Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Yên Chi (Yên Chi)

Yên Chi (Yên Chi)

Tải bản đầy đủ - 0trang

chẳng ai có lợi đâu”.

Túc sợ lộ khơng dám cưỡng ép nữa, chỉ xin được gặp lại, cô gái hẹn ngày nghênh hơn. Túc cho

rằng còn lâu q, cứ nài nỉ, cô gái thấy y dằng dai đành hẹn đến khi khỏi bệnh. Túc xin vật làm tin, cô

gái không cho. Túc nắm chân nàng tuột bừa lấy chiếc giày thêu rồi bỏ đi. Cơ gái gọi lại, nói "Đã hẹn

ước thân này là của chàng, có tiếc gì chiếc giày. Chỉ sợ vẽ hổ không nên lại ra con chó, để bị chê cười

thơi. Nay vật mọn đã lọt vào tay chàng, chắc không thể lấy lại được nữa, nếu chàng phụ lòng, thiếp chỉ

còn một chết thơi đấy?”. Túc trở ra, lại về nhà Vương thị ngủ, đi nằm vẫn khơng qn chiếc giày,

ngầm mò trong tay áo thì khơng thấy đâu nữa. Vội dậy che đèn xốc áo tìm thầm, Vương thị hỏi khơng

đáp, ngờ là Vương thị giấu. Thị cười cợt ngờ vực, Túc không giấu được, đành kể thật mọi chuyện. Nói

xong đốt đuốc ra tìm cửa nhưng vẫn khơng có đành ơm hận trở vào ngủ, thầm mong đêm khuya khơng

có ai qua lại, chiếc giày rơi vẫn còn trên đường, nhưng sáng dậy sớm ra tìm cũng khơng thấy đâu.

Trước đó trong ngõ có Mao Đại là kẻ lơng bơng khơng nghề nghiệp vẫn ve vãn Vương thị nhưng

không được, biết Túc tư thơng với thị nên muốn rình bắt để ép buộc. Đêm ấy y qua nhà thị, đẩy cổng

thấy chưa gài bèn lẻn ln vào. Vừa tới ngồi cửa sổ thì giẫm phải một vật mềm như nầm lụa, nhặt lên

xem thì là một chiếc giày con gái bọc trong khăn. Y bèn núp rình, nghe rõ hết lời Túc kể, vô cùng

mừng rỡ, lập tức trở ra. Vài đêm sau, y leo tường vào nhà cô gái, nhưng không biết chỗ nên tới lầm

phòng người cha. Ơng Biện nhìn qua cửa sổ thấy đàn ông, xem dáng cách biết là tới đây tìm con gái

mình, nổi giận cầm dao xơng ra. Mao Đại sợ bỏ chạy, định leo tường trở ra nhưng ơng Biện đã đuổi

sát tới, y bí q không biết làm sao bèn quay lại cướp dao. Bà Biện chạy ra la lên, Mao sợ không

chạy được bèn đánh chết ông Biện. Cô gái đã hơi đỡ, nghe tiếng ồn ào mới vùng dậy cùng đốt đèn ra

soi thì cha đã bể sọ khơng nói được nữa, giây lát thì chết. Tìm được dưới chân tường chiếc giày thêu,

bà mẹ xem lại thì là của Yên Chi. Hỏi gặng thì cơ gái khóc kể lại hết mọi chuyện, nhưng không nỡ để

Vương thị bị liên lụy nên chỉ nói là Ngạc tự tìm tới mà thơi.

Sáng ra, nhà họ Biện kiện lên huyện, quan huyện sai bắt Ngạc. Ngạc vốn vụng dại nhút nhát, mười

chín tuổi rồi mà gặp người lạ vẫn thẹn thùng như trẻ con. Cho nên bị bắt tra hỏi thì vơ cùng sợ hãi,

trước công đường chẳng biết đối đáp ra sao, chỉ run lẩy bẩy. Quan huyện thấy thế càng tin chắc là kẻ

phạm tội, sai tra tấn tàn nhẫn, thân học trò yếu ớt không chịu đau nổi nên Ngạc đành nhắm mắt nhận tội

bừa. Giải lên phủ cũng thế, Ngạc oan ức đầy ruột, xin được gặp mặt Yên Chi đối chất. Nhưng vừa

gặp, cô gái đã chửi mắng tàn tệ, Ngạc lại đớ lưỡi khơng sao phân trần được. Vì vậy Ngạc bị khép tội

chết, thẩm vấn nhiều lần, qua mấy viên quan, vẫn khơng ai nói khác.

Sau đó án được ủy cho phủ Tế Nam phúc duyệt. Bấy giờ ông Ngô Nam Đại đang làm Tri phủ, vừa

thấy Ngạc sinh đã ngờ không phải là kẻ giết người, bèn ngầm sai người nhẹ nhàng hỏi riêng, được lời

khai cặn kẽ thì biết là Ngạc bị oan. Ơng suy nghĩ mấy ngày mới hỏi cung lại. Đầu tiên hỏi Yên Chi

rằng sau khi hẹn ước có ai biết chuyện khơng, cô gái trả lời là không. Lại hỏi lúc gặp Ngạc sinh có

còn ai khác khơng, cơ gái cũng trả lời là khơng. Ơng bèn gọi Ngạc lên ơn tồn hỏi, Ngạc thưa lúc đi

qua cổng nhà ông Biện thấy người hàng xóm cũ là Vương thị cùng một thiếu nữ đi ra thì vội rảo bước,

đi qua khơng nói câu nào. Ơng Ngơ qt cơ gái “Ngươi vừa nói khi gặp Ngạc khơng có ai khác, sao



đây Ngạc nói có người đàn bà hàng xóm?". Rồi định tra tấn, cơ gái sợ thưa “Tuy có Vương thị, nhưng

khơng có dính líu gì tới chuyện này”. Ơng thơi hỏi cung, sai bắt Vương thị.

Mấy ngày sau Vương thị tới, ông không cho gặp cô gái, lập tức thẩm vấn. Hỏi Vương thị ai là kẻ

giết người, Vương thị thưa không biết, ơng giả vờ nói "n Chi đã khai là ngươi biết rõ người giết

ơng Biện, còn giấu nữa à?". Vương thị vội kêu "Oan cho ta quá! Con dâm nữ ấy tự phải lòng trai, tuy

ta có nói sẽ làm mối cho nhưng chỉ để đùa cho vui thôi. Nó tự dẫn gian phu vào nhà, làm sao ta biết!".

ông hỏi cặn kẽ, thị mới thuật lại những lời nói đùa trước sau. Ơng gọi cơ gái lên, tức giận nói “Ngươi

nói thị khơng biết chuyện, sao bây giờ thị lại khai ra chuyện làm mai mối?". Cô gái sa lệ đáp "Tự ta

đã khơng ra gì khiến cha phải chết thảm, mà kiện tụng không biết đến năm nào mới xong, nên thật lòng

khơng nỡ làm liên lụy tới người khác thơi!". Ơng hỏi đã đùa cợt rồi có nói lại với ai khơng, Vương thị

khai là khơng. Ơng giận nói !Vợ chồng đầu gối tay ấp thì chuyện gì lại khơng nói, tại sao còn chối?".

Vương thị khai chồng vắng nhà đã lâu. Ơng nói "Dù thế nhưng kẻ đã trêu cợt người khác đều cười

người ta ngu, tự cho mình là khơn, mà lại khơng nói với người nào, thì định lừa dối ai?”. Rồi sai kẹp

mười đầu ngón tay, thị bất đắc dĩ phải khai thật là đã có nói với Túc, ơng bèn cho thả Ngạc bắt Túc.

Túc tới khai là khơng biết gì, ơng nói "Đi chơi gái thì khơng phải là kẻ tốt lành". Bèn sai tra khảo,

Túc phải khai thật là có lừa cơ gái, nhưng sau khi làm mất chiếc giày thì khơng dám tới nữa, còn quả

thật khơng rõ về việc giết người. Ơng giận dữ nói "Đã leo tường rồi thì có chuyện gì mà khơng làm?",

rồi lại sai tra khảo, Túc không chịu nổi phải nhận bừa. Án đã thành, báo lên trên, ai cũng khen ông

Ngô là thần minh. Bản án nghiêm khắc nặng nề, Túc chỉ còn có cách vươn cổ chờ chém. Nhưng Túc

tuy là kẻ phóng đãng vơ hạnh song vốn là một danh sĩ vùng Sơn Đông, nghe tiếng quan Học sứ họ Thi

là bậc hiền năng lại yêu người tài, thương kẻ sĩ bèn làm một bài từ kêu oan rất thống thiết gởi tới. Ông

Thi xem đi xem lại, ngẫm nghĩ rồi vỗ bàn nói "Gã học trò này bị oan rồi", bèn xin với quan trên cho

được xét lại vụ án.

Hỏi Túc để rơi chiếc giày ở đâu, Túc khai là không rõ, chỉ nhớ rằng khi gõ cửa nhà Vương thị vẫn

còn trong tay áo. Ơng quay qua hỏi Vương thị rằng ngồi Túc Giới còn dan díu với ai khác khơng,

Vương thị thưa là khơng. Ơng hỏi “Đã là người không trinh tiết, lẽ nào chỉ tư thơng với chỉ một

người?". Khai rằng "Đã dan díu với Túc Giới từ lúc nhỏ nên chưa dứt tình, chứ về sau khơng phải

khơng có kẻ ve vãn, song thực chưa từng dám đi lại với ai?”. Ơng bảo nói rõ tên những kẻ ve vãn làm

bằng chứng, Vương thị khai “Mao Đại ở cùng làng đã mấy lần gạ gẫm, nhưng đều cự tuyệt". Ông nỏi

"Sao lại chợt trở nên trinh tiết như thế?", bèn sai đánh trượng. Người đàn bà rủ đầu hộc máu, song vẫn

ra sức biện bạch là quả thật khơng có đi lại với ai khác.

Ơng bèn sai thơi đánh, lại hỏi "Chồng ngươi đi vắng, chẳng lẽ khơng có kẻ nào kiếm cớ tới gạ

gẫm à?". Vương thị đáp “Có tên Giáp, tên Ất đều lấy cớ tới mượn gạo vay tiền, có một hai lần vào

nhà tiểu nhân". Đại khái tên Giáp, tên Ất đều là đám du đãng trong ngõ, cũng có tình ý với thị nhưng

chưa tỏ vẻ gì. Ơng ghi tên cả bọn, sai giải hết ra miếu Thành hoàng, bắt quỳ phục trước án thờ rồi nói

"Đêm trước ta được thần báo mộng rằng kẻ giết người chỉ trong bốn năm đứa các ngươi. Nay trước

mặt thần, không được dối trá. Nếu tự thú thì còn được giảm tội, nếu chối thì khơng tha thứ được". Cả



bọn đồng thanh kêu là khơng hề làm việc giết người.

Ơng sai bày hình cụ ra, chuẩn bị tra khảo, buộc tóc lột trần cả bọn, thảy đều kêu khóc là oan. Ơng

sai ngừng tra khảo, nói “Các ngươi đã khơng chịu tự thú thì để quỷ thần chỉ ra”. Rồi sai người lấy

chăn che các cửa sổ thật kín, bắt cả bọn cởi trần vào trong phòng tối, đưa một chậu nước bắt phải rửa

tay rồi đứng im quay mặt vào vách để thần viết vào lưng kẻ có tội. Lát sau gọi cả ra để khám, ông chỉ

ngay vào Mao Đại nói "Đây mới đúng là thằng giặc giết người”. Đại khái là ông đã sai người bôi than

lên vách, lại lấy nước pha muội đèn bắt cả bọn rửa tay. Kẻ giết người sợ thần viết vào lưng nên lén

dựa lưng vào vách, lúc trở ra lại lấy tay che nên trên lưng có vệt đen. Ơng vốn đã nghi Mao, đến lúc

ấy giờ càng tin chắc, bèn dùng cực hình tra khảo, Mao phải khai hết sự thật. Ơng bèn viết án từ rằng:

“Túc Giới theo thánh hiền noi đường đạo nghĩa, mà dâm tà thành kẻ vô lương. Chỉ vì hai trẻ dại

khờ, hóa tính chuyện lành thành chuyện rủi, bởi có một lời tiết lộ, nên đứng núi nọ trông núi kia. Đã

học Trọng tử trèo tường, lại giả Lưu lang vào động. Tham dâm hiếu sắc, thẹn cùng lồi chuột có da,

tuốt lá bẻ hoa, nhục bấy học trò vơ hạnh. May mà nghe én bệnh khò khè, cũng còn tiếc ngọc, xót liễu

mềm tiều tụy, chưa phải cuồng oanh. Cứ kể tha phụng trong lồng, nói là ý văn nhân cũng đúng, nhưng

lại cướp giày bắt hứa, chẳng phải kẻ vơ lại là gì? Cánh bướm qua tường, ngồi song có người có ý,

giày sen rơi đất, trên thềm không tiếng không tăm. Trong cái giả nảy cái giả vì vậy, ngồi nỗi oan có

nỗi oan ai tin? Leo tường cạy vách, làm nhơ áo mũ nhà nho, mượn mận thay đào, khó tan ốn hòn kẻ

sĩ. Vậy nên tha cho tội roi gậy, trừ vào lúc ở tù, tạm lột chức sinh viên, mở cho đường sửa nết." .

Còn như Mao Đại là lưu manh ngồi chợ, du đãng khơng nhà. Bị đàn bà chửi cho lòng dâm tà

chẳng dứt, thấy trẻ con lén lút, ý giặc cướp chợt sinh. Theo gió xoay chiều hân hoan chiếc dép, mong

tương được rượu lú lẫn mùi hương. Chẳng noi đạo lý giữ gìn thiên đức, cứ theo ma quỷ táng tận lương

tâm. Cưỡi phứa bè sao trộm vào cung Nguyệt, qua bừa rạch nhỏ lén tới nguồn Đào. Để cho lửa dậy

núi tình, sóng dâng bể dục. Vung dao đâm thẳng, ném chuột không kiêng bể đồ, thế cùng chạy đâu,

phỏng lửa chi nề giật củi. Khoét vách vào nhà, mũ Trương Lý đội, ném giày giá họa, lưới cá chim sa.

Trường phong lưu lại nảy đám quỷ ma, làng ơn nhu há dung lồi độc ác. Phải chém đầu một kẻ, để

thỏa dạ bao người.

Về phần Yên Chi thì thân chưa hứa giá, tuổi mới cập kê. Xét phận tiên nơi Nguyệt điện, phải sánh

với Ngọc lang, nhưng người cũ đội Nghê thường, chi buồn không kim ốc. Thế mà cám Quan thư lại

ước hảo cầu, sớm tối mộng xuân vương vấn, oán mơ rụng luống mong cát sĩ, ý tình thiếu nữ mê man.

Chỉ vì một mối si tình, tới nỗi lũ gian gây nghiệt. Kể sắc tài sợ mất Yên Chi, ngại duyên phận nghĩ

thương Thu Chuẩn. Hài sen đã chẳng vẹn mùi hương, cửa sắt lại khôn bền giá ngọc. Lệ tương tư mòn

vóc tương tư, tới cho gây họa, lòng tình nghĩa xót niệm tình nghĩa, khiến phải ốn người. Cỏ thơm giữ

tiết, ngọc trắng may còn lành, ngục tối chịu oan, áo xanh mừng vẫn sạch. Vui bấy trong phòng cự tuyệt,

tấm băng trong vẫn giữ với tình quân, hay sao ném quả trao lòng, cuộc phong nhã còn truyền dài kỳ sự.

Mong quan Tri huyện, làm kẻ mai dong”.

Vụ án kết thúc, xa gần đều truyền tụng. Từ sau khi ông Ngô phúc án, Yên Chi mới biết Ngạc hàm

oan. Ra khỏi cơng đường thấy nhau thường nhìn Ngạc nuốt lệ, như có ý đau đớn hối tiếc nhưng chưa



nói ra được. Ngạc cảm động vì mối tình của cơ gái, cũng rất u kính, nhưng lại nghĩ nàng xuất thân

hèn kém, vả lại cứ ra vào nha môn, hàng ngàn người dòm ngó chỉ trỏ, nếu cưới làm vợ e thiên hạ chê

cười, cứ ngày đêm băn khoăn khơng dút khốt được, khi bản án được đưa xuống mới quyết ý. Quan

huyện an ủi Ngạc về việc bị bắt oan, đưa trống tới mừng đám cưới của hai người.

Dị Sử thị nói: Hay làm sao! Xử kiện khơng thể không thận trọng vậy! Cho dù biết người này

oan song ai biết kẻ kia cũng bị sự việc tuy mờ ám nhưng ắt cũng có đầu mối để nhận biết, nếu

khơng suy xét cẩn thận thì khơng thể nhận ra được vậy! Than ôi! Người ta đều phục các bậc hiền

minh xử án sáng suốt nhưng không biết họ dụng tâm lao khổ tới mức nào. Những kẻ trị dân trên

đời cứ cuộc cờ chén rượu qua ngày, mão cao áo rộng coi việc, dân tình oan khổ cũng khơng chịu

suy nghĩ, đến buổi gióng trống ra cơng đường làm việc thì ngất ngưởng ngồi cao, dân bên dưới

kêu ca thì dùng roi gậy gơng cùm bịt miệng, lạ gì trong chốn tối tăm còn nhiều nỗi oan khiên!

Tiên sinh Ngu Thi Sơn là thầy ta, lúc ta còn nhỏ vẫn trộm thấy mỗi khi ơng khích lệ học trò thì

áy náy như chưa nói hết ý, có ai hơi bị oan ức thì ra sức che chở giúp đỡ cho, không bao giờ ra

oai ở học đường để dua nịnh những kẻ cầm quyền, đúng là bậc Hộ pháp trong đạo Khổng chứ

không phải chỉ là kẻ chủ trì văn giáo một thời mà thơi, chấm văn khơng hề nghe lệnh ai mà nâng

cao hạ thấp cả. Lại yêu người tài như tiếc mạng sống, các quan Học sứ ngày sau chỉ biết làm theo

lệ cũ không sao bằng được . Có người danh sĩ vào trường thi, làm đề bài "Bảo Tàng dữ yên?"

(Cùng với núi Bảo Tàng chăng?) lại nhớ lầm núi Bảo Tàng là sông, viết xong bài thi mới biết là

lầm, nghĩ rằng thế nào cũng bị đánh rót, bèn viết thêm một bài từ rằng "Bảo Tàng ở trong núi, lại

lầm thành bên sông. Đầu non cũng mọc cung Thủy tinh, san hô dài trên đỉnh, ngọc trai sáng bên

cây. Quay nhìn thì trong non quả có kẻ chèo thuyền, cáo với trời xanh, đánh rớt cho rồi, để bè bạn

xem chơi”. Tiên sinh đọc tới đó bèn họa rằng “Bảo Tàng trong đường núi, chợt trở thành bên

sơng, tiều phu cứ nói lời ông chài. Tuy bài làm sai đề, nhưng văn chương lại hay, đâu nỡ xếp dưới

người? Vẫn nghe kẻ lên non sợ nguy hiểm, nào gặp người thấy sông rụng rời", rồi vẫn lấy đỗ. Đó

cũng là một chuyện phong nhã, một việc yêu tài của ông vậy.



280. Tiền Mưa (Vũ Tiền)

Có một người học trò ở huyện Tân Châu (tỉnh Sơn Đơng) đang đọc sách trong phòng học thì có

tiếng gõ cửa, ra xem thì thấy một ơng già tóc bạc phơ, dáng vẻ thốt tục, bèn mời vào, hỏi họ tên. Ông

già tự xưng họ Hồ tên Dương Chân, vốn là hồ tiên, vì hâm mộ ơng là người cao nhã nên tới xin được

kết bạn hôm sớm. Người học trò vốn tính khống đạt nên cũng khơng ngờ sợ, bèn cùng nhau bàn luận

cổ kim. Ơng già học rộng biết nhiều, nghị luận văn hoa hùng hồn, phun châu nhả ngọc, nói về kinh

nghĩa thì lý luận sâu sắc, ý tứ lạ lùng. Người học trò rất khâm phục, giữ ông già ở lại rất lâu. Một

hơm, y khẩn cầu “Ơng thương ta hiền lành phúc hậu, nhưng vẫn nghèo khổ thế này, mà ông chỉ trở tay

một cái là có vàng bạc ngay, sao khơng chu cấp cho đơi chút?". Ơng già “hừ” một tiếng như thấy

khơng được, nhưng lát sau lại cười nói "Việc đó rất dễ, nhưng phải có mười đồng tiền làm vốn".

Người học trò đưa ra đủ số, ơng già bèn cùng y vào phòng kín, giẫm chân đọc chú. Giây lát hàng trăm

vạn đồng tiền từ xà nhà loảng xoảng rơi xuống như mưa rào, trong chớp mắt ngập tới đầu gối, rút chân

lên lại ngập tới đùi, cả một căn nhà rộng mà tiền ngập tới ba bốn thước. Ông già quay lại hỏi “Ông

vừa ý chưa?", y đáp "Đủ rồi". Ông già vẫy tay một cái, mưa tiền ngừng lại, rồi cùng đóng cửa cài then

đi ra. Người học trò mừng thầm, cho rằng đã trở nên giàu có, nhưng lát sau vào lấy ra dùng thì gian

phòng đầy tiền đã rỗng khơng, chỉ còn mười đồng làm vốn nằm trơ ra ở đó. Người học trò thất vọng,

tức tối chửi mắng ơng già lừa dối. Ơng già giận dữ nói “Ta vốn là bạn văn chương chữ nghĩa chứ

không định làm giặc cùng với ông. Muốn được như ý học trò nhà ơng thì cứ kết bạn với bọn trèo

tường khoét vách, chứ lão phu không thể vâng mệnh", rồi phẩy áo bỏ đi.



281. Hai Ngọn Đèn Lồng (Song Đăng)

Ngụy Vận Vượng người Bàn Tuyền huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) vốn là con nhà đại gia thế tộc,

về sau sa sút không thể học hành, năm hơn hai mươi tuổi phải bỏ học, theo cha vợ làm nghề bán rượu.

Một đêm Ngụy ngủ một mình trên lầu trong quán rượu, chợt nghe có tiếng bước chân, giật mình vùng

dậy lắng tai nghe ngóng, tiếng bước chân càng gần, kế lên cầu thang càng lúc càng mau. Khơng bao lâu

thấy có hai tỳ nữ cầm đèn lồng tới ngay đầu giường, phía sau là một thư sinh trẻ tuổi dắt một cô gái tới

cạnh giường cười khẽ. Ngụy vô cùng ngạc nhiên nhưng biết ngay là hồ, tồn thân nổi gai ốc, cúi đầu

khơng dám liếc lên. Thư sinh cười nói “Ơng đừng đốn bậy, em gái ta với ơng có tiền dun, đêm nay

nên thành thân". Ngụy nhìn thấy thư sinh mặt áo lơng điêu rực rỡ lóa mắt, tự thẹn mình rách rưới nhơ

bẩn, cúi mặt không biết đối đáp thế nào, thư sinh dắt hai tỳ nữ cầm đèn bỏ đi.

Ngụy lén nhìn cơ gái, thấy lộng lẫy như tiên, trong lòng rất thích nhưng thẹn mình xấu xí, khơng thể

cất lời suồng sã. Cơ gái cười nói "Chàng khơng phải là bọn học trò, cần gì phải làm như lối bọn có

học", Ngụy mới vui vẻ. Trời chưa sáng, hai tỳ nữ lại tới đưa cô gái đi, hẹn tối lại tới. Tối hơm sau

quả nhiên cơ gái lại tới, cười nói "Anh chàng ngây này có phúc gì mà khơng tốn một đồng lại được

người vợ đẹp như thế này, tối tối tự tìm tới”. Ngụy bày rượu ra cùng uống, chơi trò giấu vật trong tay

đánh đố, mười lần thì cơ gái thắng tới chín, bèn cười nói "Chẳng bằng để thiếp giấu cho chàng đốn,

trúng thì thắng, thua thì phạt, chứ để thiếp đốn thì chắc chắn là chàng thua”. Nguy theo lời, suốt đêm

lấy đó làm trò vui. Nửa năm sau Ngụy về nhà, đang đêm trăng nói chuyện với vợ cạnh cửa sổ, chợt

thấy cô gái ăn mặc đẹp đẽ ngồi trên đầu tường vẫy. Ngụy ra gặp, cơ gái đưa tay kéo cùng leo ra ngồi

rồi cầm tay Ngụy nói "Hơm nay vĩnh biệt chàng, xin tiễn nhau vài bước, gọi là tình nghĩa quen nhau

nửa năm". Ngụy hoảng sợ hỏi lý do, cô gái đáp "Nhân dun vốn có định số, cần gì phải nói". Cùng

nhau chuyện trò, ra tới ngồi thơn thì hai tỳ nữ cầm đèn ngày trước đã đứng chờ, cùng nhau lên núi

Nam Sơn, tới chỗ cao lại từ biệt, Nguy giữ lại không được, ba người đi luôn. Ngụy đứng thẫn thờ

bàng hồng, nhìn theo hai ngọn đèn lập l xa dần đến lúc khơng thấy gì nữa mới buồn rầu trở về.

Đêm ấy trên đầu núi có ánh đèn lửa, người trong thơn đều nhìn thấy.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Yên Chi (Yên Chi)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×