Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vân Thúy Tiên (Vân Thúy Tiên)

Vân Thúy Tiên (Vân Thúy Tiên)

Tải bản đầy đủ - 0trang

gặp lúc gia đình khơng hòa thuận, nếu đem bán làm vợ lẽ phải được trăm lượng vàng còn bán cho nhà

chứa phải được ngàn lượng, có ngàn lượng vàng trong nhà thì lo gì khơng tiền uống rượu đánh bạc?”.

Tài không đáp nhưng thầm cho là đúng. Về nhà cứ nhìn vợ thở dài, lúc lúc lại than nghèo quá không

biết làm sao sống. Cô gái làm như không nghe, Tài cau có đập bàn ném bát, chửi mắng tỳ nữ, làm đủ

trò gây gổ. Một đêm cơ gái mua rượu cùng uống, chợt nói "Chàng vì nghèo túng mà lo nghĩ ngày đêm,

thiếp cũng chẳng có cách gì lo toan để chia sẻ, há không hổ thẹn, nhưng khơng có vật gì đáng giá, chỉ

có con hầu này, đem bán đi cũng đủ vốn buôn bán lặt vặt”. Tài lắc đầu nói "Nó thì đáng bao nhiêu!".

Uống thêm một lúc, nàng nói !'Thiếp có tiếc gì với chàng đâu, khổ cái là đã kiệt lực rồi. Nghĩ lại thấy

cứ nghèo túng thế này, cho dù theo nhau tới chết chẳng qua cũng chỉ là khổ sở suốt đời, làm sao mở

mày mở mặt được. Không bằng cứ đem thiếp bán cho nhà giàu thì hai người đều có lợi, chắc được giá

hơn con hầu nhiều”.

Tài làm ra vẻ kinh ngạc, nói làm gì phải tới nỗi như vậy nhưng nàng cứ nói mãi, vẻ mặt rất nghiêm

trang. Tài mừng nói "Để ta tính lại". Liền đánh tiếng với một vị quan lớn đang mua ca kỹ làm con hát,

vị quan đích thân tới nhà Tài, thấy cơ gái rất thích, sợ khơng mua được ngay, bèn làm giao kèo mua

tám trăm quan, việc thế là xong. Cô gái nói “Mẹ thường ngày thấy nhà rể nghèo vẫn lo lắng cho, nay

đã dứt hết tình nghĩa, thiếp phải về thăm một lần. Vả lại chàng đoạn tuyệt với thiếp thì cũng phải nói

cho mẹ biết chứ". Tài lo bà mẹ cản trở, nàng nói "Đây vốn là do thiếp muốn, cam đoan khơng có việc

gì đâu”, Tài bèn theo nàng đi. Gần nửa đêm mới tới nhà mẹ vợ, gõ cổng vào thấy lầu gác hoa lệ, đầy

tớ đi lại tấp nập. Tài thường ngày ở với vợ vẫn muốn tới thăm mẹ nhưng cô gái cứ ngăn cản nên làm

rể hơn một năm vẫn chưa lần nào tới nhà bà nhạc, lúc ấy cả sợ nghĩ rằng con gái nhà giàu có như thế

này ắt khơng chịu làm nàng hầu con hát. Cô gái dẫn Tài lên lầu, bà già kinh ngạc hỏi "Sao vợ chồng

lại tới đây?”, nàng ốn hờn nói "Con vẫn nói y bất nghĩa, nay quả đúng". Rồi lấy trong túi ra hai nén

vàng đặt lên bàn, nói "May mà khơng bị đứa tiểu nhân lừa lấy, nay xin trả cho mẹ".

Mẹ kinh ngạc hỏi duyên cớ, nàng đáp "Y muốn bán con đi, có giữ vàng cũng vơ dụng”, rồi chỉ mặt

Tài mắng “Đồ chó, ngày trước ngươi gánh hàng bán rong, mặt mũi lem luốc như ma, lúc đầu gần ta mồ

hôi còn chua loét, cáu ghét rơi ra muốn sập giường, tay chân thì chai cộm cả tấc khiến người ta suốt

đêm lợm mửa, từ khi lấy ta chỉ ngồi ăn khơng mới lột được lớp da quỷ sứ đi. Có mẹ ở đây, ta có đặt

chuyện cho ngươi khơng?". Tài cúi đầu khơng dám hó hé, nàng lại nói “Ta biết mình khơng có nhan

sắc nghiêng nước nghiêng thành để làm vợ bậc quý nhân, chứ với hạng đàn ông như ngươi thì dám nói

là xứng đơi vừa lứa, mà ta khơng làm gì lầm lỗi sao ngươi nỡ dứt cả nghĩa vợ chồng khơng nghĩ tới

chút tình hương lửa. Ta há không đủ sức làm nhà lầu mua ruộng tốt sao, chỉ vì thấy ngươi là kẻ ít phúc

phận, có tướng ăn mày, khơng thể sống với nhau trọn đời được thơi”. Nàng nói xong, bọn tớ gái kéo

tới vây đặc chung quanh thóa mạ, đều nói cứ giết đi, cần gì phải nói này nọ. Tài khiếp sợ quỳ mọp

dưới đất, nói đã ăn năn rồi.

Cơ gái càng tức giận, nói "Bán vợ con đã là đại ác, sao ngươi còn nỡ lòng coi rẻ người bạn đầu

gối tay ấp đem bán đi làm đĩ chứ?”. Nàng chưa dứt câu, mọi người đều sôi máu, kẻ rút trâm tóc,

người vớ kéo may xúm vào đâm túi bụi. Tài kêu la xin tha mạng, cô gái ngăn mọi người lại, nói "Thơi



tạm tha cho hắn, y bất nhân nhưng ta không nỡ thấy y khiếp sợ như thế", rồi dắt mọi người xuống lầu.

Tài ngồi nghe ngóng một lúc, thấy khơng có tiếng người, toan bỏ trốn. Chợt ngẩng nhìn trời thấy sao

đêm lặn hết, phương đơng đã hừng sáng, trời đất mênh mang. Kế đèn lửa cũng tắt hết, nhìn lại thấy

khơng có nhà cửa gì cả mà mình thì đang ngồi trên vách đá cheo leo, cúi xuống thấy ở dưới là vực sâu

thăm thẳm, khiếp đảm sợ rơi xuống. Vừa nhúc nhích thì ầm một tiếng, tảng đá đang ngồi lở ra rơi luôn

xuống vực. May vách núi có cây khơ đâm ngang nên Tài vướng lại không rơi xuống, nằm vắt bụng trên

thân cây, tay chân chẳng có chỗ nào bấu víu, nhìn xương vực thấy mờ mịt không biết sâu bao nhiêu

trượng, không dám động đậy. Sợ muốn tắt thở, toàn thân đẫm máu, kiệt sức mê mụ ngất đi luôn. Mặt

trời lên cao mới có người tiều phu nhìn thấy, tìm dây dòng xuống cứu lên, đặt trên sườn núi, thấy hơi

thở thoi thóp bèn khiêng cho về nhà.

Về tới thấy cửa mở toang, trong nhà trống trơn như ngôi chùa nát, giường chiếu vật dùng đều biến

mất, chỉ còn chiếc võng rách và cái bàn mục là vật cũ của mình, lê lết lên nằm, hàng ngày đói bụng lại

qua các nhà láng giềng xin ăn. Kế mắc bệnh lở loét, toàn thân máu mủ bê bết, người làng ghét tính nết

khinh bạc đều khạc nhổ đuổi đi. Tài hết cách sống, bán nhà vào ở trong hang núi, hàng ngày ra đường

xin ăn, ln giắt theo lưỡi dao trong mình. Có người bảo đổi dao lấy thức ăn, Tài không chịu, nói "Ở

trong núi phòng hùm beo, phải có dao để tự vệ". Sau gặp kẻ khuyên mình bán vợ trên đường, bèn tới

gần kể lể rồi rút dao đâm chết. Quan xét biết rõ sự tình nên cũng khơng nỡ cùm kẹp tra tấn, chỉ giam

lại trong ngục, kế đói rét mà chết.

Dị Sử thị nói: Được người đẹp ở núi xa về ở cùng, khác gì được làm vua? Mình đã khơng ra gì

lại ốn thù thằng bạn xấu, kẻ làm bạn khơng thể khơng biết điều đó để làm răn. Phàm kẻ xấu xa rủ

rê người ta rượu chè cờ bạc, làm điều bất nghĩa thì dẫu cho việc thành khơng bị ốn cũng khơng

được biết ơn, nói gì tới cảnh họ thân khơng quần, vợ khơng khố, ngàn người đàm tiếu, không bệnh

mà chết. Cái đau bần cùng lúc nào cũng day dứt, cái hận bần cùng lúc nào cũng sục sôi, đêm lạnh

ổ rơm trằn trọc khơng ngủ. Kế nhớ tới tình cảnh lúc mình chưa nghèo, nhớ tới tình cảnh khi mình

đã nghèo, rồi nghĩ tới nơng nỗi vì sao mình nghèo, rồi lại nghĩ tới người gây ra nơng nỗi ấy, thì kẻ

hiền lành vùng dậy khoác chăn rách ngồi rủa, kẻ hung dữ chịu rét xoay trần ra thắp lửa tìm dao

mài xoèn xoẹt không chờ trời sáng. Cho nên lấy điều lành khuyên người như tặng quả trám, đắng

trước mà ngọt sau, còn lấy điều xấu dụ người như biếu thịt thiu, ăn xong là mắc bệnh, người nghe

vốn nên tự xét, mà kẻ nói lại dám khơng sợ sao!



177. Nhan Thị (Nhan Thị)

Mỗ sinh ở phủ Thuận Thiên (tỉnh Hà Bắc) nhà nghèo, gặp năm mất mùa theo cha tới đất Lạc (tỉnh

Hà Nam) sinh sống. Tính ngu độn, năm mười bảy tuổi mới viết chữ được thẳng hàng nhưng diện mạo

tuấn tú, pha trò giỏi, viết thư tài nên khơng ai biết là trong bụng rỗng tuếch. Được ít lâu cha mẹ nối

nhau qua đời, còn trơ trọi một mình, dạy học cho trẻ con ở đất Lạc để sinh sống. Lúc ấy trong thơn có

cơ gái mồ cơi họ Nhan là con một bậc danh sĩ, thông minh từ nhỏ. Khi cha còn sống thường dạy cho

học, chỉ đọc qua một lần là nhớ không quên, hơn mười tuổi đã làm được thơ, cha nói "Nhà ta có nữ

học sĩ, chỉ tiếc là khơng được đội mũ thơi”, vì vậy rất yêu quý, muốn tìm rể sang. Cha mất, mẹ nàng

vẫn theo ý ấy nhưng ba năm chưa thỏa nguyện, kế cũng mất. Có người khuyên nên lấy học trò giỏi,

nàng cho là phải nhưng chưa gặp được ai. Gặp khi người đàn bà hàng xóm qua chơi trò chuyện, có

cầm một tờ giấy viết chữ gói chỉ thêu, nàng mở ra xem thì là thư của Mỗ sinh gởi cho chồng chị ta. Cô

gái xem đi xem lại, khen chữ viết đẹp, chị ta biết ý nói nhỏ "Người ấy trẻ tuổi đẹp trai, mồ côi giống

cô, tuổi cũng xấp xỉ, nếu bằng lòng thì ta dặn chồng ta nói cho là xong”, nàng im lặng khơng đáp.

Chị ta về nói với chồng, y vốn chơi thân với sinh bèn kể lại, sinh mừng lắm, nhân có chiếc nhẫn

vàng của mẹ để lại bèn nhờ đưa tới làm sính lễ. Rồi chọn ngày cưới ln, vợ chồng rất hòa hợp, đến

lúc đọc thấy văn sinh, nàng cười nói "Văn với chàng tựa hồ như hai người, thế này thì chừng nào mới

thi đỗ được?”. Từ đó sóm hơm đốc thúc chàng học hành, nghiêm khắc như thầy trò, buổi tối thì thắp

đèn ngồi vào bàn ngâm nga trước cho chồng đọc theo, đến canh ba mới nghỉ. Cứ thế hơn một năm,

sinh đã thạo lối văn trường ốc nhưng thi mấy lần đều rớt, nghĩ lại thân danh lận đận, sinh sống khổ

cực, tình cảnh buồn tênh, hu hu khóc lóc. Cơ gái mắng "Chàng khơng phải là đàn ông, đội mũ thật

uổng. Nếu ta bỏ khăn yếm đổi làm đàn ơng thì đoạt cơng danh dễ như nhổ cỏ vậy". Sinh đang buồn

bực, nghe vợ nói quắc mắt giận dữ đáp “Đàn bà chưa vào trường thi cử lần nào, cứ tưởng đoạt công

danh phú quý dễ như đun nước nấu cháo trong bếp. Nếu được làm đàn ơng, thì cũng như người ta

thơi!". Nàng cười nói “Chàng đừng giận, chờ đến kỳ thi thiếp xin cải trang thay chàng vào trường, nếu

cũng thi rớt như chàng thì xin khơng dám coi thường danh sĩ trong thiên hạ nữa". Sinh cũng cười nói

"Nàng vẫn chưa biết nỗi cay cực đâu, xin cứ nếm thử cho biết mùi thi cử, chỉ sợ lộ ra bị láng giềng

cười cho thơi”. Nàng nói "Thiếp khơng nói đùa đâu. Chàng thường nói còn gian nhà cũ ở đất n (tỉnh

Hà Bắc), thiếp xin cải trang làm em trai theo chàng về đó ở. Chàng xa quê từ nhỏ, ai biết là giả?”,

sinh ưng thuận.

Nàng vào phòng đội khăn mặc áo đàn ơng rồi bước ra hỏi "Nhìn xem thiếp có làm con trai được

khơng?". Sinh nhìn quả thật là một thiếu niên đẹp trai, mừng rỡ từ biệt làng xóm, được các bạn thân

tặng tiễn cho ít nhiều bèn mua một con ngựa đỡ chân, đưa vợ về quê. Người anh con bác của sinh còn

sống, thấy hai em tuấn tú rất vui mừng, sớm hôm chăm nom giúp đỡ. Lại thấy thức khuya dậy sớm

chăm chỉ học hành, càng thêm yêu quý, thuê cho một đứa nhỏ để sai vặt, nhưng cứ chiều tối là hai

người bảo nó về. Trong làng có đám cưới đám giỗ thì anh tới thăm hỏi chứ em chỉ ngồi nhà học, về



làng nửa năm mà ít người thấy mặt, có ai xin gặp thì anh từ chối giùm. Đọc tới văn bài của em ai cũng

kinh lạ, có người xơ cửa vào gặp thì vái chào qua loa rồi tránh mặt ngay. Khách khứa thấy phong tư

lại càng hâm mộ, vì thế rất nổi tiếng, các nhà thế gia tranh nhau hứa gả con gái cho. Người anh con

bác bàn tới chuyện ấy thì nhoẻn miệng cười, ép lấy vợ thì nói đã thề quyết chí lập cơng danh, khơng

thi đỗ thì khơng lấy vợ.

Gặp lúc quan Học sứ mở kỳ khảo hạch, hai anh em cùng đi thi, anh lại trượt, em đỗ đầu rồi thi

hương đỗ Cử nhân thứ tư, qua năm sau thi đỗ Tiến sĩ, được bổ làm Tri huyện Đồng Thành (tỉnh An

Huy), làm quan có tiếng tốt nên dần được thăng làm Chưởng ấn Ngự sử Hà Nam, giàu có ngang bậc

vương hầu. Sau thác bệnh xin nghỉ, được cho về trí sĩ. Khách khứa tới thăm chật cổng, đều từ tạ không

tiếp một ai. Từ lúc là Chư sinh đến khi làm quan khơng hề nói tới chuyện cưới vợ, ai cũng lấy làm lạ.

Sau khi trí sĩ mới có tỳ nữ, người ta ngờ có ăn ngủ với họ nhưng người chị dâu để ý dò xét thì khơng

có gì bậy bạ. Nhà Minh mất, thiên hạ đại loạn, mới nói với chị dâu "Nói thật với chị, em là vợ Tiểu

lang, vì thấy đàn ơng bết bát không lập thân nổi nên tức giận làm cho biết tay, chỉ sợ lộ ra, nhà vua

triệu vào tra hỏi bị thiên hạ cười thôi". Chị dâu không tin, cô gái cởi giày đưa bàn chân cho xem, chị

mới kinh ngạc, nhìn chiếc giày thấy trong độn đầy vải vụn. Từ đó nàng bảo sinh nhận lấy chức hàm,

mình thì đóng cửa trở lại làm đàn bà.

Nhưng bình sinh không chửa đẻ, nên bỏ tiền ra cưới vợ lẽ cho sinh, nói “Người ta làm quan lớn

thì mua hầu cưới thiếp tự cung phụng mình, mà ta làm quan mười năm chỉ ở một mình, chàng có phúc

[225]



trạch gì mà ngồi khơng hưởng hầu non gái đẹp?". Sinh đáp “Có ba mươi người đẹp trai

, tùy nàng

lựa chọn!", người ta kể cho nhau mà cười Lúc ấy cha mẹ sinh đã được phong tặng mấy lần, thân hào

nhân sĩ tới thăm viếng đều coi sinh như quan Thị ngự. Sinh thẹn về sự tập tước của vợ nên chỉ yên

phận Chư sinh, suốt đời đi đâu cũng không dùng võng lọng.

Dị Sử thị nói: Cha mẹ chồng nhờ con dâu mà được phong tặng, có thể nói là việc lạ lùng vậy.

Song quan Thị ngự có phu nhân thì đời nào chẳng có, chứ phu nhân làm quan Thị ngự như thế thì

ít lắm, những kẻ đội mũ nhà nho, xưng là đàn ông trong thiên hạ đều phải thẹn chết đi được.



178. Tiểu Tạ (Tiểu Tạ)

Nhà quan Bộ lang họ Khương ở Vị Nam (tỉnh Thiểm Tây) có nhiều ma quỷ hay dọa người nên

phải dọn đi, để lại một người tớ già trông coi. Người ấy chết, thay mấy người khác cũng đều chết, nhà

đành bỏ hoang. Trong làng có Đào sinh tên Vọng Tam, tính phong lưu thích gặp gỡ đám ca kỹ, nhưng

cứ hơi say thì bỏ về. Bạn bè bảo kỹ nữ đuổi theo kéo lại cũng cười không cưỡng nhưng cả đêm khơng

đụng chạm gì tới. Thường ở trong nhà Bộ lang, nửa đêm có người tỳ nữ tới khêu gợi nhưng sinh kiên

quyết cự tuyệt không làm việc trái lễ, Bộ lang vì vậy rất nể trọng. Nhà Đào vốn nghèo, lại góa vợ, có

mấy gian nhà tranh ẩm thấp nóng nực không sao chịu nổi, nên xin Bộ lang cho ở nhờ ngơi nhà bỏ

[226]



hoang. Bộ lang vì nhà có ma nên từ chối, sinh bèn làm bài Tục Vô quỷ luận

đưa xem, lại nói "Ma

thì còn làm gì được?", Bộ lang thấy xin mãi đành bằng lòng.

Sinh tới quét dọn gian chính sảnh vào ở, chập tối để quyển sách ở đó về lấy đồ dùng, khi trở lại

thì không thấy đâu, lấy làm lạ bèn lên giường nằm ngửa im lặng chờ xem động tĩnh. Khoảng ăn xong

bữa cơm nghe có tiếng giày dép, hé mắt nhìn thấy hai cơ gái ở phòng trong đi ra, đặt trả quyển sách bị

mất lên bàn. Một nàng khoảng hai mươi tuổi, một nàng khoảng mười bảy mười tám tuổi, đều rất xinh

đẹp, cứ quanh quẩn cạnh giường nhìn nhau cười, sinh vẫn im lặng không động đậy. Nàng lớn nhấc một

chân đặt lên bụng sinh, nàng nhỏ bưng miệng cười, sinh thấy tâm thần rạo rục như khơng kìm được,

nhưng lập tức đè nén tà niệm, khơng đếm xỉa gì tới. Nàng lớn lại tay trái vuốt râu, tay phải tát nhẹ

chanh chách vào mặt sinh, nàng nhỏ cười bò ra. Sinh vùng dậy quát "Lũ quỷ dám hỗn thế à?", hai cô

gái hoảng sợ bỏ chạy biến mất. Sinh sợ phải khổ sở suốt đêm, định về nhà ngủ nhưng lại xấu hổ vì nói

một đàng làm nột nẻo bèn khêu đèn ngồi đọc sách, trong góc tối vẫn có bóng ma chập chờn nhưng

khơng hề đếm xỉa.

Gần nửa đêm để đèn đi nằm, vừa chợp mắt đã có người lấy vật gì nho nhỏ ngốy vào lỗ mũi rất

ngứa ngáy, hắt hơi ầm lên, chỉ nghe trong góc tối có tiếng cười khúc khích. Sinh khơng nói gì, vờ ngủ

chờ xem tiếp, giây lát thấy nàng nhỏ vê tờ giấy vào vế, rón rén bước tới gần. Sinh vùng dậy quát lại

lủi trốn, vừa chợp mắt lại bị ngốy vào tai, bị quấy nhiễu suốt đêm khơng sao chịu nổi, đến lúc gà gáy

thì yên ắng, sinh mới được ngủ n. Cả ngày khơng nghe thấy gì nhưng mặt trời vừa lặn lại hiện hình,

sinh bèn nấu cơm ban đêm để thức luôn đến sáng. Đêm ấy nàng lớn ngồi bó gối trên ghế nhìn sinh đọc

một lúc rồi đưa tay che sách, sinh tức giận nắm lấy thì vụt biến mất, giây lát lại giật lấy sách, sinh

phải lấy tay đè lên sách mà đọc. Nàng nhỏ thì lẻn ra phía sau lấy hai tay bịt mắt sinh rồi dang ra xa

đứng cười. Sinh chỉ tay mắng "Đồ quỷ con! Ta mà bắt được sẽ giết hết”, hai nàng không hề tỏ vẻ sợ

hãi. Sinh thấy thế đùa nói "Chuyện gối chăn nghiêng ngửa ta khơng thích, chọc ghẹo làm gì vơ ích".

Hai nàng mỉm cười quay vào bếp chẻ củi vo gạo nấu cơm cho sinh. Sinh nhìn vào khen "Hai nàng làm

thế chẳng hơn nhảy nhót nghịch ngợm sao?". Phút chốc cơm chín lại tranh nhau lấy đũa bát dọn cơm ra

bàn, sinh nói "Cảm ơn hai nàng giúp đỡ, khơng biết lấy gì báo đáp". Hai nàng cười nói "Trong cơm có

trộn thuốc độc đấy". Sinh đáp "Ta với hai nàng khơng có ốn thù, làm gì tới nỗi hại nhau như vậy". Ăn



hết bát này hai nàng lại tranh nhau qua lại đơm bát khác, sinh vui vẻ, dần dần thành lệ. Lúc đã thân

mật cùng nhau trò chuyện, sinh hỏi họ tên, nàng lớn nói "Thiếp họ Kiều tên Thu Dung, nó họ Nguy tên

Tiểu Tạ". Lại hỏi từ đâu tới đây ở, Tiểu Tạ cười đáp "Chàng ngốc còn chưa dám để lộ thân thể ra một

lần thì ai cần anh hỏi nhà cửa, định hỏi cưới à?". Sinh nghiêm trang đáp “Đối diện với người đẹp làm

sao vơ tình được, nhưng âm khí mà người trần vương phải ắt chết, nếu khơng thích ở chung thì ta đi

nơi khác cũng được, nếu thích thì ai n phận nấy. Nếu khơng yêu thương thì ta đâu dám xúc phạm hai

người đẹp, nếu yêu thương thì cần gì giết một gã cuồng sinh?". Hai nàng đổi sắc mặt nhìn nhau, từ đó

khơng đùa nghịch quá quắt nữa, mà nếu thỉnh thoảng thọc tay vào bụng sinh tụt quần xuống đất, sinh

cũng không giận.

Một hơm sinh chép bài chưa xong có việc phải ra ngồi, quay vào thấy Tiểu Tạ đang nằm bò ra

bàn cầm bút chép thay, thấy sinh thì bng bút ngượng nghịu cười. Tới gần xem, thấy tuy chưa ra chữ

nhưng cũng ngay hàng thẳng lối khen rằng "Nàng có khiếu lắm, nếu thích mơn này ta sẽ dạy cho”. Rồi

ơm nàng vào lòng, cầm cổ tay dạy viết. Thu Dung từ ngồi vào thấy thế biến sắc như có ý ghen, Tiểu

Tạ cười nói “Lúc nhỏ thường được cha dạy cho nhưng bỏ lâu rồi, nay cầm bút thấy cứ mơ mơ màng

màng”. Thu Dung khơng nói gì, sinh hiểu ý nhưng làm như không biết, cũng ôm nàng vào lòng, đưa bút

cho cầm, nói "Ta xem thử nàng có viết được khơng", viết vài chữ rồi đứng lên nói "Nét chữ nàng Thu

cứng cáp lắm", Thu Dung mới vui vẻ. Sinh liền rọc giấy cho tập viết phóng, bảo hai nàng viết theo

còn mình thắp một ngọn đèn riêng ngồi học, mừng thầm vì ai cũng có việc để làm không quấy nhiễu

nữa. Viết xong, hai nàng mang tới đứng trước bàn chờ sinh chấm điểm, Thu Dung chưa được đi học

nên nguệch ngoạc chưa ra chữ, sinh chấm xong nói khơng bằng Tiểu Tạ thì có vẻ thẹn, sinh an ủi khích

lệ mới mới lấy lại vẻ mặt bình thường.

Từ đó hai cơ gái coi sinh như thầy, ngồi thì gãi lưng, nằm thì bóp chân, chẳng những khơng dám

khinh nhờn mà còn tranh nhau chiều chuộng. Hơn tháng sau chữ viết của Tiểu Tạ đã ngay ngắn đẹp đẽ,

sinh vơ tình khen ngợi, Thu Dung xấu hổ nước mắt ròng ròng, sinh tìm đủ cách an ủi mới nguôi. Kế

dạy cho học, cả hai đều thông minh lạ thường, nói qua một lần là hiểu, khơng bao giờ phải hỏi lại,

thường cùng sinh đọc sách suốt đêm. Tiểu Tạ lại dẫn em trai là Tam lang tới xin theo học, khoảng

mười lăm mười sáu tuổi, dung mạo tuấn tú, đem cái như ý bằng vàng làm lễ ra mắt, sinh bảo cùng học

với Thu Dung, tiếng đọc sách râm ran, sinh từ đó thành ra mở trường dạy ma. Bộ lang nghe tin rất

mừng, thỉnh thoảng cấp gạo củi cho sinh. Được vài tháng Thu Dung và Tam lang đã biết làm thơ,

thường xướng họa với nhau. Tiểu Tạ ngầm dặn đừng dạy Thu Dung, sinh ừ, Thu Dung dặn đừng dạy

Tiểu Tạ, sinh cũng ừ. Một hơm sinh sắp đi thi, hai cơ gái khóc lóc đưa tiễn. Tam lang nói "Chuyến này

nên cáo ốm đừng đi, nếu không e gặp chuyện không hay". Sinh cho rằng cáo ốm trốn thi là nhục nên cứ

đi.

Vốn trước đó sinh hay làm thơ mỉa mai thời thế, các nhà quyền quý trong huyện ghét lắm, ngày

đêm nghĩ cách hãm hại, lúc ấy ngầm hối lộ quan học chính vu cáo là hạnh kiểm khơng tốt, bắt sinh bỏ

ngục. Sinh hết cả tiền, phải xin ăn các bạn tù, tự nghĩ là đã hết đường sống. Chợt có một người lãng

đãng bước vào, thì ra là Thu Dung đem cơm vào cho. Nàng nhìn sinh khóc nức nở, nói "Tam lang lo



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vân Thúy Tiên (Vân Thúy Tiên)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×