Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mã Giới Phủ (Mã Giới Phủ)

Mã Giới Phủ (Mã Giới Phủ)

Tải bản đầy đủ - 0trang

quỳ xuống đội khăn buộc yếm đàn bà vào người, lấy roi đánh đuổi đi. Lúc ấy Mã đang có mặt ngồi

cổng, Vạn Thạch xấu hổ khơng chịu ra, sau bị đánh đau quá phải chạy ra, Doãn thị cũng đuổi theo, xoa

tay giẫm chân chửi rủa, người ta xúm lại xem đơng nghịt. Mã chỉ vào Dỗn thị qt "Đi ngay", thị lập

tức quay người chạy mau trở lại như bị ma đuổi, bỏ cả giày tất, tụt cả vải bó chân trên đường, chạy

chân trần vào nhà, mặt khơng còn chút máu. Lát sau lại hồn, tỳ nữ đưa giày tất tới, mang vào xong chợt

khóc nức nở, gia nhân không ai dám hỏi.

Mã giục Vạn Thạch cởi khăn yếm ra, Vạn Thạch co người nín thở như sợ khăn yếm rơi xuống, Mã

phải ép cởi ra cho mà vẫn lo lắng không yên, sợ mắc tội tự cởi. Nghe ngóng chờ vợ nín khóc mới dám

vào nhà, rón rén tới trước mặt, vợ lại khơng nói câu nào, đứng lên đi vào phòng ngủ. Vạn Thạch lúc

ấy mới đỡ lo lắng, cùng em thầm lấy làm lạ lùng. Gia nhân cũng đều cho là chuyện kỳ quái, họp nhau

xì xào bàn tán, Dỗn thị nghe lống thống càng xấu hổ tức tối, lại vác roi đánh đầy tớ suốt lượt. Gọi

tới người thiếp, người thiếp bị thương nặng khơng dậy nổi, Dỗn thị cho là giả vờ, tới tận giường đánh

đập mắng nhiếc, người thiếp băng huyết trụy thai. Vạn Thạch nhân lúc khơng người khóc lóc kể với

Mã, Mã an ủi khuyên nhủ rồi bảo tiểu đồng bày rượu thịt cùng uống tới khuya, không cho Vạn Thạch

về phòng. Dỗn thị trong phòng, giận chồng khơng về, đang lúc căm tức chợt nghe có tiếng lay khung

cửa, vội gọi tỳ nữ thì cửa phòng đã bật tung, một người to lớn bước vào, bóng che trùm cả phòng, mặt

mũi hung ác như quỷ. Kế lại có vài người theo vào, ai cũng cầm dao sắc. Doãn thị hoảng sợ suýt ngất,

định la lên thì người to lớn kề dao vào cổ nói “La lên thì ta giết ngay”. Doãn thị vội vàng đưa tiền lụa

ra xin chuộc mạng, người to lớn nói "Ta là sứ giả của âm ty, không cần lấy tiền, chỉ muốn lấy quả tim

của mụ đàn bà hung dữ thơi", Dỗn thị càng sợ. Người to lớn bèn lấy dao sắc rạch ngực Dỗn thị, vừa

kể vừa hỏi "Như chuyện này có đáng giết không?", mỗi việc lại rạch một nhát. Tất cả những việc hung

ác đều kể ra mà rạch, không dưới vài mươi nhát, sau cùng lại nói “Người thiếp có con trai cũng là nối

dõi cho ngươi, sao lại nhẫn tâm đánh cho tới trụy thai? Chuyện này thì không tha được". Rồi gọi mấy

người kia tiếp tay để mổ bụng xem gan ruột của mụ đàn bà ác độc, Dỗn thị dập đầu xin tha mạng, chỉ

nói là đã biết tội rồi. Chợt nghe cửa giữa mớ toang, có tiếng nói “Dương Vạn Thạch tới rồi, nếu đã

biết tội thì tạm tha cho một lần", rồi ào ào tan đi.

Giây lát Vạn Thạch vào, thấy vợ bị cởi trần trói thúc ké, trước ngực bị dao rạch ngang dọc nát

bét, vội cởi trói hỏi. Biết nguyên do cả sợ, ngờ là do Mã. Hôm sau kể lại với Mã, Mã cũng sợ. Từ đó

Dỗn thị hơi bớt hung dữ, suốt mấy tháng không dám chửi mắng một câu. Vạn Thạch cả mừng nói với

Mã, Mã nói "Nói thật với ông nhưng xin đừng để lộ ra, chuyện hôm trước là ta dùng thuật mọn để dọa

đấy, nay gia đình đã yên ấm, xin tạm chia tay”, rồi chào đi. Doãn thị cứ đến chiều tối là giữ Vạn

Thạch làm bạn, cười nói rất vui vẻ. Vạn Thạch bình sinh không được hưởng thú vui như vậy nên lại

lấy làm ngượng nghịu không biết ngồi đứng thế nào. Một đêm Doãn thị nhớ lại diện mạo người to lớn,

lấy làm run sợ, Vạn Thạch muốn lấy lòng vợ bèn hơi lộ ra đó là giả. Người đàn bà lập tức vùng dậy

căn vặn đầu đuôi, Vạn Thạch biết đã lỡ lời nhưng hối không kịp đành phải kể thật hết. Doãn thị đùng

đùng nổi giận chửi lớn, Vạn Thạch sợ quá quỳ rạp dưới giường, người đàn bà không ngó ngàng gì tới.

Vạn Thạch lạy lục năn nỉ đến canh ba, Dỗn thị nói "Muốn tha thì phải rạch dao vào ngực đủ số, hận



này mới tiêu tan được". Rồi vùng dậy vào bếp xách dao lên, Vạn Thạch cả sợ bỏ chạy, người đàn bà

đuổi theo, chó sủa gà kêu náo động, tôi tớ đều thức dậy đổ ra. Vạn Chung khơng biết chuyện gì vội lấy

thân mình che cho anh. Người đàn bà đang chửi mắng chợt thấy Dương ơng tới, nhìn tới quần áo càng

sơi giận lập tức sấn tới xé nát quần áo mới của ông, tát vào mặt rồi nắm râu giật. Vạn Chung thấy thế

nổi giận, vớ đá ném trúng trán Doãn thị, Dỗn thị ngã lăn ra chết ngất. Vạn Chung nói "Ta chết mà cha

và anh ta được sống, thì có tiếc gì!", rồi nhảy xuống giếng tự tử, vớt lên thì đã chết. Lát sau người đàn

bà tỉnh lại, nghe nói Vạn Chung đã chết cũng hả giận. Chơn cất xong, người em dâu thương con thề

không lấy chồng khác, Dỗn thị chửi mắng khơng cho ăn uống, gọi người gả đi. Còn lại đứa con mồ

cơi sớm tối bị đánh đập, phải theo tôi tớ xin cơm thừa canh cặn mà ăn, qua vài năm gầy guộc võ vàng,

hơi thở thoi thóp.

Một hơm Mã chợt tới, Vạn Thạch dặn gia nhân khơng được nói cho Dỗn thị biết. Mã thấy Dương

ông rách rưới như cũ, vô cùng kinh ngạc, lại nghe nói Vạn Chung đã chết, giẫm chân than thở. Đứa

con Vạn Chung nghe Mã tới ra chào, đầu tiên gọi là chú Mã, Mã không biết là ai, nhìn kỹ mới nhận ra,

hoảng sợ nói "Sao cháu lại tiều tụy đến thế này?", Dương ông bèn úp mở kể lại mọi chuyện. Mã căm

tức nói với Vạn Thạch “Trước đây ta vẫn nói ngươi khơng phải con người, quả khơng sai. Nhân dun

hai người chỉ có bấy nhiêu, giết đi thì đã làm sao?”. Vạn Thạch khơng đáp, chỉ cúi đầu ơm mặt khóc

lóc. Vừa ngồi trò chuyện được một lúc thì Dỗn thị biết Mã tới, khơng dám ra đuổi khách, chỉ gọi Vạn

Thạch vào, tát tai bắt phải tuyệt giao với Mã. Vạn Thạch rưng rưng nước mắt trở ra, trên mặt còn vết

tát rõ ràng, Mã nổi giận nói "Ngươi đã khơng thể ra oai, cũng khơng thể dứt tình đuổi đi à? Người ta

đánh cha giết em mà còn nhịn nhục, sao đáng gọi là người?”. Vạn Thạch co người lại như chạnh lòng,

Mã lại nói khích "Nếu như khơng đuổi đi thì cũng phải dằn mặt, nếu có chết cũng khơng sợ. Ta có vài

người bạn thân đều làm quan lớn, nhất định sẽ ra sức giúp đỡ, chắc chắn khơng việc gì đâu”. Vạn

Thạch nghe theo hùng hổ rảo bước vào trong, nhưng vợ vừa quát định làm gì thì cả kinh thất sắc, quỳ

rạp chống tay xuống đất nói "Mã sinh bảo ta bỏ". Người đàn bà càng căm tức, ngoái nhìn quanh tìm

dao gậy, Vạn Thạch hoảng sợ lại chạy ra. Mã thóa mạ, nói "Ngươi thật là hết dạy được rồi", rồi mở

tráp lấy thuốc ra hòa vào nước đưa Vạn Thạch uống, nói "Đây là Trượng phu tái tạo tán, khơng thể

khinh suất mà dùng, vì có thể làm người ta bị bệnh, nhưng nay bất đắc dĩ phải cho ông dùng thử”. Vạn

Thạch uống xong, giây lát thấy khí tức đầy bụng như lửa cháy bùng bừng không thể nhịn được thêm

một phút, xăm xăm đi vào phòng vợ, qt tháo như sấm. Dỗn thị chưa kịp hỏi, Vạn Thạch đã đá cho

ngã lăn ra rồi đấm túi bụi. Người đàn bà thân thể khơng còn chỗ nào lành lặn nhưng đầu tiên còn chửi

bới. Vạn Thạch rút dao trong lưng ra, người đàn bà hỏi "Người rút dao có dám giết ta khơng?", Vạn

Thạch khơng đáp, cắt một miếng thịt trên đùi vợ ném xuống đất, vừa định cắt thêm miếng nữa, người

đàn bà kêu khóc xin tha. Vạn Thạch không nghe, lại cắt nữa. Tôi tớ thấy Vạn Thạch hung dữ quá vội

xúm vào liều mạng giật dao kéo ra ngồi. Mã đứng lên đón, cầm tay khen ngợi, Vạn Thạch còn chưa

hết giận, mấy lần lại định xông vào nhà trong, Mã phải ngăn lại, giây lát dược lực tan dần mới ngồi rũ

ra như sắp chết.

Mã dặn "ông đừng lo, làm chồng chỉ cần ra oai một lần như thế thôi. Phu nhân khiếp sợ rồi, không



phải là sớm tối lại dám xử sự như trước đâu, cũng như trước thì chết mà nay được sống, từ nay về sau

thế nào cũng bỏ cũ đổi mới, nếu ông lại sợ sệt một lần nữa thơi thì khơng làm thế nào được đâu”. Rồi

bảo Vạn Thạch vào nhà trong xem, vợ run sợ nhịn đau bảo tỳ nữ đỡ dậy định bò tới lạy, ngăn lại mới

thơi. Ra nói lại với Mã, cha con cùng chúc mừng nhau, Mã chào đi, hai cha con cùng giữ lại. Mã nói

"Ta có việc đi qua Đơng Hải, lúc nào trở về sẽ gặp nhau”. Hơn một tháng sau Dỗn thị gượng dậy

được, thờ chồng rất kính cẩn, nhưng lâu ngày biết chồng khơng có tài gì khác dần khinh nhờn, dần cười

nhạo, dần mắng chửi, thói cũ lại bộc lộ. Dương ông không chịu nổi, nhân đêm trốn tới Hà Nam, vào

miếu làm đạo sĩ, Vạn Thạch cũng khơng dám đi tìm về. Hơn một năm Mã tới, biết chuyện ngậm ngùi

trách móc, lập tức gọi đứa con Vạn Chung ra đặt lên lưng ngựa chở đi. Từ đó người làng đều khơng

nể trọng gì Vạn Thạch, quan Học sứ về khảo xét vì thế truất bỏ chức Chư sinh của Vạn Thạch. Lại bốn

năm năm sau, nhà bị cháy, tiền bạc trong nhà đều thành tro, lửa bén qua nhà láng giềng, người trong

thôn lên quận kiện cáo, quan lại phạt bắt Vạn Thạch phải đền tiền. Từ đó gia sản khánh kiệt, đến nỗi

khơng có nhà mà ở, người quanh vùng bảo nhau đừng cho Vạn Thạch ở nhờ.

Anh em Doãn thị ghét người đàn bà hung dữ, cũng từ chối không giúp đỡ. Vạn Thạch cùng khốn

bán thiếp cho nhà giàu, dắt vợ xuống nam, tới địa giới Hà Nam thì hết tiền ăn đường, vợ khơng chịu

theo, lải nhải đòi tái giá, gặp lúc có người đồ tể vừa chết vợ bỏ ra ba trăm đồng mua về. Vạn Thạch

còn một mình, ăn xin quanh quẩn vùng ấy, tới cổng một nhà giàu bị người gác quát tháo đuổi đi không

cho đứng trước cổng. Giây lát có một vị quan nhân bước ra, Vạn Thạch quỳ rạp xuống đất khóc lóc

năn nỉ, vị quan nhân nhìn kỹ hồi lâu rồi hỏi qua tên họ, kinh ngạc nói "Là bác đây mà, tại sao lại nghèo

tới mức này?". Vạn Thạch nhìn kỹ lại thì ra là Hỷ Nhi, bất giác khóc rống lên rồi theo vào nhà, thấy

trong sảnh đường vàng ngọc lóa mắt. Giây lát tiểu đồng đỡ Dương ông ra, gặp nhau mừng mừng tủi

tủi, Vạn Thạch mới thuật lại hết nhũng việc đã qua. Đầu tiên Mã dắt Hỷ Nhi tới đó, vài hơm ra tìm

Dương ơng về cho ơng cháu ở chung, lại rước thầy dạy Hỷ Nhi học, đến năm mười lăm tuổi được vào

trường huyện, năm sau thi đỗ Cử nhân, vừa lấy vợ xong thì Mã từ biệt muốn đi ơng cháu cùng khóc lóc

giữ lại, Mã nói "Ta khơng phải là người mà là hồ tiên thôi, các bạn đồng đạo chờ đã lâu rồi", rồi đi.

Hỷ Nhi nói tới đó bất giác rơi lệ, nhân nghĩ tới người thiếp của Vạn Thạch trước đây cũng bị hành

hạ như mình, càng thêm thương xót, bèn lấy xe kiệu mang tiền đi chuộc Vương thị về cho Vạn Thạch,

hơn một năm sinh được một con trai, vì thế coi là vợ đích. Dỗn thị theo người đồ tể nửa năm, lại

hung hăng dữ tợn như trước, chồng tức giận lấy dao mổ heo đâm xuyên qua vế, xỏ dây vào treo lên xà

nhà, thịt cứ toác ra. Doãn thị kêu gào đứt hơi láng giềng mới hay, qua đỡ xuống rút dây ra, rút tới đâu

đau đớn la thét tới đó, bốn bên láng giềng đều nghe. Từ đó cứ thấy mặt người đồ tể là run lẩy bẩy, về

sau vết thương lành lại nhưng chỗ ấy bị mất thịt, đi đứng rất khó khăn, chỉ biết sớm tối hầu hạ, khơng

dám hó hé. Người đồ tể lại càng hung dữ, cứ uống rượu say về là đánh đập chửi mắng, lúc ấy Doãn

thị mới biết nỗi khổ của nhũng người bị mình hành hạ trước kia. Một hôm, Dương phu nhân cùng bà

bác lên dâng hương ở chùa Phổ Đà, nhũng phụ nữ nhà thường dân ở quanh đó đều tới làm lễ ra mắt

chào hỏi, Dỗn thị cũng có trong đám nhưng cứ núp phía sau khơng dám bước lên. Vương thị cố ý hỏi

người ấy là ai, gia nhân bước lên thưa là vợ đồ tể họ Trương, nhân quát gọi bước lên bảo lạy Thái



phu nhân.

Vương thị cười nói "Người đàn bà này làm vợ đồ tể thì lẽ ra khơng thiếu thịt ăn, sao lại bị xẻo

một miếng thế?”. Doãn thị vừa thẹn vừa tức, về nhà định treo cổ tự tử nhưng dây đứt khơng chết,

người đồ tể vì vậy càng ghét. Hơn một năm người đồ tể chết, Doãn thị đi trên đường gặp Vạn Thạch,

từ xa nhìn thấy đã quỳ xuống, nước mắt ròng ròng, Vạn Thạch vì có gia nhân nên khơng dám nói câu

nào, trở về nói với cháu, muốn đón về lại nhưng cháu nhất định không chịu. Người đàn bà bị dân làng

khinh ghét nên lâu khơng có ai lấy, phải theo bọn ăn mày kiếm sống. Vạn Thạch có lần hẹn gặp trong

chùa, cháu biết được, cho là nhục nhã bèn ngầm xúi bọn ăn mày phá đám, Vạn Thạch bèn thôi. Chuyện

này ta không biết kết cục ra sao, đoạn dưới đây là do ơng Tất soạn.

Dị Sử thị nói: Thiên hạ có kẻ thế này người thế khác, nhưng khơng ngờ trong khoảng trời đất

lại có chàng Dương, há chẳng phải là lạ lùng sao! Ta từng làm một bài Tục Diệu âm kinh, xin

chép phụ vào đây để mua một trận cười.

Trộm nghĩ: Trời đất hóa sinh mn vật, vẫn cậy đạo Khơn, nam nhi chí ở bốn phương, càng

cần có vợ. Cùng sướng mà riêng khổ, mệt sao mười tháng nặng nề, lúc ướt lại khi khô, khổ lắm ba

năm vất vả. Nghĩ muốn nối dài dòng giống, nên quân tử phải cầu duyên, toan lo thu xếp gia đình,

mà cổ nhân đành cưới vợ. Ban đầu lời lẽ khơng hay, vợ chửi chồng còn chồng nhịn vợ, kế tới kính

cung như khách, chồng trọng vợ mà vợ khinh chồng. Chỉ vì nhi nữ tình sâu, đến nỗi anh hùng râu

quặp. Đầu giường Dạ Xoa chễm chệ, dẫu Kim Cương cũng phải cụp mày, trong nồi khói độc tn

hơi, tuy La Hán khó lòng cứng cổ. Chày giặt áo mùa thu mà nắm, thì khơng đập áo đêm trăng, tay

Ma Cơ móng sắc mà qo, thì chẳng vuốt sen bến nước.

Roi cố chịu mà gậy thì chạy, quả là thay mẹ Mạnh tử ném thoi, vợ đã nói thì chồng liền nghe,

kể cũng đúng vợ Chu công định lễ. Múa may dức lác, người xem bao kẻ đông dầy, xỉa xói thét gào,

đầy tớ cả bầy nháo nhác. Ác làm sao! chỉ trời vạch đất, thoắt vào xõa tóc thét bên giường, xấu

thật đấy! đưa mắt nghiêng đầu, kế lại thắt vòng tròng lấy cổ. Gặp những lúc ấy thì dưới đất lắm

[205]



người mất mật, bên trời có kẻ bay hồn. Bắc Cung Ảo chưa chắc không chuồn, Mạnh Thi Xá

dễ

gì chẳng trốn. Tướng quân oai ran sấm sét, vào tới sân là lạc phách bay hồn, đại nhân mặt lạnh băng

sương, bước vào cửa cũng im hơi lặng tiếng. Chẳng lẽ son phấn khơng nổi nóng mà oai, sao lại mày

râu lúc thái bình mà sợ.

Việc còn có chỗ nói được, thì ma nữ cài trâm chơi dưới nguyệt, có ngại gì cúi lạy quy y, sự dẫu

mười phần oan đi, nhưng quỷ bà xõa tóc xuống trần gian, cũng hãy cứ nhang đèn cung kính. Nghe

sư tử gầm gào dữ tợn, thì hai mũi hếch trời, thấy gà mái phành phạch gáy vang, thì tứ chi rạp đất.

[206]



Kẻ hiếu sắc đam mê quên nhục nhã, điệu Hồi ba

thương xót bị chê cười. Giả như làm rể cơng

hầu, nhà họ hiển vinh, thì lạy lục nàng còn có cớ, hoặc cưới con nhà giàu có, thân trai hèn kém, thôi

nịnh nọt vợ cũng chẳng sao. Ấy quỷ nghèo tự biết chẳng oai phong, đành mặc cho túm đầu tóc giật

vành tai, chỉ mong rủ lòng tha thứ, nhưng thần tiền vẫn khoe thừa sức mạnh, mà nếu lỡ vuốt râu hùm sờ

dái ngựa, cũng khó dựa thế cậy nhờ.



Đem hẻm núi để trói lòng du tử, mượn Hồng Câu làm nhụt chí Bá Vương

[208]



huyệt sống cùng chăn, đâu từng thấy ngâm thơ Bạch thủ



[207]



. Nhưng chết cùng



, mà mây buổi sáng mưa buổi tối, lại muốn



[209]



[210]



riêng chiếm cõi Vu Sơn

. Hận bấy "Nước ao trong", để lỡ đàn vàng phách ngọc

gậy vào gáy,

rèm màn rơi xuống làm tắt hết đèn đuốc, Thân hoảng sợ chui vào gầm giường trốn, về sau bạn bè đùa

gọi Thân là "Nước ao trong". Đây ý nói vợ dữ ngăn cấm chồng chơi bời, thương sao "Phận thiếp

[211]



mỏng", luống đau đêm vắng canh dài.



Ve sầu thốt xác, cò lẻ vượt ghềnh, mừng nỗi ly long đang ngủ

đánh ngựa, hờn vì ngựa yếu khơng phi



[213]



[212]



, đầy tớ dong xe, phất trần

[214]



. Thấy người ngủ với chồng, tới đánh mới hay anh ruột



,



[215]



buộc chân chồng vào cửa, kéo ra đã hóa dê xồm

. Thương mà tử tế chỉ một lúc, ác mà hành hạ thật

không bờ. Gây tội nghiệt mua vui ở lầu xanh, Thái Giáp ắt rằng khó tránh, chịu oan uổng cụp tai theo ý

[216]



vợ, Lý Dương cũng nói khơng nên

chỉ ta mà cả Lý Dương cũng nói là nàng khơng nên làm thế",

Quách sợ hãi mới bớt vơ vét. Đây ý nói vợ dữ làm chồng phải lo sợ thay cho... Gió ghen nóng rát, ý

xuân trên lầu gác vụt tàn, bể giấm mênh mông, ánh trăng dưới cầu Lam đã lấp. Lại có khi dịp tốt gặp

nhau, bạn thân đầy tiệc, mà đấu rượu giấu chẳng đưa ra thết, lá thư đuổi khách viết trong phòng, nên

bạn cũ tránh khơng tìm tới chơi, bài luận Tuyệt giao truyền khắp chốn.

Thậm chí khiến anh em rẽ lối, cây gai khô trước cửa ngậm ngùi

[218]



[217]



, cầm sắt tục huyền, áo lau

[219]



mỏng trong lòng tê tái

. Cho nên Dương Thành uống rượu, khắp một nhà chỉ có anh em

lạt lẽo

nên ta khơng nỡ”, em cảm động, cũng không lấy vợ. Thành khi làm Gián nghị Đại phu khi gặp việc lớn

thì dám thẳng thừng can gián, nhưng lúc bình thời thì cả ngày chỉ uống rượu, Thương tử thổi tiêu, bảy

[220]



mươi tuổi không thành gia thất

năm lượng lộc bì



[221]



. Than ơi! Trăm năm dun số, lại trở thành mụn ghẻ trong xương,



, hóa chuốc lấy nỗi đau trên gối. Râu cứng tựa kích đều như thế, mật lớn như đấu



có mấy người? Đã chẳng dám chôn vợ nơi chuồng ngựa



[222]



, để dứt mầm tai, nào ai liều thiến dái tại



[223]



phòng tằm

, mà trừ gốc nghiệt! Quân nương tử kiêu rông bạo ngược, hết cách diệt trừ, cọp phấn

son tàn hại sinh linh, ai người tế độ? Hương trời đêm rớt, cho yên sóng dậy trong nồi, mưa nhỏ sáng

rơi, dập tắt lửa nồng dưới chiếu. Cõi cực lạc xây đơi tòa gác đẹp, lưỡi đa đoan bàn một cuống sen

[224]



xanh

. Diệt khổ não cho kiếp người, dựng đạo trường bên bến ái. Ôi! Mong vài chương kinh văn lá

bối, làm một phen giọt nước cành dương...

Hiếu liêm họ Lý ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đơng) tính thích đi xa, lúc trẻ lại phóng túng

khơng chịu bị trói buộc, các mơn đàn hát đều giỏi. Hai anh đều đã thi đỗ Tiến sĩ mà Lý vẫn còn

lơng bơng. Lấy phu nhân là họ Tạ, dần dần bị kìm chế bèn bỏ đi ba năm khơng về, tìm kiếm khắp

nơi khơng thấy. Mãi về sau mới tìm được trong một kỹ viện ở huyện Lâm Thanh (tỉnh Sơn Đông),

người nhà vào thấy Lý đang ngồi quay mặt về phía nam, có mười mấy kỹ nữ trẻ đẹp đứng hầu hai

bên, té ra họ nhờ Lý dạy đàn sáo cho. Lúc lên đường về, từ quần áo tới tiền ăn đường đều là của



các kỹ nữ tặng. Về tới nhà, phu nhân nhốt vào một gian phòng, đặt sách đầy bàn, lấy dây dài buộc

vào chân giường thòng một đầu ra chỗ then cửa, treo cái lục lạc lớn để gọi nhà bếp, cần gì thì

giật dây, dây động lục lạc rung sẽ có người hầu hạ. Phu nhân tự mở gian hàng, buông rèm định

giá, tay trái cầm bàn tính, tay phải cầm quản bút, đầy tớ chỉ đi lại dọn dẹp. Nhờ thế nhà dần dần

giàu lên nhưng phu nhân vẫn lấy làm nhục không được sang như các chị dâu. Lý bị nhốt kín ba

năm, đi thi đỗ Cử nhân, phu nhân mừng nói "Ba quả trứng có hai đã nở, ta cho rằng ông là trứng

ung, nay cũng nở được à?"

Tiến sĩ Cảnh Tung Sinh cũng là người huyện Chương Khâu, phu nhân thường thắp đèn kéo sợi

giúp chồng đọc sách, người kéo sợi không nghỉ, người dọc sách cũng không dám thơi. Nếu có bạn

chồng tới chơi thì rình nghe trộm, nếu bàn chuyện văn chương thì lo trà rượu cơm nước tiếp đãi

tử tế, còn nếu nói chuyện chơi bời thì ra quát tháo đuổi khách. Lần nào Cảnh đi khảo thí được

hạng trung bình thì khơng dám vào phòng, được hạng cao vợ mới tươi cười ra cổng đón. Cảnh đi

dạy học được bao nhiêu tiền đưa cả cho vợ, không dám giấu diếm một đồng. Nhà chủ cung đốn trả

lương thì tính tốn chi ly, có người chê cười nhưng khơng biết Cảnh phải tính tốn lại với vợ. Sau

cha vợ mời về dạy cho em vợ, ngay năm ấy người em vợ thi đỗ vào trường quận, cha vợ tạ mười

lượng vàng, Cảnh nhận cái hộp mà trả lại vàng. Phu nhân biết chuyện trách "Bên nhà tuy là rất

thân thiết, nhưng dạy học để làm gì nào?", rồi bảo tới nhà cha mình nhận lại vàng. Cảnh khơng

dám cãi nhưng trong lòng thấy xấu hổ, nghĩ cách lén trả lại. Từ đó hàng năm dạy học được tiền cứ

giấu lại một ít, tích cóp hai năm đã gần đủ số. Một đêm chợt mơ thấy một người tới nói “Ngày mai

cứ lên chỗ cao sẽ được đủ tiền". Hơm sau Cảnh lên chỗ cao nhìn thử, quả nhiên nhặt được tiền

người ta đánh rơi, vừa đủ chỗ còn thiếu, bèn đem về đưa lại cho cha vợ. Sau Cảnh đỗ Tiến sĩ, phu

nhân vẫn còn la mắng, Cảnh nói "Nay ta đã làm quan, sao có thể nghe lời bà được?”. Phu nhân

đáp "Lời ngạn có câu Nước lên thì thuyền cũng lên, cho dù ơng làm Tể tướng cũng đã là lớn à?".



176. Vân Thúy Tiên (Vân Thúy Tiên)

Lương Hữu Tài vốn là người đất Tấn (tỉnh Sơn Tây), lưu lạc tới đất Tế (tỉnh Sơn Đơng) làm nghề

bán hàng rong, khơng có vợ con điền sản, theo người trong thôn lên Thái Sơn chơi. Lúc ấy đang tháng

tư, người ta lên núi dâng hương rất đơng, lại có nhiều tăng ni dắt hàng chục hàng trăm đệ tử quỳ la liệt

trước bàn thờ thần, cứ theo nén hương cháy làm cỡ, gọi là quỳ hương. Tài thấy trong đó có một nữ

lang xinh đẹp khoảng mười bảy mười tám tuổi, thích lắm bèn giả làm khách dâng hương tới quỳ bên

cạnh. Lại làm ra vẻ quỳ lâu mỏi gối, vịn tay vào chân nàng. Cơ gái giận dữ quay nhìn rồi xích ra. Tài

lại xích tới gần, lát sau lại làm như trước. Cơ gái đứng phắt lên không quỳ nữa bỏ ra, Tài cũng đứng

lên theo chân nhưng không biết nàng đi đàng nào, thất vọng buồn bực ra về. Dọc đường thấy cơ gái đi

theo một bà già, hình như là mẹ, vội rảo bước theo. Mẹ con vừa đi vừa nói chuyện, bà già nói "Con đi

lễ Bà là hay lắm. Con khơng có em trai em gái, chỉ cần Bà phù hộ cho lấy được người chồng tốt miễn

hiếu thuận là được, chẳng cần gì phải là con vua cháu chúa". Tài mừng thầm, mon men bắt chuyện hỏi

thăm, bà già nói mình họ Vân, cơ gái là con ruột, tên Thúy Tiên, nhà ở phía tây núi, cách bốn mươi

dặm. Tài nói "Đường núi gập ghềnh mà bác thì già yếu, em thì ẻo lả thế này làm sao về kịp?", bà đáp

"Trời đã xế, mẹ con ta định ghé nhà cậu cháu ngủ nhờ". Tài nói “Lúc nãy nghe bác nói kén rể khơng kể

nghèo hèn, vậy cháu chưa có vợ, bác thấy được khơng?". Bà hỏi cơ gái, nàng im lặng, hỏi mấy lần mới

nói "Y ít phúc, lại phóng đãng vơ hạnh, tâm tính khinh bạc mà hay tráo trở, con không thể làm vợ một

gã vô lại được". Tài nghe thế vội tỏ ra chân thành, chỉ trời thề thốt.

Bà già mừng rỡ nhận lời, cơ gái thì khơng thích, tỏ vẻ vùng vằng, bà mẹ phải cố làm cho nàng vui

lên. Tài ân cần xách hộ hành lý, tìm hai chiếc kiệu núi cho hai mẹ con, mình thì đi bộ theo như người

hầu, cứ tới đoạn đường nào gập ghềnh lại quát tháo bọn phu kiệu bảo phải cẩn thận không được lắc

mạnh, lo lắng ân cần lắm. Không bao lâu tới một xóm, bà già bảo Tài cùng vào. Có ơng bà già ra đón,

là anh trai và chị dâu bà Vân, bà nói Tài là con rể, vừa đúng ngày tốt không cần chọn lựa nữa, cho

làm lễ cưới luôn đêm nay. ông cậu cũng vui vẻ, dọn cơm rượu mời Tài, kế cho Thúy Tiên ăn mặc đẹp

đẽ ra làm lễ rồi dọn giường giục đi ngủ. Cơ gái nói "Ta vốn biết ngươi bất nghĩa, nhưng bị mẹ ép buộc

nên phải theo, nếu ngươi ăn ở tử tế thì chẳng lo gì đói rét", Tài vâng dạ. Sáng hơm sau thức dậy, bà mẹ

bảo Tài cứ về trước, mình và con gái sẽ tới ngay. Tài về quét dọn nhà cửa xong thì bà già đưa con gái

tới. Vào nhà thấy trống trơn bèn nói “Thế này thì lấy gì mà sống? Ta sẽ trở lại ngay, giúp thêm chút ít

cho đỡ khổ", rồi ra đi.

Hơm sau có mấy người gia nhân trai gái mang đủ thứ áo quần chén bát tới xếp đầy nhà rồi đi ngay

không ở lại ăn cơm, chỉ lưu lại một người tỳ nữ hầu hạ. Tài từ đó chỉ ngồi khơng ăn sẵn, hàng ngày cứ

theo bọn vô lại rượu chè cờ bạc, dần dà ăn cắp cả nữ trang của vợ để chơi bời. Cô gái khuyên nhiều

lần không được, hết cách chỉ còn biết giữ kỹ lưỡng hòm như đề phòng giặc cướp. Một hơm đám cờ

bạc tới thăm Tài, nhìn thấy cô gái đều kinh ngạc tấm tắc khen ngợi, nói đùa với Tài "Ơng giàu có lớn,

lo gì nghèo khó?", Tài hỏi sao nói thế, chúng đáp “Mới rồi thấy mặt phu nhân, thật là người tiên, lại



gặp lúc gia đình khơng hòa thuận, nếu đem bán làm vợ lẽ phải được trăm lượng vàng còn bán cho nhà

chứa phải được ngàn lượng, có ngàn lượng vàng trong nhà thì lo gì khơng tiền uống rượu đánh bạc?”.

Tài khơng đáp nhưng thầm cho là đúng. Về nhà cứ nhìn vợ thở dài, lúc lúc lại than nghèo quá không

biết làm sao sống. Cô gái làm như không nghe, Tài cau có đập bàn ném bát, chửi mắng tỳ nữ, làm đủ

trò gây gổ. Một đêm cơ gái mua rượu cùng uống, chợt nói "Chàng vì nghèo túng mà lo nghĩ ngày đêm,

thiếp cũng chẳng có cách gì lo toan để chia sẻ, há khơng hổ thẹn, nhưng khơng có vật gì đáng giá, chỉ

có con hầu này, đem bán đi cũng đủ vốn buôn bán lặt vặt”. Tài lắc đầu nói "Nó thì đáng bao nhiêu!".

Uống thêm một lúc, nàng nói !'Thiếp có tiếc gì với chàng đâu, khổ cái là đã kiệt lực rồi. Nghĩ lại thấy

cứ nghèo túng thế này, cho dù theo nhau tới chết chẳng qua cũng chỉ là khổ sở suốt đời, làm sao mở

mày mở mặt được. Không bằng cứ đem thiếp bán cho nhà giàu thì hai người đều có lợi, chắc được giá

hơn con hầu nhiều”.

Tài làm ra vẻ kinh ngạc, nói làm gì phải tới nỗi như vậy nhưng nàng cứ nói mãi, vẻ mặt rất nghiêm

trang. Tài mừng nói "Để ta tính lại". Liền đánh tiếng với một vị quan lớn đang mua ca kỹ làm con hát,

vị quan đích thân tới nhà Tài, thấy cơ gái rất thích, sợ không mua được ngay, bèn làm giao kèo mua

tám trăm quan, việc thế là xong. Cơ gái nói “Mẹ thường ngày thấy nhà rể nghèo vẫn lo lắng cho, nay

đã dứt hết tình nghĩa, thiếp phải về thăm một lần. Vả lại chàng đoạn tuyệt với thiếp thì cũng phải nói

cho mẹ biết chứ". Tài lo bà mẹ cản trở, nàng nói "Đây vốn là do thiếp muốn, cam đoan khơng có việc

gì đâu”, Tài bèn theo nàng đi. Gần nửa đêm mới tới nhà mẹ vợ, gõ cổng vào thấy lầu gác hoa lệ, đầy

tớ đi lại tấp nập. Tài thường ngày ở với vợ vẫn muốn tới thăm mẹ nhưng cô gái cứ ngăn cản nên làm

rể hơn một năm vẫn chưa lần nào tới nhà bà nhạc, lúc ấy cả sợ nghĩ rằng con gái nhà giàu có như thế

này ắt khơng chịu làm nàng hầu con hát. Cô gái dẫn Tài lên lầu, bà già kinh ngạc hỏi "Sao vợ chồng

lại tới đây?”, nàng oán hờn nói "Con vẫn nói y bất nghĩa, nay quả đúng". Rồi lấy trong túi ra hai nén

vàng đặt lên bàn, nói "May mà khơng bị đứa tiểu nhân lừa lấy, nay xin trả cho mẹ".

Mẹ kinh ngạc hỏi duyên cớ, nàng đáp "Y muốn bán con đi, có giữ vàng cũng vơ dụng”, rồi chỉ mặt

Tài mắng “Đồ chó, ngày trước ngươi gánh hàng bán rong, mặt mũi lem luốc như ma, lúc đầu gần ta mồ

hơi còn chua loét, cáu ghét rơi ra muốn sập giường, tay chân thì chai cộm cả tấc khiến người ta suốt

đêm lợm mửa, từ khi lấy ta chỉ ngồi ăn không mới lột được lớp da quỷ sứ đi. Có mẹ ở đây, ta có đặt

chuyện cho ngươi khơng?". Tài cúi đầu khơng dám hó hé, nàng lại nói “Ta biết mình khơng có nhan

sắc nghiêng nước nghiêng thành để làm vợ bậc quý nhân, chứ với hạng đàn ông như ngươi thì dám nói

là xứng đơi vừa lứa, mà ta khơng làm gì lầm lỗi sao ngươi nỡ dứt cả nghĩa vợ chồng khơng nghĩ tới

chút tình hương lửa. Ta há không đủ sức làm nhà lầu mua ruộng tốt sao, chỉ vì thấy ngươi là kẻ ít phúc

phận, có tướng ăn mày, không thể sống với nhau trọn đời được thơi”. Nàng nói xong, bọn tớ gái kéo

tới vây đặc chung quanh thóa mạ, đều nói cứ giết đi, cần gì phải nói này nọ. Tài khiếp sợ quỳ mọp

dưới đất, nói đã ăn năn rồi.

Cơ gái càng tức giận, nói "Bán vợ con đã là đại ác, sao ngươi còn nỡ lòng coi rẻ người bạn đầu

gối tay ấp đem bán đi làm đĩ chứ?”. Nàng chưa dứt câu, mọi người đều sơi máu, kẻ rút trâm tóc,

người vớ kéo may xúm vào đâm túi bụi. Tài kêu la xin tha mạng, cơ gái ngăn mọi người lại, nói "Thôi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mã Giới Phủ (Mã Giới Phủ)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×