉ ở chỗ sửa tục răn người, phù trì

chính giáo, cũng như vì thế mà trước tác cổ văn thơi, chứ khơng phải soạn thuật bừa bãi.

Tiên sinh tính chất phác trọng hậu, ưa thích giao du, coi trọng danh tiết, nhưng riêng cao tự thẳng,

nhất là không thể cùng cúi ngựa với đời. Lúc trẻ cùng người trong huyện là các tiên sinh Lý Hy Mai

và bác họ tơi là Lịch Hữu, Thị Tồn kết thành thi xã Sính Trung, lấy phong nhã đạo nghĩa chơi thân

với nhau, thủy chung khơng hề có chút xích mích. Cấp gián Tơn cơng trong hương là danh thần đương

thời, rất có oai vọng, nên tơi tớ có khi lén lút rơng càn. Hương lý khơng ai dám nói, chỉ có một mình

tiên sinh cương quyết dâng thư hơn ngàn chữ chê trách, Tôn công được thư kinh ngạc khen ngợi, lập

tức răn sức tơi tớ, họ đều thu mình giữ phép. Tư khấu Vương tiên sinh ở Tân Thành vốn coi tiên sinh

là người có tài lạ, mấy lần gửi thư muốn nhận tiên sinh làm môn hạ, nhưng sau cùng tiên sinh lấy cớ có

bệnh từ tạ, khơng tới ra mắt.

Than ôi, người học chưa gặp tiên sinh, mà mắt đọc văn chương, tai nghe danh tiếng, thì cho rằng

người này ắt là kẻ sĩ cao đàm hùng biện, ý khí hiên ngang. Đến khi gặp con người thì thấy là bậc

trưởng giả trang nghiêm, nghe trò chuyện thì ấp úng như khơng nói nên lời, mà xét bên trong thì uẩn

súc sâu xa, đều có thể lấy điều trong lòng mà giúp cho đời. Thế mà nghèo túng lận đận, cuối đời chỉ là

một Minh kinh già, chỉ có văn chương có thể lừng lẫy đương thời lưu truyền hậu thế. Đó là điều khơng

may của tiên sinh, chứ há có thể theo đó mà biết hết tiên sinh đâu?

[353]



Ông nội của tiên sinh húy x



Nột (trên chữ Nột có một chữ khơng đọc được, bản Liêu Trai của

[354]



Quốc học Phù Luân xã cho là chữ Sinh)

. Cha húy Bàn, cưới Lưu thị, là con gái cửa Lưu công Quý

Điều Táng Quảng. Có bốn con trai, tám cháu nội, bốn chắt nội, cháu năm đời chỉ mới có một người.

Trước tác có Văn tập 4 quyển, Thi tập 6 quyển, Liêu Trai chí dị 8 quyển. Mất ngày 22 tháng 1 năm

Khang Hy thứ 54, hưởng thọ 76 tuổi trong năm ấy chơn ở gò cao phía đơng thơn.

Qua mười một năm, đến năm Ung Chính thứ 3, con ông muốn dựng bia nêu đức, bảo tôi viết văn

bia. Vì tơi là kẻ hậu tiến người cùng huyện, lại biết nhiều về tiên sinh, nên không từ chối mà viết bài



văn để dựng trên mộ Minh rằng:

Hữu văn bất hiển,

Hũu tích bất thi.

Súc cửu nhi xí,

Vi hậu chi ky (cơ).

Dĩ trưng dĩ tín,

Thị thử minh tỳ (từ).

(Tài khơng thành đạt,

Giỏi không phô bày,

Chứa lâu phát sáng,

Lưu tiếng lâu dài.

Để tin để biết,

Xem bài minh này).

Kẻ hậu học người cùng huyện là Trương Nguyên soạn.

Dựng ngày Thanh minh tháng 2 năm ất tỵ Ung Chính thứ 3 (1725).

Mặt Sau Bia Mộ Liễu Tuyền Bồ Tiên Sinh

x sinh x giờ Tuất ngày 16 tháng 4 năm Sùng Trinh thứ 15, mất vào giờ Dậu ngày 22 tháng 1 năm

Khang Hy thứ 54.

Mẹ sinh vào giờ Thân ngày 26 tháng 11 năm Sùng Trinh thứ 18, mất vào giờ Mùi ngày 26 tháng 9

năm Khang Hy thứ 52.

Ghi thêm năm trước tác khác

x thân ngữ lục, Hồi hình lục, Lịch tự văn, Nhật dụng tục tự, Nông tang kinh mỗi loại 1 tập.

Ba vở hý khúc Khảo từ cửu chuyển hóa lang nhi, Chung muội khánh thọ, Náo quán.

Mười bốn vở hý khúc thông tục

Tường đầu ký, Cô phụ khúc, Từ bi khúc, Phiên yểm ương, Hàn sâm khúc, Cầm sắt lạc, Bồng Lai

yến, Tuấn Dạ Xoa, Cùng hán từ, Xú tuấn ba khoái khúc mỗi loại 1 tập. Nhương đố sấm, Phú quý thần

[355]



tiên khúc sau đổi thành Ma nan khúc, Tăng bổ Tường vân khúc mỗi loại 2 tập...



.



Hồ Thích

Lời Bạt Bài Bia Mộ Liễu Tuyền Bồ Tiên Sinh Của Trương Nguyên

Về sự tích của Bồ Tùng Linh, ghi chép sớm nhất là bài Liễu Tuyền Bồ tiên sinh mộ biểu do

Trương Nguyên viết. Không may là các sách dẫn lại bài văn bia này đều không chép đủ nguyên văn,

lại thường có chỗ in lầm sửa lầm, vì thế gây ra khơng ít chuyện buồn cười. Năm trước tiên sinh Lộ

Đại Hoang người Truy Xuyên tìm được tấm bia ấy trên mộ Tùng Linh, dập một bản gửi cho tôi, tôi

đem so sánh với các bản sao, thấy bản dập của Lộ tiên sinh dòng nào cũng thiếu bốn chữ dưới cùng,

đại khái là đoạn bị lún xuống đất. Nên tơi xin ơng móc đất lên dập lại bản khác. Lộ tiên sinh được thư

tôi vào lúc tháng chạp mùa đơng lạnh giá, xơng pha gió tuyết đi móc đất dập bia, “Nhưng nước có thể

đóng băng, sáp mực đều vô dụng, đi lại bốn lần mới miễn cưỡng dập được”. Nhiệt tâm của ông giúp

chúng ta hôm nay đọc được toàn văn bài văn bia, biết được sự tích của Tùng Linh, giải quyết được rất

nhiều nghi nan trong việc hiệu khám và khảo cứu, đó là điều tơi cảm kích nhất. Phần chính văn của tấm

bia này gồm 15 dòng, mỗi dòng 50 chữ, phần mặt sau bia khắc giờ ngày tháng năm sinh và mất của vợ

chồng Bồ Tùng Linh và mục lục các trước tác của ông. Đoạn cuối khắc tên bốn con trai, tám cháu nội,

bốn chắt nội, một cháu năm đời của ông.

Trong văn bia nói lúc chết Bồ Tùng Linh “hưởng thọ 76 tuổi” phù hợp với ghi chép trong Sơn Tả

thi sao và Truy Xuyên chí, đủ chứng minh sự sai lầm của các bản chép “thọ 86 tuổi”. Sự lầm lẫn một

chữ ấy có quan hệ khơng nhỏ. Vài năm trước có một người bậy bạ ngụy tạo hơn hai trăm bài thơ, đặt

tên là Liêu Trai thi tập, in thạch ấn lưu hành, trong đó có năm bài đều là căn cứ vào một chữ bị lầm ấy

mà bịa đặt ra! Sơn Tả thi sao trích sao bài văn bia này, trong có một câu:

“Thiếu dữ đồng ấp Lý Hy Mai cập tùng phụ Lịch Hữu kết Sính Trung thi xã" (Lúc trẻ cùng người

trong huyện là Lý Hy Mai và bác họ là Lịch Hữu kết thành thi xã Sính Trung).

Liêu Trai văn tập do Quốc học Phù Luân xã ở Thượng Hải in chữ chì cuối thời Thanh có in kèm

bài mộ biểu, câu này trong đó lại là:

“Dũ đồng ấp Lý Hy Mai cập dư tùng bá phụ Lịch Thị hữu, tồn kết Sính Trung thi xã” (Lúc trẻ

cùng người trong huyện là các tiên sinh Lý Hy Mai và bác họ Tôi là Lịch Thị kết bạn, đều kết thành

thi xã Sính Trung).

Ở đây “Lịch Thị" là tên người, "hữu” là động từ, "toàn” là phó từ biểu thị thời gian. Bản in thạch

ấn Liêu Trai văn tập của Phường gian là in lại bản của Phù Luân xã, người biên tập quen đọc Liêu

Trai chí dị, biết "Trương Lịch Hữu” là tên người, nên sửa câu này thành:

“Dữ đồng ấp Lý Hy Mai cập dư tùng bá phụ Lịch Hữu thân, toàn kết vi Sính Trung thi xã” (Lúc

trẻ cùng người trong huyện là các tiên sinh Lý Hy Mai và bác họ tôi là Lịch Hữu chơi thân, đều kết

thành thi xã Sính Trung).

Ở đây đổi chữ "thị” thành chữ "thân", làm động từ, về văn lý cũng thông. Nhưng hiện tại chúng ta

xem bản dập bài bia, thì nguyên văn câu này là "Thiếu dữ đồng ấp Lý Hy Mai cập dư tùng bá phụ



Lịch Hữu, Thị Toàn chư tiên sinh kết vi Sính Trung thi xã” (cùng người trong huyện là các tiên sinh Lý

Hy Mai và bác họ tôi là Lịch Hữu, Thị Tồn kết thành thi xã Sính Trung). Nguyên bản có ba chữ "chư

tiên sinh" (các tiên sinh), nên vừa nhìn là biết ngay “Lịch Hữu, Thị Tồn" là hai tên người. Các thi

nhân được nhắc tới trong Sơn Tả thi sao có Trương Đốc Khánh, tự Lịch Hữu, Trương Lý Khánh, tự

Thị Toàn. Từ Thị Toàn là lấy từ câu "Thị lý khảo tường, kỳ toàn nguyên cát” (Xem việc làm xét lành

dữ, nếu trọn vẹn , nguyên cát) quẻ Thiên trạch Lý trong Kinh Dịch. Về sau các bản chép tay bỏ mất ba

chữ “chư tiên sinh" (các tiên sinh), người sau khơng biết “Tồn Thị" cũng là nhân danh, nên tìm đủ

cách đọc sai sửa bừa. Nếu chúng ta khơng từng nhìn thấy bản dập bài bia, cũng quyết không thể phát

hiện ra chỗ sai lầm trong câu này. Câu chuyện nhỏ nhoi này có thể khiến chúng ta hiểu rõ cái học hiệu

khám ắt phải tìm được bản nền sớm nhất tốt nhất. Khơng có bản nền cổ nhất, chỉ dựa vào sự thơng

minh nhỏ mọn của cá nhân mà đoán, mà sửa bừa, thì đó là hiệu khám đốn mò, khơng phải là hiệu

khám khoa học.

Thế nhưng xem tới mặt sau tấm bia, thì chúng ta lại nhận được một bài học ngược lại! Bài học ấy

là: chữ khắc trên bia cũng có thể sai! Mặt sau bia khắc như sau: "Cha sinh vào giờ Tuất ngày 16 tháng

4 năm Sùng Trinh thứ 15, mất vào giờ Dậu ngày 22 tháng 1 năm Khang Hy thứ 54.

Mẹ sinh vào giờ Thân ngày 26 tháng 11 năm Sùng Trinh thứ 18, mất vào giờ Mùi ngày 26 tháng 9

năm Khang Hy thứ 52".

Ở đây rõ ràng có hai ba chữ sai. Bồ Tùng Linh chết ngày 22 tháng 1 năm Khang Hy thứ 54 (1715),

năm 76 tuổi, bia mộ ghi rất rõ ràng, từ năm Khang Hy thứ 54 tính ngược lên, thì năm sinh của ơng phải

là năm Canh thìn Sùng Trinh thứ 13 (1640). Bản sao Liêu Trai toàn tập cựu bản ở Đại học Thanh Hoa

có bài thơ Dòng thần khốc mẫu, trong có đoạn:

"Lão mẫu hơ ngã tọa, Đại tiểu nhiễu thân bàng... Nhân ngơn Canh thìn niên, Tuế sự tự cơ hoang.

Nhĩ niên ư thử nhật, Đản nhữ tại bắc phòng...” (Mẹ già gọi ta ngồi, Lớn nhỏ đều xúm quanh. Nhân nói

năm Canh thìn, Cay đắng chuyện mùa màng. Ngày này vào năm ấy, Sinh ngươi ở bắc phòng) (Bản sao

của Mã Lập Huân ở Truy Xuyên cũng có bài thơ này).

Điều này có thể chứng minh câu “Sùng Trinh thập ngũ niên" (Năm Sùng Trinh thứ 15) ở mặt sau

tấm bia phải là Sùng Trinh thập tam niên" (Năm Sùng Trinh thứ 13).

Ngoài ra phu nhân của ông chết vào ngày 26 tháng 8, không phải ngày 26 tháng 9. Trong Văn tập

có bài Nguyên phối Lưu Nhụ nhân hành bảo, ghi chép về cái chết của bà như sau:

“Năm Quý tỵ (Khang Hy thứ 52) đã 71 tuổi, hơm Trung thu uống rượu trò chuyện với con gái và

các con dâu, rì rầm đến trưa, hơm sau thì bị bệnh, cũng chưa có gì lạ. Qua vài hôm mệt mỏi không dậy

được, mọi người mới lo lắng. Người thì nóng ran, thầy thuốc cho uống thuốc mát, lại càng nóng dữ.

Các con trai ra chợ mua vải may áo liệm, vừa may xong, ngày 26 còn nằm coi sóc việc nhà, lúc vừa

lên đèn thì mấy lần đòi thay áo, nói ‘Ta đi đây. Khơng có chuyện gì dặn lại, chỉ đừng làm Phật sự mà

thơi’. Kế đó tắt hơi...”

Theo bài này thì bà chết sau lúc lên đèn ngày 26 tháng 8 mặt sau bia lại khắc là "tháng 9" và "giờ

Mùi” đều là ghi lầm.



Phần quý báu nhất ở mặt sau bia là bảng kê các trước tác của Bồ Tùng Linh. Bảng kê này sắp xếp

rất lộn xộn, chữ viết lớn nhỏ cũng khơng có quy luật nhất định, đọc lần đầu thì rất không dễ mà hiểu,

nay tra cứu xác định như sau:

Ghi thêm năm tập trước tác khác .

x thân ngữ lục (chữ bị thiếu là chữ “Tỉnh", bản sao của Đại học Thanh Hoa).

Hồi hình lục (bản sao của Đại học Thanh Hoa)

Lịch tự văn (bản sao của Đại học Thanh Hoa, nhan đề là Thời hiến văn, vì từ đời Càn Long trở

[356]



đi kỵ húy vua nhà Thanh

nên đổi nhan đề, cuối sách có câu "Lịch văn một quyển, dạy bọn nhỏ

ngươi", đủ chứng minh nguyên tác là Lịch văn hoặc Lịch tự văn).

Nhật dụng tục tự (bản sao của Á Đông Đồ thư quán)

Nông tang kinh (bản sao của Đại học Thanh Hoa, bản sao của Hồ Thích).

Ba vở hý khúc:

Khảo từ cửu chuyển hóa lang nhi (chưa tìm thấy)

Chung muội khánh thọ (chưa tìm thấy).

Náo quán (chưa tìm thấy).

Mười bốn vở hý khúc thơng tục

Tường đầu ký (Bắc Bình Tân thời báo đã đăng qua, bản sao của á Đông Đồ thư quán).

Cô phụ khúc (diễn chuyện San Hô, bản sao của á Đông Đồ thư quán).

Từ bi khúc (diễn chuyện Trương Thành, bản sao của á Đông Đồ thư quán).

Phiên yểm ương (diễn chuyện Cừu Đại Nương, bản sao của Á Đông Đồ thư quán).

Hàn sâm khúc (diễn chuyện Thương Tam Quan, bản sao của Á Đơng Đồ thư qn).

Cầm sắt lạc (chưa tìm thấy).

Bồng Lai yến (diễn chuyện Ngô Thái Loan tả vận, bản sao của Á Đông Đồ thư quán).

Tuấn Dạ Xoa (diễn chuyện một con ma cờ bạc hối lỗi, bản sao của Á Đơng Đồ thư qn).

Cùng hán từ (chưa tìm thấy Có thể đây chính là bài Trừ nhật tế thần văn trong Liêu Trai bạch

thoại vận văn do Hoành xã xuất bản?).

Xú tuấn ba (chưa tìm thấy).

Khối khúc (chưa tìm thấy).

Nhương đố sấm (diễn chuyện Giang Thành, bản sao của Á Đông Đồ thư quán).

Phú quý thần tiên khúc sau đổi thành Ma nan khúc (nhan đề này là nói đầu tiên là Phú quý thần

tiên khúc, sau đổi thành Ma nan khúc, diễn chuyện Trương Hồng Tiệm, bản sao của Á Đông Đồ thư

quán, nhan đề là Phú quý thần tiên)

Tăng bổ Tường vân khúc (diễn chuyện hoàng đế Chính Thống vào kỹ viện chơi bời, bản sao của

Á Đông Đồ thư quán).

Trở lên mỗi loại 2 tập.

Nhưng rõ ràng trong bài mộ biểu này có rất nhiều sai sót. Quan trọng nhất có những quyển sau

đây: Văn tập (bài mộ biểu nói có 4 quyển, bản sao cựu bản của Đại học Thanh Hoa, bản sao của Mã



Lập Huân, bản sao của Hồ Thích).

Thi tập (bài mộ biểu nói có 6 quyển, bản sao của Đại học Thanh Hoa, Mã Lập Huân, Hồ Thích).

Liêu Trai chí dị (bài mộ biểu nói có 8 quyển, bản Thơng hành).

Đó đều được chép trong bài mộ biểu. Ngồi ra còn có một số tác phẩm mà bài mộ biểu và mặt

sau bia khơng nhắc tới:

Vấn thiên từ (bản in chữ chì của Phác xã, theo khảo chứng của tiên sinh Lộ Đại Hoang, sách này

là tác phẩm của Lập Đức cháu nội Bồ Tùng Linh. Bài của Lộ quân đăng trong Quốc văn chu báo,

quyển 11, số 30).

Đào học truyện (bản in chữ chì của Phác xã).

Trừ nhật tế cùng thần văn, Cùng thần đáp văn (bản in chữ chì của Phác xã).

(Năm quyển trên đây, xem Liêu Trai bạch thoại vận văn của Mã Lập Huân, bản in Phác xã).

Tỉnh thế nhân duyên tiểu thuyết (bản Thông hành, bản in chữ chì của á Đơng đồ thư qn. Bão

Đình Bác nói sách này là của họ Bồ trước tác).

Hơn giá tồn thư (trong Văn tập có bài tựa. Sách này chưa tìm thấy).

Dược sùng thư (trong Văn tập có bài tựa. Sách này chưa tìm thấy)

Gia chính nội thiên, Gia chính ngoại thiên (theo tiên sinh Lộ Đại Hoang dẫn lại từ Liễu Tuyền

cư sĩ hành lược của Vương Hồng Mưu ở Ích Châu. Sách này chưa tìm thấy).

Tiểu học tiết yếu (trong Văn tập có bài tựa và bài bạt. Sách này chưa tìm thấy).

Đọc xong thư mục tác phẩm nói trên, đọc qua những tác phẩm hiện còn giữ được chúng ta không

thể không thừa nhận vị Tú tài già nghèo khổ này quả thật là một tác giả văn học cũ và văn học mới rất

vĩ đại ở thế kỷ XVII.

Ngày 1 tháng 10 năm Dân quốc thứ 24 (1935).

-- Hết --



[1]



Tân Liêu Trai, Transcrit en quốc ngữ par Vũ Hi Tô, 1er édition, Đỗ Văn thư quán (ấn). Sửa lại

và giữ quyền lợi: Phù Văn Librairie, Hà Nội, 1921-1922. Tất cả 2 quyển, quyển 1 có các truyện Tích

nàng Hương Ngọc (Hương Ngọc), Thư si, Lỗ Cơng nữ, Phòng Dỹ (?), quyển 2 có các truyện Phương

Tiên, Lục y nữ, Chúc Thanh, Chúc Thành.

[2]



Ở đây chúng tơi theo văn bản trong Liêu Trai chí dị thập di, Minh Đức Đồ thư Công ty xb.,

Hương Cảng, 1961.

[3]



K. Marx và F. Engels, Tuyển tập, sđd., tập II, tr. 386



[4]



Các truyện trong bản dịch Liêu Trai chí dị của Nguyễn Chánh Sắc, Nguyễn Viên Kiều và Ngô

Tường Vân in năm 1916-1918: Cuốn thứ nhứt (Aout 1916): Chuyện nàng Liên Tỏa (Liên Tỏa),

Chuyện nàng Thanh Phụng (Thanh Phượng), Chuyện nàng Ngũ Thu Nguyệt (Ngũ Thu Nguyệt), Chuyện

Diệp Sanh (Diệp sinh), Chuyện ăn mày tiên (Cái tiên), Bói tiền (Bốc tiền), Chuyện mồ Tào Tháo (Tào

Tháo trủng), Chuyện Tần Cối (Tần Cối), Chuyện nàng Lăng Giác (Lăng giác), Thay hồn đổi xác

(Trường Thanh tăng), Chuyện Trương Hồng Tiệm (Trương Hồng Tiệm). Cuốn thứ nhì (Septembre

1916): Chuyện Trương Hồng Tiệm (tiếp theo), Chuyện nàng Hồng Ngọc (Hồng Ngọc), Chuyện nàng

Hằng Nương (Hằng Nương), Tề Thiên Đại thánh (Tề Thiên Đại thánh), Chuyện nàng A Bửu (A Bảo),

Chuyện ông Lục Phán quan (Lục Phán quan), Chuyện nàng Hiệp nữ (Hiệp nữ). Cuốn thứ ba (Mars

1917): Chuyện nàng Hiệp nữ (tiếp theo), Chuyện Mao Đại Phước (Mao Đại Phúc), Chuyện nàng Anh

Ninh (Anh Ninh), Chuyện nàng Tiểu Mai (Tiểu Mai), Chuyện Châu nhi (Châu nhi), Quả báo (Chiết lâu

nhân), Gươm bén (Khoái đao), Chuyện nàng Nhiếp Tiểu Thiến (Nhiếp Tiểu Thiến), Chuyện họ Đỗ

(Đỗ thị). Cuốn thứ tư (Novembre 1917): Chuyện họ Đỗ (tiếp theo), Chuyện Trần Sanh ở đất Hà Gian

(Hà Gian sinh), Con ngươi nói chuyện (Đồng nhãn ngữ) Chuyện nàng Liên Hương (Liên Hương),

Chuyện hai anh em Trương Thành (Trương Thành), Chuyện nàng Trần Vân Thê (Trần Vân Thê),

Chuyện người Nhạc Trọng (Nhạc Trọng), Chuyện chàng Đại Nam (Đại Nam), Chuyện người Tăng

Hữu Vu (Tăng Hữu Vu).Cuốn thứ năm (Juillet 1918): Chuyện ngươi Tăng Hữu Vu (tiếp theo), Chuyện

quan Ngự sử huyện Phong Đô (Phong Đô Ngự sử), Chuyện đám cưới chồn (Hồ giá nữ), Chuyện chàng

rể bị ma giấu (Tân lang), Chuyện mưa tiền (Vũ tiền), Chuyện nàng Tiểu Tạ (Tiểu Tạ), Chuyện cỏ Thủy

mãng (Thủy mãng thảo), Chuyện nàng Thường Nga (Thường Nga), Chuyện Bành Hải Thu (Bành Hải

Thu), Chuyện nàng Trước Thanh (Trúc Thanh).

[5]



Một số bản dịch Liêu Trai chí dị trên Nơng cổ mín đàm: Lương Dũ Thúc, Thương người khác

thể thương thân, Ghét người khác thể vun phân cho người, Nơng cổ mín đàm, số 5, 6, 7 tháng

8.9.1901, chính là bản dịch truyện Thụy Vân (quyển IV) Lương Dũ Thúc, Tác thiện thiên giáng chi bá

tường, số 19 và 20, ngày 5 và 19.12.1901, chính là bản dịch truyện Thủy mãng thảo, quyển II.

Lương Hòa Quí, Lộng nguyệt thành tiên, số 25, ngày 23.1.1902, chỉnh là bản dịch trưyện Hồ Tử

thư, quyển II.

Nguyễn Chánh Sắc, Chuyện Hồng Ngọc, số 51 và 53, ngày 14 và 28.8.1902, chính là bản dịch



truyện Hồng Ngọc, quyển III.

Nguyễn Chánh Sắc, Chuyện thần hoa, số 128, ngày 11.1.1904, chính là bản dịch truyện Hoa thần,

Phụ lục V, quyển XVI.

Lương Dũ Thúc, Chuột hãy còn có nghĩa, người há chẳng làm nhơn, số 8, ngày 19.9.1901, chính là

bản dịch truyện Nghĩa thử, quyển XIII. Lương Dũ Thúc, Nghĩa khuyển, số 9, ngày 26.9.1901, chính là

bản dịch truyện Nghĩa khuyển, quyển XIV.

Khuyến Thiện đạo nhân, Hoành tài bất phú, số 49, 50 ngày 31.7 và 7.8.1902 chính là bản dịch

truyện Nhiêm Tú, quyển II.

Nguyễn Đoan Khai, Phi ngưu, số 142, ngày 26.5.1904 chính là bản dịch truyện Ngưu phi, quyển

XIV.

Nguyễn Chánh Sắc, Chuyện Tần Cối, số 158, ngày 22.9.1904, chính là bản dịch truyện Tần Cối,

quyển XVI.

Nguyễn Chánh Sắc, Chuyện mồ Tào Tháo, số 159, ngày 29.9.1904, chính là bản dịch truyện Tào

Tháo trung, quyển XVI.

Nguyễn Chánh Sắc, Chuyện Uông Khả Thọ, số 162, ngày 20.10.1904, chính là bản dịch truyện

ng Khả Thụ, quyển XIII.

Nguyễn Chánh Sắc, Chuyên Ngũ Thu Nguyệt, số 163 và 164, ngày 27. 10 và 3. 11. 1904, chính là

bản dịch truyện Ngũ Thu Nguyệt, quyển VIII.

Nguyễn Chánh Sắc, Thay hồn đổi xác, số 181, ngày 9. 4. 1905, chính là bản dịch truyện Trường

Thanh tăng, quyển I.

[6]



Xem thêm Cao Tự Thanh, Văn học Hán Nôm ở Gia Định, bài trong Địa chí văn hóa Thành phố

Hồ Chí Minh, tập II - Văn học, Nxb Thành phố Hổ Chí Minh, 1988, tr. 114-115.

[7]



Xem thêm Cao Tự Thanh, Vài bản dịch Liêu Trai chí dị đầu thế kỷ XX ở Lục tỉnh, Tạp chí Hán

Nơm, số 4, 1996.

[8]



Liêu Trai chí dị, Traduit en Quốc ngữ par Nguyễn Chánh Sắc (Tân

Châu), Rédateur au “Lục tỉnh tân văn”, publié par Phạm Xuân Lẫm,

cuốn thứ nhứt, Tour droit réservés, Sài Gòn. Imprimerie J. Viết, Aout

1916.

[9]



Một số bản dịch Liêu Trai chí dị của Kiều Yêu trên Bách khoa thời

gian 1958-1960: Bạch Thu Luyện (Bạch Thu Luyện) số 33, 15.5.1958.

Cát Cân (Cát Cân) số 34, 01.6.1958

Thụy Vân (Thụy Vân) số 35, 15.6.1958

Cô gái đánh sợi (Tích nữ) số 36, 01.7.1958

Vãn Hà (Vãn Hà) số 37, 15.7.1958

Phấn Điệp (Phấn Điệp) số 38, 01.8.1958

Cô bảy họ Tiêu (Tiêu Thất) số 39, 15. 8. 1958



Vương Quế Am (Vương Quế Am) số 40, 01.9.1958

Cái tiên (Cái tiên) số 41, 15.9.1958

Sen lồng bóng nguyệt (Hàn nguyệt phù cừ) số 42, 01.10.1958

Cẩm Sắt (Cẩm Sắt) số 43, 15.lO.1958

Người làm trò rắn (Xà nhân) số 44, 01.11.1958

Ký Sanh con trai Vương Quế Am (Vương Quế Am - Ký Sinh phụ) số 45, 15.11.1958

Xảo kế (Cục trá III) số 46, 01.12.1958

Ái Nơ (Ái Nơ) số 47, 15.12.1958

Phòng Văn Thục (Phòng Văn Thục) số 49, 15.01.1959

Trương Hồng Tiệm (Trương Hồng Tiệm) số 50, 01.02.1959

Lã Vô Bệnh (Lữ Vô Bệnh) số 52, 01.03.1959

Hai anh em họ Thương (Nhị Thương) số 54, 01.04.1959

Thần ếch (Thanh oa thần) số 67, 15.10.1959

Hằng Nương (Hằng Nương) số 69, 15.11.1959

Lục áp Quan (Lục áp Quan) số 71, 15.12.1959

Tương Quần (Tương Quần) số 74, 01.02.1960

Cô Tiêm (A Tiêm) số 77, 15.3.1960

Ngựa trong tranh (Hoa mã) số 81, 15.5.1960

[10]



Lẫm sinh: học trò trường phủ học ở Trung Quốc thời Thanh, được hưởng học bổng và miễn

một số nghĩa vụ thuế má dao dịch.

[11]



Quan Đế. tức Quan Vũ, còn gọi là Quan Công, tự Vân Trường, em kết nghĩa và là tướng của

Lưu Bị, Tiên chủ nhà Thục Hán thời Tam quốc, nổi tiếng nghĩa khí, được nhân dân Trung Quốc thờ là

thần, thời Tống phong tặng là Quan Thánh Đế quân.

[12]



“Có người đẹp chừ”: nguyên văn là “Hữu mỹ nhân hề”, chữ trong bài phượng cầu hoàng của

Tư Mã Tương Như hát khi khêu gợi Trác Văn Quân “Hữu mỹ nhân hề, kiến chi bất vương (vong),

Nhất nhật bất kiến hề, tư chi như cuồng...” (Có người đẹp chừ, gặp rồi không quên, Một ngày không

gặp chừ, nhớ như điên cuồng), ở đây người học trò đọc để trêu gái.

[13]



Hút mủ liếm trĩ: nguyên văn là "thỉ ung tuấn trĩ", chữ trong Nam hoa kinh, Liệt Ngự Khấu, chỉ

hành động nịnh hót hèn hạ để tiến thân của kẻ vơ sỉ.

[14]



Thượng thư bộ Lại họ Ân: bản Hương Cảng chú nhân vật này tên Sĩ Chiêm, tự Đường Xuyên,

đỗ Cử nhân năm Canh tý (1540), đỗ Tiến sĩ năm Đinh mùi (1547) niên hiệu Gia Tĩnh thời Minh, làm

quan tới chức Thượng thư bộ Lại.

[15]



Đã qua... có mây: nguyên văn là “Tằng kinh thương hải nan vi thủy, Trừ khước Vu Sơn bất thị

vân", câu trong năm bài Khiển bi hồi của Ngun Chẩn thời Đường khóc vợ chết.

[16]



Thiến Nương... khỏi gối: Ly hồn ký chép Trương Dật có con gái tên Thiến Nương rất xinh đẹp,



đã hứa gả cho cháu là Vương Trụ, sau có người khác tới hỏi cưới, Dật ưng thuận. Cô gái nghe tin rất

uất ức, Trụ cũng căm hờn bỏ đi, nửa đêm thấy một người lên thuyền theo, nhìn ra thì là cơ gái, bèn đưa

nhau trốn đi. Năm năm sau sinh được hai con trai, cô gái nhớ cha muốn về thăm, Trụ về trước xin lỗi

Dật thì Thiến Nương đã bệnh nằm liệt giường năm năm rồi. Đến khi cô gái vào nhà thì cơ gái trong

phòng mừng rỡ chạy ra, hai người liền nhập vào làm một.

[17]



Bạn bè... trong mơ. Hàn phi tử chép thời Chiến quốc Trương Mẫn và Cao Huệ chơi thân với

nhau, Mẫn nhớ Huệ nhưng đường xa khơng đi thăm được bèn tìm tới Huệ trong giấc mộng nhưng nửa

đường lạc lối phải quay về, như thế ba lần.

[18]



Tơ tằm: tơ tằm lấy từ câu trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp "Chương cú tại thiên như

kiển chi trừu tự” (Câu chữ trong bài như rút tơ tằm trong kén), chỉ việc dụng công làm văn. Vết nhặng

nguyên văn là “nhăng tích", chưa rõ điển tích song có lẽ cũng chỉ việc làm văn nói chung. Văn nhân...

tâm can lấy tích Lý Hạ thời Đường ra khỏi nhà thì dắt đứa tiểu đồng mang cái túi gấm cũ theo, nghĩ

được câu thơ nào hay là viết bỏ vào túi, chiều tối trở về ngồi nghĩ cho thành bài, bà mẹ nói "Con thì

phải tỏ bày cho hết gan ruột mới chịu thôi".

[19]



Nước chảy non cao: nguyên văn là "lưu thủy cao sơn". Lữ thị Xuân thu chép Bá Nha đánh đàn,

Chung Tử Kỳ ngồi nghe, lúc Bá Nha nghĩ tới núi cao, Tử Kỳ nói "Hay làm sao, vòi vọi như núi Thái",

lúc Bá Nha nghĩ tới nước trơi, Tử Kỳ nói “Hay làm sao, cuồn cuộn như nước chảy”. Sau người ta

dùng tích này chỉ kẻ tri âm tri kỷ.

[20]



Ma quỷ tới cợt đùa: Thế thuyết chép La Hữu thời Tấn nhà nghèo theo Hoàn Ôn, Ôn chu cấp

cho nhưng không dùng. Sau trong phủ Hồn Ơn có người được cử làm Quận thú, Ơn mở tiệc đưa tiễn,

Hữu tới sau cùng. Ôn hỏi sao tới chậm, Hữu đáp “Được lệnh ông gọi đã ra đi từ sáng sớm, nhưng dọc

đường gặp một con quỷ chế nhạo, nói Ta chỉ thấy ngươi tiễn người khác đi làm quan chứ chẳng thấy

người khác tiễn ngươi đi làm quan, vì vậy nên tới muộn". Đây chỉ việc trắc trở cơng danh.

[21]



Ngồi bảng Tơn Sơn: Thi thoại chép Tơn Sơn thời Đường đi thi đỗ cuối bảng, có người cùng

dự thi vờ tới hỏi thăm, Sơn đáp "Cuối bảng là Tơn Sơn, Người khác thì ngồi bảng". Đây chỉ việc thi

rớt.

[22]



Khóc ròng... Biện Hòa: Hàn Phi tử chép Biện Hòa người nước Sở dâng viên ngọc chưa đẽo

gọt cho Hoài vương, Hoài vương cho là viên đá bèn chặt chân trái của Hòa. Hồi vương chết, Hòa lại

dâng cho Bình vương, Bình vương cũng cho là khi quân, sai chặt chân phải của Hòa. Bình vương chết,

Kinh vương lên ngơi, Hòa ơm viên ngọc khóc dưới núi. Kinh vương biết chuyện sai thợ khéo gọt giũa,

phá lớp đá ngồi thì được một viên ngọc rất đẹp, bèn phong Hòa làm Lăng Dương hầu. Cả câu ý nói

có tài mà không được ai biết tới.

[23]



Ngựa hay... Bá Nhạc: Chiến quốc sách chép Bá Nhạc giỏi xem tướng ngựa, một hơm vào chợ

bán ngựa chơi, có người bán ngựa hay tới nói “Ta đứng bán ở đây đã ba ngày mà khơng ai hỏi tới.

Nhờ ơng đi một vòng rồi tới nhìn ngựa của ta, nhìn xong quay đi nhưng lại ngối đầu nhìn lại, ta xin



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lý Đàn Tư (Lý Đàn Tư)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×