Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tiểu Mai (Tiểu Mai)

Tiểu Mai (Tiểu Mai)

Tải bản đầy đủ - 0trang

lên đỡ dậy.

Từ khi vợ Vương mắc bệnh nằm liệt giường kẻ ăn người làm sinh thói lười biếng ăn cắp, việc nhà

đã lâu khơng có ai coi sóc. Mọi người làm lễ ra mắt xong, xếp hàng đứng hầu, cơ gái nói "Ta cảm lòng

thành của phu nhân nên lưu lại trần gian, lại được ủy thác cho việc lớn. Các ngươi đều nên tự mình

sửa đổi, gắng sức cho chủ, những lỗi lầm trước đây ta không hỏi tới, nếu khơng thì đừng nói trong nhà

khơng có người". Mọi người cùng nhìn lên thấy nàng giống hệt bức tranh Quan âm lay động lúc có làn

gió thổi qua, nghe thế run sợ đều dạ ran. Nàng cắt đặt mọi người lo việc tang đâu vào đấy, từ đó lớn

nhỏ trong nhà không ai dám trễ nải. Cô gái cả ngày lo toan cơng việc trong ngồi, Vương định làm gì

cũng hỏi qua nàng mới làm. Tuy một ngày gặp nhau mấy lần, nhưng khơng nói một câu riêng tư. Sau

tang lễ Vương muốn nhắc lời vợ dặn nhưng khơng dám nói thẳng bèn nhờ người thiếp ngỏ ý. Cơ gái

nói "Ta đã nhận lời phu nhân dặn dò cặn kẽ, không thể từ chối, nhưng hôn phối là việc lớn, khơng thể

quấy q. Hồng tiên sinh là vai bác, ngôi cao đức lớn, xin mời ông làm chủ hơn thì ta xin vâng

mệnh".

Lúc bấy giờ quan Thái bộc họ Hồng ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đơng) đã về trí sĩ, là bạn của

cha Vương, vẫn đi lại thân thiết với nhau. Vương lập tức tới thăm kể rõ mọi việc, Hoàng lấy làm lạ

bèn cùng tới nhà Vương, cơ gái nghe báo liền ra lạy chào. Hồng vừa trông thấy, kinh ngạc cho là

người tiên, không dám nhận lễ, kế tặng quà rất hậu, làm đám cưới xong rồi về. Cô gái đưa tặng gối êm

giày ấm, chu đáo như thờ cha mẹ chồng, từ đó hai nhà càng thêm thân thiết. Sau lễ hợp cẩn, Vương vẫn

coi nàng là thần nên trong lúc yêu đương vẫn có phần cung kính, thỉnh thoảng lại dò hỏi về việc Bồ

Tát ăn ở ra sao. Cơ gái cười nói "Chàng thật ngốc q, làm gì có chuyện thần thánh nào lấy người trần

thế?”. Vương lại căn vặn nàng từ đâu tới, nàng đáp “Không cần phải hỏi kỹ, nếu cho là thần thì cứ

sớm tối thờ phụng, sẽ khơng mắc tội”. Cô gái với người dưới thường khoan dung, lúc nào nói cũng

cười nhưng đám tớ gái đang đùa giỡn với nhau vừa thấy bóng nàng là im bặt. Nàng cười bảo "Chẳng

lẽ các ngươi còn cho ta là thần sao? Ta mà là thần thánh gì, thật ra là em phu nhân, nhưng ít khi đi lại,

chị ta ốm nhớ em nên ngầm nhờ bà Vương ở thôn nam gọi ta tới, ở đây sợ ngày đêm gần gũi anh rể có

điều khơng tiện nên nói thác là thần, ở kín trong phòng chứ thật ra có phải là thần thánh gì đâu!”. Mọi

người vẫn chưa tin lắm nhưng hàng ngày hầu hạ bên cạnh thấy nàng chẳng khác gì người thường nên

những lời bàn tán cũng hết dần.

Nhưng với đám tôi tớ ngu si bướng bỉnh mà Vương đánh mắng vẫn khơng dạy dỗ được, nàng chỉ

nói một câu là ai cũng ngoan ngoãn vâng lời, đều nói “Khơng rõ vì sao, chứ thật ra khơng sợ hãi gì

nhưng cứ thấy mặt nàng là mềm lòng, khơng nỡ làm điều gì trái ý". Từ đó mọi việc trong nhà đều tốt

đẹp lên, trong vài năm mà ruộng tốt liền bờ, kho thóc đầy ắp. Vài năm sau người thiếp sinh một gái,

nàng cũng sinh một trai, đứa nhỏ mới sinh ra đã có một nốt ruồi son trên cánh tay phải, nhân đặt tên là

Tiểu Hồng. Lúc đầy tháng, cô gái bảo Vương làm tiệc lớn mời Hồng, Hồng gởi q mừng rất hậu

nhưng từ tạ khơng tới vì già yếu khơng đi xa được, nàng sai hai bà già qua nài nỉ Hoàng mới tới. Nàng

bế đứa nhỏ ra vạch tay trái để giải thích tên con, lại hỏi đi hỏi lại rằng nốt ruồi ấy là tốt hay xấu.

Hoàng cười đáp "Đo như thế là tốt, nên thêm một chữ vào tên, gọi là Hỷ Hồng". Nàng mừng lắm bước



ra lạy tạ.

Hôm ấy đàn sáo vang nhà, thân thích tới mừng đơng nghẹt, Hồng ở chơi ba ngày mới về. Chợt

ngồi cổng có xe ngựa tới đón cơ gái về thăm nhà, mọi người vì suốt mười năm khơng hề thấy nàng có

họ hàng gì lui tới nên đều xôn xao bàn tán. Nhưng cô gái làm như không nghe thấy, cứ sửa soạn hành

trang bế con đi, bảo Vương theo tiễn. Vương đi theo, được khoảng hai ba mươi dặm tới một chỗ vắng,

cô gái dừng xe gọi Vương xương ngựa lên buông rèm trò chuyện, nói “Vương lang, Vương lang! Sum

họp ngắn ngủi, chia ly lâu dài, chàng có đau lòng khơng?” Vương hoảng sợ hỏi nguyên do, nàng nói

"Chàng biết thiếp là ai không?”. Vương đáp không biết, nàng hỏi “Trước đây chàng có cứu một người

bị tội chết ở Giang Nam, đúng khơng?”, Vương đáp có. Cơ gái nói "Bà già khóc trên đường ấy là mẹ

thiếp, vì cảm nghĩa của chàng nên nghĩ cách báo đáp, mới nhân việc phu nhân mộ đạo Phật bảo thiếp

giả làm thần, thật ra là để đem thiếp báo ơn chàng. Nay may mắn sinh được đứa con này, thế là toại

nguyện. Thiếp thấy chàng sắp đến vận xấu, nếu để đứa nhỏ này ở nhà e không nuôi được, nên phải

mang theo để tránh tai ách cho con. Chàng nhớ là lúc nào trong nhà có ai chết thì cứ lúc gà gáy canh

đầu phải tới rặng liễu trên bờ đê Tây Hà, chờ người cầm đèn lồng hoa quỳ tới đón đường cầu khẩn

mới có thể thốt nạn". Vương hứa sẽ nhớ, lại hỏi ngày trở lại, nàng đáp "Khơng thể tính trước, nhưng

chỉ cần chàng nhớ kỹ lời thiếp thì ngày tái ngộ cũng không xa lắm đâu”. Lúc lên đường cầm tay Vương

khóc ròng, kế lên xe đi nhanh như bay, Vương nhìn theo đến khi khuất bóng mới quay về.

Sáu bảy năm sau Tiểu Mai vẫn bặt tăm, chợt bệch dịch lan tràn khắp nơi, người chết như rạ. Một

người tớ gái trong nhà bị bệnh ba ngày rồi chết, Vương vẫn nhớ lời cô gái dặn nhưng hôm ấy có

khách, uống rượu say ngủ quên, tỉnh dậy nghe tiếng gà gáy vội tìm ra rặng liễu trên đê, thấy có ánh đèn

le lói song đã xa rồi, vội đuổi theo nhưng đi được một bước thì thấy xa thêm trăm bước, càng đuổi

theo thì ánh đèn càng xa, dần dần không thấy đâu nữa. Vương buồn rầu trở về, vài hôm sau mắc bệnh

nặng rồi chết. Họ hàng Vương có nhiều kẻ vơ lại, thấy thế cùng ức hiếp con cơi vợ góa, lúa ruộng trái

vườn cơng nhiên gặt hái, nhà cửa ngày càng sa sút. Qua năm sau Bảo Nhi lại chết, trong nhà khơng có

ai là chủ, bọn chúng càng ngang ngược, chiếm hết ruộng vườn, bắt hết trâu ngựa. Lại muốn chia nhau

cả nhà cửa, vì người thiếp của Vương còn ở đó bèn dắt mấy người tới bắt ép đem bán. Người thiếp

thương đứa con gái nhỏ, mẹ con bịn rịn khóc lóc, láng giềng đều thương xót.

Đang lúc nguy cấp chợt nghe ngồi cổng có tiếng xe ngựa đỗ lại, mọi người nhìn ra thì Tiểu Mai

dắt con trai bước xuống. Nàng nhìn quanh thấy mọi người đang nhao nhao như cái chợ, bèn hỏi đó là

ai, người thiếp khóc lóc kể lại. Cô gái biến sắc mặt, lập tức sai người theo hầu đóng cổng khóa lại.

Bọn kia toan chống cự nhưng tay chân tự nhiên nhũn ra, cô gái ra lệnh trói tất cả lại vào cột nhà, mỗi

ngày cho ăn ba bát cháo loãng, sai một lão bộc tới báo ngay cho ơng Hồng, kế vào nhà khóc lóc thảm

thiết rồi nói với người thiếp rằng "Đó là số trời, ta đã định về từ tháng trước lại vì mẹ ta ốm nặng nên

chần chừ đến nay, không ngờ trong chớp mắt chàng đã thành người thiên cổ!". Lại hỏi tới các tơi tớ cũ

thì đều bị người trong họ cướp đi, càng thêm thương cảm.

Hôm sau tôi tớ nghe tin nàng tới đều trốn về, gặp lại nhau đều sa nước mắt. Bọn người trong họ bị

trói cùng kêu rằng đứa nhỏ kia không phải là con Mộ Trinh, cơ gái cũng khơng thèm tranh cãi. Kế ơng



Hồng tới, nàng dẫn con ra đón, Hồng cầm tay đứa nhỏ kéo tay áo bên trái lên thì nốt ruồi son vẫn

còn đó, bèn chỉ cho mọi người thấy chứng cứ đích xác. Liền hỏi kỹ về những vật đã mất, những người

đã lấy, biên hết vào sổ báo lên quan huyện. Quan bắt tất cả bọn vô lại lên đánh mỗi tên bốn chục roi

giam lại rồi lục soát nhà cửa, ruộng đất trâu ngựa đều trở về chủ cũ. Hồng sắp về cơ gái dắt con ra

khóc lạy rồi nói "Thiếp khơng phải là người trần, chú đã biết rổi. Nay xin đem đứa con côi này gởi

gắm cho chú”. Hồng đáp "Lão phu còn một hơi thở cũng cố lo lắng cho nó”. Hồng về rồi, cơ gái xếp

đặt việc nhà xong, gởi con cho người thiếp rồi mang lễ vật ra mộ cúng chồng, nửa ngày không về, ra

xem thấy mâm bàn rượu thịt vẫn còn đó mà người đã biến mất.

Dị Sử thị nói: Khơng để người phải tuyệt tự thì người cũng khơng để mình phải tuyệt tự, đó là

việc người nhưng thật ra cũng là đạo trời. Còn tới như trên tiệc có bạn hiền, áo cừu xe nhẹ có thể

cùng hưởng mà lúc nấm mồ xanh cỏ, vợ con sa sút thì người trong xe thản nhiên nhìn qua rồi đi

thơi. Bạn chết khơng nỡ qn, cảm ơn nghĩa thì nghĩ cách báo đáp, có phải chỉ riêng con người

đâu. Hồ ơi, nếu ngươi có nhiều tiền bạc thì ta sẽ làm quản gia cho ngươi!



200. Cơ Gái Đánh Sợi (Tích Nữ)

Huyện Thiệu Hưng (tỉnh Chiết Giang) có người quả phụ đêm ngồi đánh sợi, chọt có một cơ gái

đẩy cửa bước vào cười nói “Bà khơng mệt sao?", nhìn ra thấy khoảng mười tám mười chín tuổi dung

nhan đẹp đẽ, áo xiêm lộng lẫy. Bà già kinh ngạc hỏi “Cô ở đâu tới đây?”, cơ gái đáp "Thương bà ở

một mình, nên tới làm bạn”. Bà già ngờ là thê thiếp nhà giàu sang trốn đi, cứ căn vặn mãi. Cô gái nói

“Bà đừng sợ, thiếp dù là hồ, cũng giống bà thôi. Thiếp mến bà là người trong sạch nên tới ở chung, cả

hai đều đỡ vắng vẻ, thế không tốt sao?". Bà già lại ngờ là hồ, trầm ngâm do dự, cơ gái bèn lên giường

đánh sợi giúp, nói "Bà đừng lo việc kiếm sống thế này thiếp giỏi bậc nhất, quyết không làm phiền

nhau về cái ăn cái uống đâu”. Bà già thấy nàng dịu dàng khả ái nên bằng lòng. Đến khuya nàng nói với

bà già "Có gói chăn gối mang theo còn để ngồi cổng, lúc nào nghỉ phiền bà cầm vào giùm”. Bà già

ra, quả thấy một gói y phục liền đem vào cơ gái mở ra bày trên giường, không biết là loại gấm lụa gì

mà thơm phức mịn màng khơng gì sánh kịp. Bà già cũng trải chăn đệm ra cùng nàng ngủ chung một

giường, nàng vừa cởi quần áo ngồi ra thì có mùi hương lạ thơm nức cả phòng.

Lúc đi nằm, bà già thầm nghĩ gặp người đẹp thế này mà tiếc rằng mình khơng phải là đàn ơng, cơ

gái đang nằm cười nói “Bà đã bảy mươi tuổi mà còn vọng tưởng à?”. Bà già đáp "Đâu có", nàng nói

"Đã khơng vọng tưởng, sao lại muốn làm đàn ông?". Bà già càng biết chắc là hồ, cả sợ, cô gái lại

cười nói "Muốn làm đàn ơng để làm gì, sao còn sợ ta chứ?”. Bà già càng khiếp sợ, run bần bật lay

động cả giường. Cơ gái nói "Mật chỉ lớn có bấy nhiêu mà lại muốn làm đàn ơng. Nói thật ta chính là

người tiên nhưng khơng phải là loại gái gây tai họa đâu, chỉ cần bà kín miệng thì tự nhiên đủ cái ăn cái

mặc". Sáng ra bà già dậy sớm sụp lạy bên giường, cô gái kéo đứng lên, tay mịn như mỡ đông, tỏa mùi

hương ấm, da thịt chạm tới là thấy rạo rực. Bà già động tâm lại suy nghĩ vẩn vơ, cô gái mỉm cười nói

“Bà già vừa mới run bần bật đây mà lại nghĩ ngợi gì thế? Nếu bà là đàn ơng, chắc sẽ chết vì tình". Bà

già nói "Nếu ta là đàn ơng thì đêm qua làm sao sống được?".

Từ đó hai người hòa hợp, hàng ngày cùng làm việc, nhìn thấy sợi cơ gái đánh ra mịn đều óng ánh,

đem dệt thành vải thì sáng ngời như gấm, bán được giá gấp ba. Bà già đi đâu thì đóng cửa, có ai tới

thăm thì bà tiếp đãi ở phòng khác, cơ gái ở đó nửa năm mà khơng ai biết. Về sau bà già dần dần nói lộ

ra cho láng giềng biết, đám chị em quen biết kéo nhau tới nhờ nói giùm xin cho được gặp cơ gái. Nàng

trách móc, nói "Bà khơng giữ gìn lời nói, thì ta không ở đây lâu được đâu”. Bà già hối hận vì đã lỡ

lời, vơ cùng ăn năn, nhưng những kẻ xin cho được gặp cơ gái ngày càng đơng, có người còn toan lấy

quyền thế ép buộc. Bà già khóc lóc bày tỏ, cơ gái nói "Nếu là chị em bạn gái thì gặp mặt cũng khơng

hại gì, sợ đám đàn ơng khinh bạc tới gặp rồi giở trò suồng sã". Bà già lại năn nỉ, nàng mới ưng thuận.

Hôm sau đám đàn bà già trẻ cầm hương đèn chen nhau đầy cổng, cô gái ghét phiền rộn nên bất kể

là sang hèn đều khơng trò chuyện, chỉ im lặng ngồi thẳng nghe họ chào hỏi mà thôi. Bọn thiếu niên

trong làng nghe đồn nàng đẹp, thần hồn điên đảo nhưng bà già đều cự tuyệt khơng cho gặp. Có Phí sinh

là danh sĩ trong huyện, dốc hết gia sản đem món tiền lớn tới mua chuộc bà già, bà nhận lời xin cho. Cô



gái đã biết trước, trách "Bà bán ta à?", bà già quỳ rạp xuống đất tự thú. Cơ gái nói “Bà thì tham tiền

đút lót, ta thì cảm mối si tình, có thể cho gặp một lần, nhưng thế là hết duyên phận rồi đấy”. Bà già lại

dập đầu năn nỉ, nàng bèn hẹn hôm sau.

Sinh nghe tin mừng rỡ, sắm đủ hương đèn tới, vào cửa chắp tay vái dài. Cô gái ngồi trong rèm

tiếp chuyện, hỏi "Chàng phá tán gia sản để gặp nhau, có điều gì dạy bảo thiếp?". Sinh đáp "Thật khơng

[246]



dám có ý gì khác, chỉ là nghe tiếng Mao Tường, Tây Tử

mà thôi. Nếu không chê là ngu tối ngang

bướng, cho được mở rộng tầm mắt một lần thì kẻ hèn này đã thỏa nguyện rồi. Còn chuyện lành dữ đã

có số trời, khơng cần nói tới". Chợt thấy sau tấm rèm vải dung nhan tỏa sáng chiếu ra, mày biếc mơi

son đều nhìn thấy rõ tựa hồ khơng bị rèm màn ngăn cách. Sinh ý động thần dao, bất giác lạy sụp xuống.

Lạy xong đứng lên thì tấm rèm như dày nặng hơn, chỉ nghe tiếng mà không thấy gì nữa. Đang ngậm

ngùi trộm tiếc chưa nhìn thấy được phần dưới bỗng dưới tấm rèm nhô ra hai chiếc hài thêu cong mũi

xinh xắn khơng dài hơn ngón tay. Sinh lại cúi lạy, cơ gái trong rèm nói vọng ra "Thôi chàng về nghỉ,

thiếp cũng mệt rồi".

Bà già mời sinh qua phòng khác pha trà tiếp đãi, Sinh đề lên vách một bài từ điệu Nam hương tử

như sau:

Ẩn ước họa liêm tiền,

Tam thốn lăng ba ngọc duẩn tiêm.

Điểm địa phân minh, liên biện lạc tiêm tiêm.

Tái trước trùng đài cánh khả liên.

Hoa thấn phượng dầu loan,

Nhập ác ưng tri nhuyễn tự miên.

Đãn nguyện hóa vi hồ điệp khứ lộ biên,

Nhất khứu dư hương tử diệc cam.

(Thấp thoáng trước màn là,

Măng ngọc hài thêu mấy tấc hoa.

Chấm đất rỡ ràng cánh sen rụng la đà,

Đài gương gặp lại nghĩ thương ta.

Có hóa được làm trâm,

Vào trong mới biết tóc mây mềm.

Chỉ mong hoá bướm lượn bên nàng,

Ngửi chút hương thừa, chết cũng cam.)

Đề xong ra về. Cô gái xem bài từ khơng vui, nói với bà già "Ta nói duyên phận đã hết, nay quả

không sai". Bà già quỳ rạp xuống đất chịu tội, nàng nói "Khơng phải chỉ riêng bà có tội. Ta ngẫu nhiên

sa vào nghiệp tình, đem sắc đẹp cho người ta thấy nên mới bị lời bậy bạ làm nhơ nhuốc, đều là tự

mình chuốc lấy, còn trách ai được? Nếu khơng đi mau cho xa, sợ sẽ đắm vào vực tình, kiếp sau cũng

khó mà thốt ra khỏi". Rồi xách khăn gói đi ra, bà già đuổi theo giữ lại thì trong chớp mắt đã biến

mất.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tiểu Mai (Tiểu Mai)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×