Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hai Mươi Bốn Truyện Ma (Quỷ Trấp Tứ Tắc)[345]

Hai Mươi Bốn Truyện Ma (Quỷ Trấp Tứ Tắc)[345]

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhập vào người sống thì rất nhiều, nhưng chỉ con ma ấy là có thể khiến cho hình dáng trở nên giống

mình, thật cũng kỳ qi.

III.

Dân ở đường Hồng Bá Nam Môn Phủ Xuyên là Chiêm Lục Chiêm Thất, làm nghề bán cháo bán

lụa. Người nhỏ còn gọi là Tiểu ca, vì đánh bạc hết tiền, sợ anh đánh mắng, lén trốn đi nơi khác, lâu

ngày không về. Người mẹ nhớ con tha thiết mà nằm mơ xem bói đều là điềm bất tường, cho là tiểu ca

đã chết. Gặp ngày hội Vu lan rằm tháng bảy, đêm trước họ Chiêm bày tiền giấy ra đốt trước sân. Trời

sập tối, nghe như có tiếng sụt sịt bên ngồi. Người mẹ nói “Tiểu ca chết thật rồi, nay tới nói với ta

đấy”. Rồi lấy một tờ giấy tiền vàng bạc khấn "Nếu đúng là con ta, thì hãy giật tờ giấy này đi là đúng,

sẽ cầu khấn âm ty giúp đỡ ngươi". Giây lát gió âm nổi lên, mấy lần cuốn vào rồi giật tờ giấy tiền vàng

bạc đi. Mẹ và anh trai khóc thất thanh. Kế gọi sư tới tụng kinh siêu độ, khơng còn mong đợi gì nữa.

Sau vài tháng, chợt Tiểu ca từ ngoài đi vào. Người anh nói “Ma rồi cầm dao đuổi. Người em sấn tới

ơm chặt, nói “Chưa đâu”, người anh mới nhìn kỹ, hỏi còn sống hay chết. Người em nói “Vốn sợ anh

đánh nên trốn đi, nên tới Nghi Hoàng làm thuê, chứ chưa chết”. Mới biết chuyện trước kia là ma quỷ

dối trá.

IV.

Ở bến đò tại thơn ngồi huyện Tân Thành, có người đánh cá đêm trăng sáng buộc thuyền sắp về,

nghe bờ bên kia có người gọi đò. Bèn chèo qua, là hơn hai mươi người, đều xăm người vác đao kiếm,

nghĩ là quan qn ngồi trại, khơng dám hỏi han, chỉ chở qua sơng. Tới bờ, họ trả tiền đò, lên bờ cảm

tạ rồi đi. Bình thời binh sĩ qua lại chưa từng có chuyện như thế, người đánh cá vừa mừng rỡ vừa ngạc

nhiên. Sáng hơm sau nhìn lại tiền ấy thì đều là giấy, mới biết đã gặp ma.

V.

Núi Long Môn cách huyện Nam Thành hơn trăm dặm về phía đơng, trên đỉnh núi có chùa, vắng vẻ

tịch mịch, ít có vết chân người lui tới, chỉ có một nhà sư ở đó. Có nhà sư vân du ghé đó làm khách,

được mời ngủ ở phòng khách, cách phòng sư trụ trì khá xa. Lúc đã đi ngủ, nghe ngồi cổng có tiếng

người gọi, kinh sợ khơng dám dậy. Giây lát, cửa tự nhiên mở ra. Khách càng hồi hộp, khơng dám thở

mạnh, xuống giường muốn chạy, thì thấy cửa phòng có tảng đá lớn chặn cứng phía ngồi, kêu la hồi

lâu, sư trụ trì mới lên tiếng. Đang lúc hỏi han tảng đá chợt biến mất, mà cửa lại mở ra như cũ. Khách

không ngủ được nữa, qua phòng sư trụ trì ngủ, lại hỏi về chuyện kỳ quái ấy. Đáp “Đó là ma núi làm

ra” Trước sau những người gặp chuyện ấy rất nhiều nhưng không làm hại ai.

VI.

Thợ vẽ Hoàng sinh người Lâm Xuyên, đi chơi tới Quảng Xương, vào trại Trật Ba, trọ lại nhà

Nham Quán Chi ở Trường Lang. Nửa đêm một người đàn bà xuất hiện trước đèn, rất xinh đẹp, nhân

say rượu khêu gọi, người đàn bà vui vẻ ưng thuận. Hỏi là người nhà ai, đáp "Là vợ chủ nhà”, từ đó

đêm nào cũng tới Hồng có khi thiếu thốn, ắt lấy trộm tiền đưa cho. Nấn ná nửa năm, dần dần mắc

bệnh gầy mòn. Nham hỏi han, cũng khơng chịu nói. Trước kia Nham thường đi lại với kỹ nữ, người vợ

không nhịn được ghen tuông, thắt cổ tự tử chết trong phòng. Tuy đã chơn cất, nhưng vẫn mấy lần hiện



hình lên tiếng, Nham bỏ trống phòng ấy khơng dám ở, mà Hồng ở đó, nên Nham cho là bị ma quấy

nhiễu, Hồng mới nói thật. Nham hướng lên khơng khạc nhổ chửi rủa, đưa Hồng ra ở quán trọ, đêm

ấy người đàn bà lại tới. Hoàng sợ hãi định trốn tránh. Người đàn bà nói “Khơng cần trốn ta, ta há lại

nỡ hại chàng. Chàng có trốn ta cũng tới". Hoàng bất đắc dĩ giữ lại cùng ngủ. Lâu sau, Hồng sợ nàng

hại mình, bèn phóng ngựa về quê. Dọc đường dừng lại nghỉ mệt, ngồi hóng mát dưới gốc dâu. Người

đàn bà lại tới, nói “Thằng giặc q vơ tình, chung sống với nhau bấy lâu mà khơng có một câu chia

tay, nỡ bỏ ta à? Quay lại mau!”. Hồng khơng dám đáp, nhưng trong lòng cầu khấn trời đất, thầm tụng

kinh. Người đàn bà chợt thở dài nói “Đây là lỗi của ta. Lúc đầu lẽ ra không nên lầm lỗi, đến nỗi gặp

lúc không có tiền trình ngày nay! Qn súc sinh đâu đáng hâm mộ, ta há lại khơng thể tìm người khác

sao?", rồi bỏ đi. Từ đó con qi tuyệt tích.

VII.

Hồ Vũ Nham du học ở vùng Đạo Vĩnh Hồ Tương, trọ lại một ngơi chùa hư nát. Có nhà sư già ngồi

quay lưng lại ngọn đèn, nói “Sao khách tới muộn thế?”. Hồ nói "Khơng có hàng qn nên thiếu cái ăn,

đi đường rất mệt”. Sư rút trong tay áo ra hai cái bánh chay bảo ăn, rồi trải chiếu dưới đất cho nằm. Sư

tụng bài kệ rằng "Bách bổ cà sa cựu bát vu, Kỷ niên đồng ngã thử sơn cư. Hàn đăng dạ chiếu thanh

liên tọa, Đắc bạn khan thiêm sổ diệp thư” (Bát Cũ, Cà Sa cũng vá quàng, Mấy năm chung sống giữa

non ngàn. Đèn khuya hiu hắt tòa sen lạnh, Có bạn xem thêm sách mấy trang). Sáng ra thấy áo ướt mà

lạnh, sờ xuống chiếu mới biết nằm trên bãi cỏ ngoài trời sương, giữa đồng trống mênh mơng, khơng có

gì cả. Hoảng sợ kể lại với hành giả, hành giả nói “Đó là chỗ chôn cất tổ sư. Tổ sư viên tịch mười lăm

năm rồi. Đêm qua cúng bánh chay, đang ngạc nhiên vì mất hai cái”.

VIII.

Du sĩ Hổ Thiên Tuấn ngụ ở Giác Địa Thanh Tranh Đàm Châu. Đêm trăng đánh đàn dưới gốc mai,

nhìn ra xa thấy có cơ gái đẹp muốn bước tới lại thôi, bèn cố ý đùa giỡn. Cô gái thẹn thùng bước tới,

Hồ đứng lên vái chào. Cô gái nói "Tiếng đàn tuy hòa hỗn, nhưng q ai ốn, khơng được thỏa ý lắm”.

Hồ nắm tay nàng nói “Trên đời khơng có ai là tri âm, đêm nay gặp nhau, hay là duyên trời chăng?”. Cô

gái khép nép bước đi, nói “Đêm mai trăng sáng sẽ tới gặp chàng". Hôm sau bạn bè kéo Hồ vào thành

uống rượu, suốt hai ngày hai đêm vui vẻ quên về, hối hận vì lỡ hẹn. Vội trở về, nhặt được dưới gốc

cây một cái khăn lụa trắng, trên để bài thơ rằng "Tiêu tiêu phong khởi nguyệt ngân tà, Lộ trọng vân

hoàn áp ngọc già. Vọng đoạn hành vân ngưng lập cửu, Thủ đàn chau lệ tiễn mai hoa” (Vi vu gió nổi

ánh trăng tà, Sương ướt vai gầy nặng ngọc thoa. Nhìn sững mây trời chờ đợi mãi, Bên mai rơi lệ ướt

cành hoa). Hồ buồn rầu về ngủ. Hôm sau đưa tấm khăn cho mọi người xem. Triệu Băng Hồ hoảng sợ

nói "Người vợ đã mất của Tơi người Hàng Châu, họ Kiều tên Vọng Tiên, là cháu gái Quý phi. Năm

trước chợt qua đời, chôn sau gốc mai, đây đúng là nét chữ của nàng”. Hồ bèn rưới rượu tế, lại làm

bài thơ rằng “Vương Tôn tự hận phụ giai kỳ, Dạ túy Trường Sa ngẫu vọng (vong) quy, Ứng ứng hoang

hồn đạp tàn nguyệt, Tương tương lộ thấp khứ thời y” (Vương Tơn tự hận phụ lòng ai, Quên bẵng giai

nhân bởi rượu say, Trăng lạnh soi hồn thương lúc đợi, Sương rơi lạnh áo xót khi về).

IX.



La Mỗ người Ấn Cương Lư Lăng, cùng vài người đi đêm, qua hồ Tập Gia. Nhân ăn ô mai, bèn

nhét hạt vào miệng cái đầu lâu cạnh đường, hỏi “Có mặn khơng?". Đi tiếp tới Trường Khanh, ánh

trăng sáng rực, thấy phía sau có một khối đen cuộn tròn đuôi theo, gọi “Mặn quá” Mọi người cả sợ,

chạy mau hơn mười dặm. Tới thôn Vinh, qua sông mới không nghe tiếng nữa.

X.

Phía đơng chợ Lư Túc ở Viên Châu có người thợ bạc họ Quách, hơn ba mươi tuổi vẫn ở một

mình. Phía tây chợ có bà già bán hoa, thường ghé Quách mua các thứ vòng nhẫn. Con gái bà già

khoảng mười lăm mười sáu tuổi, một buổi tối tới nhà Quách nói "Xin làm vợ chàng". Quách hoảng sợ,

cơ gái nói “Thiếp hâm mộ chàng đã lâu, nay tìm được kế thốt thân, xin đừng nghi ngờ”. Quách hỏi

duyên cớ, nói “Vừa rồi giả chết, mẹ liệm thiếp vào quan tài, thiếp mở nắp quan tài bước ra rồi đậy

lại. Mẹ đã đem quan tài rỗng đi chơn rồi, khơng tìm thiếp nữa đâu!”. Qch đưa nàng vào phòng kín,

bảo đừng ra ngồi. Hơn một tháng, người mẹ ngẫu nhiên tới chỗ Quách, gặp lúc Quách đi vắng, nhìn

vào trong thấy đơi hài đỏ của con gái lúc liệm trong nhà, bèn xô cửa vào lấy, rồi gọi hàng xóm nói

“Quách Mỗ đào mộ con gái ta”. Qch về, nghe hàng xóm kể lại cả sợ. Cơ gái nói “Mẹ tới bất ngờ

nên thiếp vội tránh đi, để quên đôi giày. Ta cứ tạm tránh đi, chàng đừng lo”. Cô gái đi, Quách bèn trốn

tới Đàm Châu.

Đi được hơn mười dặm, cô gái đuổi tới, cùng tới Đàm Châu, lâu ngày hết tiền. Cơ gái nói “Thiếp

giỏi hát điệu Cung xướng, chắc chắn có người thưởng thức". Bèn mở ca trường sau phường Bình Lý,

giọng ca át mây, người xem đông nghẹt. Mỗi ngày bán được mấy trăm vé, những nhà phú hào tranh

nhau mời tới, đều trả bằng trâm thoa vàng. Hơn một năm, dành dụm được hàng vạn. Một hơm có đạo

nhân đội giốc cân, thân cao chín thước, vỗ vai Qch nói “Hàng ngàn hàng vạn con người lại đi xem

con rối ma này!”. Quách tỉnh ngộ, kéo tới chỗ vắng, lạy xin cứu giúp. Đạo nhân bảo tới cầu khẩn ở

miếu Nam Nhạc. Quách tới miếu vái lạy, đến canh hai, thấy cô gái đeo gông bị kéo nhanh vào, tới hậu

cung miếu Nam Nhạc đột nhiên ngã vật ra, thì là một cái xác, mới biết là ma nhập vào xác cô gái. Bèn

dốc hết tiền bạc sữa miếu để chuộc tội cho cô gái, dùng hậu lễ hỏa thiêu cái xác. Đêm mơ thấy cơ gái

tới cảm tạ, khóc lóc từ biệt rồi đi.

XI.

Dương Nhị Lang người Kiến Khang, đem vốn đi buôn bán ở Nam Hải, đi về hơn mười năm, giàu

có ngàn vạn. Trong niên hiệu Thuận Trị, gặp cướp ở Ba Trung, cả đoàn bị hại. Dương rơi xuống nước

trước nên thoát thân. Gặp một cây gỗ, bèn ôm lấy cùng trôi nổi, qua hai ngày dạt vào một hòn đảo bèn

lên bờ, dò dẫm đi tới một cái hang. Đàn ơng đàn bà trong đó xúm lại nhìn, phần nhiều đều trần truồng,

mà âm thanh có thể hiểu được. Có người đàn bà tự xưng là Quỷ mẫu, thị vệ rất đơng, ngạc nhiên nói

“Ở đây tựa hồ có mùi người sống", sai a hồn khám xét, thấy Dương Nhị Lang, bèn báo với Quỷ mẫu.

Sai dẫn tới trước mặt, hỏi “Ngươi có nguyện ý ở lại đây khơng?", Dương nghĩ khơng có cách nào

thốt thân, cứ tạm ủy khúc để sống, bèn ứng tiếng đáp “Xin ở lại”. Quỷ mẫu liền bảo a hoàn làm một

gian phòng, cho hai người làm vợ chồng, suốt hơn hai năm ăn uống đi lại giống hệt cõi trần.

Có tên lính đưa thư tới, nói "Chân tiên mời Quỷ mẫu, xin tới Quỳnh thất". Từ đó cứ mười ngày



hoặc một tháng lại đi, mọi người đều theo. Nhị Lang một mình ở lại trong hang, một hơm xin đi theo.

Quỷ mẫu nói "Ngươi là phận người phàm, làm sao đi được?”. Nhị Lang cứ nài nỉ, Quỷ mẫu chợt ưng

thuận. Thấy dưới chân nhẹ nhàng như cưỡi mây, tới một nơi quán vũ, yến tiệc thịnh soạn âm nhạc rộn

rã. Những người tới đều theo chỗ mà ngồi, Quỷ mẫu bảo Tiểu Dương nằm phục dưới tấm khăn bàn,

dặn nín thở đừng động đậy. Tiệc xong thấy đốt giấy tiền vàng bạc, kế nghe tiếng khóc, lắng nghe thì là

vợ con họ hàng của mình. Dương từ dưới gầm bàn bước ra, gọi tên người nhà, mọi người đều cho là

ma xúm vào chửi mắng. Chỉ có người vợ khóc nói “Ngươi chết trên biển, lâu q khơng có tin tức, lúc

bấy giờ phát tang, chiêu hồn xem bói, hơm nay là ngày trừ phục, nên lập thủy lục đạo tràng để cúng tế,

sao lại ở đây, chẳng lẽ lại là hồn ma dữ nhập vào sao”. Dương nói “Ta là người thật”, nhân kể lại

duyên do, người nhà mới tin thật. Quỷ mẫu ở ngồi vẫy gọi khơng thấy ra, nổi giận chửi mắng, nhưng

không thể vào gần, giây lát bỏ đi. Vợ Dương mời thầy thuốc dùng thuốc điều hòa bổi bổ, qua mấy

năm, diện mạo dáng vẻ mới trở lại như thường.

XII.

Hoàng Tập Phố người Kiến Khang thơng gia với Tăng Hồng Tử người Phủ Châu. Hồng thích yên

tỉnh, mỗi khi tới nhà Tăng, ắt xin ở trọ trong tăng xá bên cạnh, sư thường quét dọn quan phòng để chờ.

Trong niên hiệu Sùng Trinh Hồng có tang mẹ, tới nhà Tăng cảm tạ đã tới điếu tang, rồi tới tăng xá, sư

cho ở phòng riêng. Hồng cho rằng sư coi thường mình, hỏi khơng vui. Đêm ấy trăng sáng, nhân ra

thềm hóng mát, nhìn ra xa thấy cung điện đèn lửa thấp thống, tiếng cười nói râm ran. Chợt có một vị

sĩ phu bước ra vái nói “Ơng có phải là Hồng Tập Phố khơng? Mời vào uống chén trà”. Hồng nói

"Ta qn mất ơng là ai?”. Người ấy nói “Ta là Trương Duy Kỷ, làm chức quan nhỏ trôi nổi giang hồ,

đáo nhiệm tới đây”. Nhân mời vào cùng uống rượu, gọi vợ con ra chào. Duy Kỷ nói “Ta có đứa cháu

gái, còn chưa kết hơn, xin dâng ơng để hầu chăn gối". Hồng nói “Ta đang có tang, đâu dám bàn tới

chuyện ấy”. Duy Kỷ nói “Kẻ sĩ lễ pháp như con rận ở trong nếp quần. Tập Phố là kẻ đạt sĩ, sao còn

câu nệ như thế”. Nhân kéo vào phòng trong, ép uống rượu hợp cẩn, vợ chồng làm lễ xong, Hồng nghĩ

đang có tang lại làm thế này, quả thật là tội nhân danh giáo, vì thế im lặng. Chợt nghe tiếng thanh la

khua vang, sực hiểu là bị ma ám. Muốn vùng dậy nhưng cơ gái trong màn níu chặt lại, không sao giãy

ra được. Bèn lớn tiếng gọi đầy tớ, Duy Kỷ bước ra nói “Tại sao Tập Phố lại coi nhau là ma quỷ?”,

bèn kéo ở lại.

Nhà sư thức dậy, thắp đuốc đưa Hoàng về nhà Tăng, Hồng còn nhìn thấy Duy Kỷ và vợ con đi

theo. Hồng nói "Vừa rồi ai khua thanh la thế?”, mọi người đáp “Gà gáy đấy”, Hoàng càng hiểu ra.

Sáng ra Tăng tiễn về, Duy Kỷ và vợ con cùng đi theo, Hoàng đi cũng đi, Hoàng dừng cũng dừng,

người khác khơng nhìn thấy, chỉ có Hồng nhìn thấy. Hồng về đến nhà thì bị bệnh nặng. Bí giám

Trương Un Huy, chơi thân với Hoàng tới thăm. Đi chưa được hai dặm, Hồng nói "Trương Bí giám

tới”. Kế quả nhiên Trương tới. Trương hỏi han, thì là Trương Duy Kỷ kể lại, kế bị bệnh mấy tháng

mới khỏi. Lúc trước lúc Hoàng đang uống rượu với Duy Kỷ, đầy tớ lấy làm lạ là lâu q khơng vào,

bèn trở dậy nhìn vào quan phòng. Có người nói "Quan của ngươi vào trong này uống rượu”. Người

đầy tớ về đi ngủ trước, hơm sau hỏi sư, sư nói gần đây có vị quan họ Trương tên Duy Kỷ đưa cả nhà



tới trọ trong chùa, bị bệnh dịch đóng cửa chết hết trong quan phòng.

XIII.

Thiếu bảo Mã Lượng, lúc trẻ thắp đèn đọc sách cạnh cửa sổ. Chợt có bàn tay to như cái quạt từ

ngồi song cửa thò vào. Đêm sau lại tới. Ơng lấy bút chấm nước thư hồng, vẽ một cái hoa áp lớn lên

đó. Ngồi cửa la lớn “Chùi mau cho ta, nếu khơng sẽ có tai họa đấy?”. Ơng khơng nghe, bỏ đi ngủ.

Giây lát, bên ngồi càng tức giận, càng giục giã bảo chùi đi, ông cũng khơng đếm xỉa gì tới. Gần sáng

chuyển thành tiếng nài nỉ mà bàn tay khơng rút ra được, lại nói “Ơng sẽ q hiển, nên tạm thử ơng thơi,

[346]



sao lại nỡ đẩy ta tới chỗ đường cùng? Ơng khơng biết chuyện Ơn Kiều đốt sừng tê

sao?”, ơng sực

hiểu ra, lấy nước rửa dấu hoa áp đi, bàn tay rút ngay ra ngồi, nhìn ra thì khơng thấy gì.

XIV.

Phương Tử Trương nhà ở thơn Ngụy Đường Tú Châu. Có tên tá điền là Trâu Đại, giỏi cắt tóc. Có

người tới gọi, nói "Nhà Mỗ có khách, nhờ ngươi làm trò vui". Trâu từ tạ nói “Ta chỉ biết hát nhưng

bài trong đám ma, ngươi dùng làm gì?". Nói "Chủ nhân chính muốn nghe khúc ấy, xin sẽ hậu tạ". Trâu

vì thế rất kinh ngạc, nhưng tính tốn thấy khơng thể từ chối, bèn ngầm giắt lục lạc vào bụng, buông tay

áo lên đường. Tới nơi, chỗ ấy rất gần, nghĩ bình thường ở đây khơng có ai ở. Thấy phòng ốc rất nhỏ,

mà điệu ai vãn không phải nên hát chỗ yến tiệc, lại càng nghi ngờ. Bèn lắc lục lạc hát, trên tiệc hơn

hai mươi người đàn ông đàn bà đồng thanh nói "Bọn ta đều thơng thạo điệu ấy, khơng cần có tiếng lục

lạc chen vào". Lại hát thêm vài khúc, mọi người đều vỗ tay khen hay. Uống đến lúc ngà ngà, lại hỏi

"Còn biết nghề gì khác không?", Trâu đáp "Cũng biết thần chú Đại bi uế tích”, mọi người đều nói

"Khơng phải là cái bọn ta cần”. Trâu biết đó đều là ma, bèn rút lục lạc ra lắc mạnh, cao giọng niệm

chú. Vừa được vài tiếng, gió âm nổi lên, đèn đuốc bàn ghế đều biến mất, trước mắt tối om, nhìn lên

nóc thấy có lỗ nhỏ, cũng vừa đủ để ra, mà ánh trăng sáng xun xuống, có thể nhìn thấy chung quanh,

bèn co người chui ra, may mà thốt được. Hơm sau tới xem chỗ áy, thấy gai góc cỏ dại um tùm, chỉ là

một ngôi mộ cổ mà thôi.

XV.

Người đánh cá ở Hồ Châu là Ngu Nhất, nhân đi đánh cá buộc thuyền ngoài nhà dân ở cọc rào ranh

giới Tân Thành. Quá nửa đêm, nghe trên bờ có người nói với nhau "Chúng ta ở nhà này đã lâu, nên

tính chuyện ra đi, dời xuống thuyền nên chăng?". Có giọng ứng tiếng nói "Đây là thuyền chài, lại là

người nơi khác làm sao xuống được? Ngày mai phía đơng nam có thuyền tới trong đó có hai hộp chu

hồng và mấy bình rượu xích nê, có thể đi theo. Người ấy là họ hàng người bệnh nên tới thăm, nhà lại

khá giàu có đủ cho chúng ta dùng”, cả bọn đều nói phải. Dứt lời lại im ắng, Ngơ Nhất lấy làm kỳ quái.

Trời gần sáng, dậy hỏi chuyện, thì nhà dân ấy đang bị bệnh dịch, kẻ tính chuyện đêm qua là ma. Bèn đi

tắt qua đường nước phía đơng nam buộc thuyền lại chờ xem. Quả nhiên gặp một chiếc thuyền nhỏ tới,

nhìn đồ vật trong thuyền, đều như lời ma nói, vội gọi dừng lại, kể cho chuyện nghe thấy lúc đêm.

Người trên thuyền cả sợ nói “Đó là nhà con rể ta, đang định tới đó thăm bệnh. Nếu khơng có ơng cứu,

thì cả nhà này lại ghi tên vào sổ ma rồi”. Bèn đem hết rượu thịt mang theo tặng Ngô, cảm tạ rồi quay

về.



XVI.

Quý Nguyên Hành tự Nam Thọ, người Tấn Vân. Sau khi thi đỗ, được điều làm Giáo thụ Thai

Châu, định tới Kiến Khang yết kiến Phủ dỗn. Trong nhà có người thiếp hầu, uất ức vì chủ mẫu khơng

thể dung, thường có ý muốn chết. Lúc sắp lên đường, Lý nói chuyện với vợ, dặn “Ta đi rồi, nhất thiết

đừng đánh đập, vạn nhất có chuyện khơng hay, lại phải tốn kém. Nếu nhất định không chứa được, cứ

chờ ta về sẽ đuổi đi cũng khơng khó”. Vợ nói "Cứ n tâm mà đi, ta khơng làm chuyện như thế đâu”,

nói xong chia tay. Nguyên Hành đi mấy hôm tới Kiến Khang, đã bớt lo lắng, lại nghe bên tai có tiếng

sụt sịt, giống tiếng người thiếp, nhưng khơng nhìn thấy hình dáng. Hỏi thì nói “Chàng vừa ra khỏi cửa

là lập tức bị đánh đập, thế không sống được nữa, nên tự treo cổ chết rồi". Q vì thế thương khóc xin

nghỉ, muốn quay về, lại nghĩ ác nghiệp đã tới. Muốn gửi thư, lại không nỡ, nên tạm sai đầy tớ ngày

đêm về nhà để hỏi rõ chuyện ấy. Lại thay người nhà viết thư báo cho quan huyện, lại gởi thêm tiền

chơn cất. Từ đó đêm nào hồn ma cũng tới khóc lóc. Kế người đầy tớ trở lại, nói "Trong nhà vẫn vơ sự,

lúc Mỗ về tới bà ấy còn dọn cơm cho ăn” Q nói "Vậy là ma quỷ giả mạo để mê hoặc ta thôi". Đêm

ấy con ma lại tới, Quý nghiêm mặt nói "Ngươi là yêu tà ở đâu, lại dám như thế không chịu cút đi! Ta

sẽ mời đạo sĩ tới đây, dùng phép bắt ngươi". Con ma nói "Quả thật ta khơng phải là người ấy. Vì lúc

ơng lên đường nảy dạ nghi ngờ, nên ta thừa cơ bịa đặt. Nay chỉ xin ông tụng cho vài quyển kinh Phật,

đốt cho chút ít tiền giấy thôi”.

XVII.

Phong tục phương Bắc, mỗi khi đến lúc giao thừa ắt thắp đèn sáng trưng ở các nơi nhà bếp nhà xí,

gọi là soi rọi hư hao. Có người nhà giàu ở Khai Phong là Triệu Tái, sai hai tỳ nữ làm chuyện ấy. Một

tỳ nữ tham dầu vừng thắp đèn để chải tóc, bèn thay dầu đồng vào đèn trong nhà xí. Đến nửa đêm, tỳ nữ

kia trong nhà xí thấy một người đàn bà cao khoảng ba thước, xõa tóc mặc quần đỏ từ trong đi ra, cắp

một cái rương nhỏ chứa đầy quần áo mới, xếp lên góc vách. Người tỳ nữ hoảng sợ la lớn chạy về, gọi

bọn gia nhân kéo tới xem, nhưng tới nơi thì khơng thấy gì. Riêng tỳ nữ đánh tráo dầu chợt la lớn ngã

lăn xuống đất. Mọi người đỡ về, đổ nước nóng cho, hồi lâu mới tỉnh. Nói đầu tiên dùng dầu đồng thắp

đèn mới đến nỗi này, bị ma đánh. Lại nói "Ta bị người ta lơi vào nhà xí khơng lên tiếng, làm ta bị tuột

da, đau lắm. Nói đang chờ lấy dầu đêm nay để xức, ngươi lại dám đánh tráo? Đang đánh túi bụi, thấy

người nhà kéo tới đông quá, mới bỏ ta mà đi".

XVIII.

Huyện Dương Xuân châu Nam Tư, tức Xuân Châu thời cổ, có con ma lạ trú ở sảnh Chủ bạ, có thể

giữa ban ngày hiện hình, ăn uống cười nói như người sống, rất ghét người ta nói tới hình dáng, ai nói

là tới quấy phá. Nhà Chủ bạ rất khổ, sáng dậy ắt phải lạy, ăn cơm ắt phải cúng, thờ phụng rất kính cẩn.

Có viên Tuần kiểm trực ban, vừa tới làm quan, Chủ bạ mời tới uống rượu. Trò chuyện nhắc tới chuyện

ấy, nhân hỏi sự quái dị. Chủ bạ chưa kịp đáp, con ma đã đứng sau lưng Tuần kiểm, Chủ bạ biến sắc

đứng dậy. Tuần kiểm biết có chuyện lạ, vung tay xơ ln, con ma không đứng nổi, ngã lăn xuống đất.

Tuần kiểm vừa xơ vừa đánh, con ma nhìn Chủ bạ năn nỉ nhờ xin giúp, Chủ bạ hết sức xin cho, con ma

mới thốt được. Nhà Chủ bạ sợ nó giận lây, cả đêm không dám ngủ, nhưng đến sáng vẫn n ắng



khơng có một tiếng động. Mở cửa thấy trên vách viết một hàng chữ lớn "Vì Tuần kiểm là người thơ lỗ,

khơng thèm chấp nên đi" , từ đó tuyệt tích.

XIX.

Có người làm vườn ở Hàng Châu, rửa rau ở ao Bạch Quy. Nghe dưới nước có người trò chuyện,

một người nói “Ngày mai ở đê Sa Hà khai trương cửa hiệu bán lụa, một viên Chưởng sự nhà họ

Vương phải chết ở đây, có thể thay thế ta”. Một người nói "Ngày đi của ngươi khơng còn xa, làm sao

bây giờ". Người làm vườn biết viên Chưởng sự , liền tới báo tin. Người kia cảm tạ thề suốt ngày

không ra khỏi cửa. Đến sáng cửa hiệu khai trương, quan phủ sai tên lính khỏe tới đón, nhà chủ hiệu lại

biếu tiền lụa, bất đắc dĩ phải đi. Qua khỏi cầu Thanh Hồ, tên lính đưa đi theo đường hồ Bạch Quy,

viên Chưởng sự nhất định không nghe. Những nhà ở cạnh đó chỉ thấy người ấy một mình đi loạng

choạng, dáng vẻ như đang ra sức cãi vã đánh nhau. Cũng có người quen biết viên Chưởng sự, liền xốc

nách đưa về. Kế hơn mê khơng nói được, trong miệng tồn đất bùn, cho uống Tơ hợp hương, lâu sau

mới tỉnh. Đại khái kẻ xưng là lính quan phủ cử tới là ma vậy. Lại qua hôm sau, người làm vườn tới đó

rửa rau, bị chết đuối.

XX.

Lý Chủ bạ người huyện Đan Đồ Trấn Giang, tới Hồ Châu cơng cán. Có hai người sai nhân trong

phủ tên Từ Chương, Thái Yên đi cùng. Vào tới địa giới Hồ Châu, trọ trong tăng phòng viện Quan âm,

bên cạnh có một gian phòng nhỏ, cửa nẻo khóa chặt. Hai sai nhân nhìn trộm vào, thấy trên vách treo

ảnh một cơ gái, phía trước bày lư hương, biết là tẩm cung. Bèn nói vụng với nhau "Bọn ta ở đất lạ

lạnh lẽo cô đơn, nếu được một người như thế tới làm bạn vui vẻ một phen thì thật là may mắn". Từ

bèn hỏi sư, sư nói "Người trong quận là Trương Văn Lâm, làm Huyện lệnh Tượng Sơn, vợ chết, chơn

tạm dưới nền trong phòng ấy, nhờ ta cúng tế. Đó là họa tượng của nàng”. Đêm ấy, Chương đã ngủ, n

đang thiu thiu thì có một cơ gái vén màn chui vào, cười nói "Ban ngày người có ý với ta, nên tới gặp

nhau, sẽ chu toàn cho ngươi, đừng nói cho ai biết, cũng đừng vì kỳ quái mà nảy ý nghi ngờ”. Yên vui

vẻ vì được thỏa nguyện, giữ lại ngủ với nhau. Từ đó khơng ngủ cùng giường với Chương nữa, cô gái

đêm nào cũng tới, như thế hơn tháng. Hai người sai nhân vì sắp hết tiền, thưa với Chủ bạ xin về. Chủ

bạ nói "Chương giỏi văn từ, ta khơng thể thiếu, một mình n về được rồi”.

Đêm ấy cơ gái tới hỏi vì sao trở về, n kể lại. Cơ gái nói “Ta có chiếc thoa vàng tặng ngươi, cứ

cầm đi mà bán, cũng tạm đủ dùng đến hết đợt công cán này”. Rồi rút chiếc thoa trên đầu đưa cho Yên.

Hôm sau bán ở chợ, được mười sáu ngàn đồng, đem đưa Chương nói "Vừa rồi vào thành, lại gặp một

người làng đưa ta mượn số tiền này, có thể tiêu chung, khơng cần phải về nữa”. Chương nghĩ thầm

mình và y ở cùng ngõ, lẽ nào có người làng tới đây mà mình khơng biết. Lại nghe n đêm nào cũng

như thì thào trò chuyện với người khác, sợ có lúc lộ ra sẽ liên lụy cả tới mình, bèn quyết ý rình xem.

Một hơm, trời gần sáng, chờ lúc cô gái từ giường Yên bước ra, vội sấn tới ôm, cô gái ngã lăn xuống

đất, giống hệt như mới chết, quần áo vẫn như cũ. Hai người hoảng sợ khơng biết làm sao, bèn kể thật

với sư trụ trì, bèn bẩm với Thái thú tới xem, bắt hai người sai nhân lên quan, đưa vào nhà ngục hỏi

cung, lại gởi công văn tới Tượng Sơn báo cho Trương Huyện lệnh. Trương sai bà vú già tới chùa khai



quật ngôi mộ lên, thì quan tài rỗng khơng, hai người mới được tha. Khơng bao lâu trở về Đan Đồ, vì

sợ hãi thành bệnh, cả hai đều chết.

XXI.

Lúc Hoàng Bưu Phụ làm Tri châu Viên Châu, một đêm tan tiệc khách ra về, bọn ngu hầu trực ban

hết phiên, sau canh ba mới ra về. Một viên ngu hầu trên đường trò chuyện với người ta, thì thào khơng

thơi, lại có vẻ mừng rỡ. Đồng bạn hỏi thì khơng chịu đáp, đi được trăm bước mới nói "Có cơ gái từ

nhà sau ra gặp nhau trên đường, nói là thị thiếp của Tri phủ, vì mọi người ruồng rẫy, muốn bỏ trốn đã

lâu. Gặp lúc đêm nay chủ nhân say ngủ, đám tỳ thiếp cũng đã ngủ, nên trốn thoát ra, xin tới trú ở nhà ta

để tìm kế khác. Nói xong lấy ra một chiếc thoa một chiếc xuyến đưa cho ta, lại đưa mấy cái bánh màn

thầu, nói đây là trong tiệc còn thừa, đưa cả cho ơng". Mọi người không tin, người ấy bèn đưa thoa

xuyến cho xem, thì đều là mảnh tre. Cái gọi là màn thầu thì là quả tiết lệ, tục gọi là màn thầu gỗ.

Người ấy tuy tỉnh ngộ, nhưng khơng kìm được, qua tháng sau thì chết. Quan quân trong quận cùng tìm

con quái ấy, thì đại khái là người thiếp của Quận thú hai đời trước, sinh được con trai, bị vợ chính

ghen tng khơng chịu nỗi ngược đãi ơm con nhảy xuống sông tự tử, nay đã làm ma.

XXII.

Thái Hanh Khiêm người Lâm Xuyên vốn ở trong thôn, nhân lấy con gái Hoàng Bưu Phụ, bèn dời

tới dưới thành, mua một khoảnh đất trống trước quân doanh xây nhà, dời cả nhà tới ở. Phía sau có khu

vườn nhỏ, có bụi chuối mọc dày, thường nhìn thấy u qi, cũng có khi nghe tiếng cười tiếng hát. Một

người thiếp đi gần đó, gặp người đàn bà bước ra trò chuyện, dung mạo rất xinh đẹp, hồi lâu chia tay,

cũng không ngờ là ma quỷ. Đứa con nhỏ mới vài tuổi, ban ngày chơi đùa cạnh đó, người đàn bà từ

trong chạy ra, túm tóc giật, đứa nhỏ kêu gào tiếng vang ra ngoài, Thái lập tức vác gậy tới cứu, tới gần

người đàn bà mới buông tay, thè lưỡi đỏ như tấm sa hồng dài năm thước rồi chui xuống đất biến mất.

Cha con Thái đều hoảng sợ ngã lăn xuống đất. Lát sau gia nhân đổ vào cứu về, đổ nước nóng cho, hồi

lâu mới tỉnh. Lập tức sai đầy tớ dọn sạch bụi chuối, từ đó khơng thấy gì nữa. Dần dà tìm hỏi, đại khái

người chủ ở đất ấy trước đó từng thắt cổ giết chết thị nhi, đào đất chôn xuống, trồng bụi chuối lên,

cũng đã mười năm rồi.

XXIII.

Lữ Thúc Chiếu làm Huyện lệnh huyện Thái Bình phủ Ninh Quốc, cả nhà ở bên dãy phòng phía

đơng sảnh đường trong dinh. Con lớn là Tất Trung, con thứ là Hội Trung, vì đều đã lớn, nên ngủ chung

giường ở phòng phía tây. Đêm mùa hè ngủ say, nghe dưới giường như có tiếng người nói, Hội Trung

hỏi là ai, ứng tiếng đáp "Vâng vâng", giọng nói rất nhỏ. Bèn đưa tay sờ tìm cái chậu đi tiểu, người ấy

bưng hai tay đưa cho, dài khoảng ba thước. Hội Trung đang lúc vừa tỉnh, cho là đứa tiểu tỳ, cũng

không để ý. Hội Trung tiểu xong, Tất Trung tiếp theo, lấy cái chậu tiểu ở chỗ cũ thì khơng thấy đâu.

Lúc ấy có hai bà vú ngủ ở gian gác phía sau, gọi ầm lên mà họ khơng biết gì, mới biết là gặp quái,

Hội Trung vì thế bị bệnh, mấy tháng mới khỏi.



36. Phú Ông (Phú Ông)

Phú ông Mỗ có nhiều thương nhân vay tiền, một hôm có thiếu niên tới, hỏi ra thì cũng muốn vay

tiền làm vốn, phú ông ưng thuận. Gặp lúc trên bàn có vài mươi đồng tiền, thiếu niên cầm lấy xếp thành

một chồng cao. Phú ông liền từ tạ mời về, không cho vay nữa. Người ta hỏi nguyên cớ, đáp “Đó ắt là

kẻ giỏi đánh bạc, khơng phải người đứng đắn. Tài nghệ thành thục, bất giác hiện ra ở chân tay", hỏi ra

quả đúng. Người xét việc sáng suốt như thế, lại có thể khơng giàu sao?



37. Bà Già Làm Bánh Bột (Bác Thác Ẩu)

Hàn sinh ra ở nhà khác nửa năm, cuối tháng chạp mới về nhà. Một đêm vợ vừa ngủ, nghe có tiếng

người đi, nhìn ra thì than trong lò sởi cháy sáng rực, có một bà già khoảng tám chín mươi tuổi, da

nhăn lưng gù, tóc rụng gần hết hỏi "ăn bánh bột khơng?". Vợ sinh sợ không dám lên tiếng, bà già lấy

cặp gắp than khều lửa, đặt nồi lên trên, lại đổ nước vào, giây lát nước sơi, bà già mò vào vạt áo, mở

cái túi ở thắt lưng lấy ra mấy mươi cái bánh bột cho vào nồi, lõm bõm thành tiếng. Lại tự nói một

mình “Chờ tìm đũa đã". Rồi ra cửa đi. Vợ sinh chờ lúc bà già đã ra, vội trở dậy bưng nồi giấu vào

dưới chiếu, rồi trùm chăn nằm lại. Giây lát bà già vào, căn vạn hỏi nồi đâu. Vợ sinh cả sợ la lớn, gia

nhân đổ tới, bà già mới bỏ đi, giở chiếu lên . xem thì là mấy mươi con bọ rùa xếp lớp ở trong.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hai Mươi Bốn Truyện Ma (Quỷ Trấp Tứ Tắc)[345]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×