Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giả Phụng Trĩ (Giả Phụng Trĩ)

Giả Phụng Trĩ (Giả Phụng Trĩ)

Tải bản đầy đủ - 0trang

đó, đọc xong thì áo ướt đẫm, tự nhủ "Văn chương này mà truyền ra thì làm sao dám gặp kẻ sĩ trong

thiên hạ nữa?". Còn đang hổ thẹn thì Lang chợt tới, nói "Muốn thi đỗ thì đã thi đỗ rồi, còn buồn gì

nữa?". Giả đáp “Ta đang nghĩ đúng là mâm vàng chén ngọc lại đem đựng phân chó, thật khơng còn mặt

mũi nào gặp người quen, định sẽ vào núi gò mai danh ẩn tích, vĩnh viễn cắt đứt với thế tục đây!". Lang

nói "Như thế thì rất cao thượng, chỉ e rằng không làm được thôi. Nếu làm được ta xin đưa ông tới gặp

một người, có thể được trường sinh thì cái danh thơm ngàn thuở cũng không đáng tiếc, huống hồ là

chuyện giàu sang thoảng qua ư?”. Giả mừng giữ Lang ngủ lại, nói "Cho ta nghĩ kỹ lại đã". Sáng ra nói

với Lang rằng "Ý ta đã quyết rồi". Rồi khơng nói gì với vợ con, theo Lang nhẹ nhàng ra đi, dần dần

vào núi sâu, tới một tòa động phủ, bên trong như một cõi trời đất riêng biệt. Thấy có một ông già ngồi

trong sảnh đường, Lang dẫn Giả vào ra mắt, gọi là thầy. Ông già hỏi “Sao về sớm thế?", Lang thưa

"Ngươi này lòng đạo đã bền, xin thầy thu nạp". Ơng già nói “Ngươi đã tới đây, thì phải đặt thân mình

ra ngồi thế tục mới đắc đạo được", Giả dạ dạ vâng lời.

Lang đưa tới một phòng, sắp xếp chỗ ngủ rồi, lại đem cơm tới mới đi. Phòng cũng sạch sẽ, có

điều cửa lớn khơng có cánh cửa, cửa sổ khơng có chấn song, bên trong chỉ có một chiếc giường và

một cái bàn. Giả cởi giày lên giường, trăng đã lên chiếu vào phòng. Thấy hơi đói bèn lấy cơm ra ăn,

ngon ngọt khác thường. Thầm nghĩ chắc Lang sẽ lại tới, nhưng ngồi chờ hồi lâu vẫn im ắng, chẳng có

tiếng động nào, chỉ thấy mùi hương man mác khắp phòng, tâm thần nhẹ nhõm, cảm nhận được cả khí

huyết đang vận hành. Chợt có tiếng động lớn như mèo gãi sồn sột, hé mắt nhìn ra thấy có con cọp ngồi

dưới thềm, thống hoảng sợ nhưng nhớ tới lời thầy dặn, lập tức trấn tĩnh ngồi yên. Cọp như biết có

người, dần dần vào tới gần giường, thở khìn khịt ngửi chân Giả. Giây lát trong sân lại có tiếng phành

phạch như gà bị trói giãy giụa, con cọp lập tức chạy đi. Giả ngồi một lúc nữa thì có mỹ nhân bước

vào, hương thơm sực nức, im lặng lên giường ghé tai Giả nói nhỏ “Thiếp tới rồi đây!”, lúc nói nghe

hơi thở cũng thơm phức. Giả vẫn thản nhiên không động đậy, mỹ nhân lại hạ giọng hỏi "Ngủ rồi à?",

giọng nói rất giống vợ nhà. Giả hơi động lòng, mở mắt nhìn kỹ thì đúng là vợ mình. Hỏi làm sao tới

được đây, vợ đáp ”Lang sinh sợ chàng thấy hiu quạnh muốn về, sai một bà già đưa thiếp tới”.

Vừa nói xong thì nghe tiếng ơng già qt tháo, dần dần tới gần phòng, vợ Giả vội vùng dậy nhưng

khơng có chỗ nào trốn núp, bèn leo qua chỗ tường thấp chạy ra ngồi. Giây lát Lang theo ơng già vào,

ông già cầm trượng đánh Lang ngay trước mặt Giả, rồi sai đuổi khách đi. Lang cũng đưa Giả theo chỗ

tường thấp ra ngồi, nói “Ta mong mỏi còn ông viễn vông, không khỏi có chỗ hấp tấp, nhưng khơng

ngờ ơng lại chưa dứt được tình dun làm ta bị trách phạt. Bây giờ hãy tạm về đi, sau này sẽ có ngày

gặp lại”' Bèn chỉ đường cho về, vái chào rồi chia tay. Giả nhìn xuống núi thấy quê nhà đã trước mắt,

nghĩ rằng vợ chân yếu chắc còn trên đường, bèn rảo bước đi, hơn một dặm thì tới cổng nhà. Nhưng

thấy tường vách tiêu điều khác hẳn cảnh ngày trước, già trẻ trong thôn chẳng thấy có ai quen, bắt đầu

khiếp sợ.

Chợt nhớ đến tình cảnh Lưu Nguyễn từ Thiên Thai trở về cũng đúng như thế này nên không dám

vào nhà, ngồi đợi trước cửa nhà đối diện. Hồi lâu trong nhà có ơng già chống gậy bước ra, Giả vái

chào rồi hỏi nhà Giả Mỗ ở đâu, ông già chỉ đáp "Đúng là nhà ấy đấy, có phải khách muốn hỏi chuyện



lạ khơng? Ta biết rõ lắm. Nghe đồn rằng ông ta được tin thi đỗ thì bỏ trốn, lúc ấy con trai mới bảy tám

tuổi, đến năm mười lăm tuổi thì bà mẹ chợt ngủ mãi khơng tỉnh dậy. Lúc người con còn sống thì hàng

ngày vẫn thay áo đổi nệm cho mẹ, khi chết rồi hai người cháu nghèo khổ, phòng ốc hư dột chỉ lấy cành

lá che tạm thôi. Tháng trước phu nhân chợt tỉnh dậy, tính lại thì đã hơn trăm năm rồi. Gần xa nghe

chuyện lạ tới hỏi thăm nườm nượp, đến nay mới hơi thưa đấy".

Giả chợt hiểu ra, nói "Ơng khơng biết đấy, chứ ta là Giả Phụng Trĩ đây”' ông già cả kinh, chạy qua

nhà Giả báo tin. Lúc ấy cháu nội đích tơn của Giả đã chết, cháu thứ hai tên Tường đã hơn năm mươi

tuổi, thấy Giả mặt mũi còn trẻ ngờ là bịa đặt. Lát sau phu nhân ra mới nhận biết Giả, ứa lệ gọi cùng

vào nhà. Khổ nỗi nhà khơng có phòng ốc gì, mới vào tạm nhà cháu nội, thấy trai gái lớn nhỏ chạy vào

xúm xít đầy nhà, đều là chắt chít, tất cả đều nghèo hèn ít học. Cháu dâu trưởng là Ngô thị dọn cơm

mời Giả, thức ăn chỉ có rau, lại bảo con thứ hai là Quả cùng vợ qua ở chung phòng với mình, nhường

phòng lại cho ông bà. Giả vào nhà cháu nội ở thấy bụi bặm bẩn thỉu, đông đúc ồn ào, mới có vài ngày

đã thấy khơng sao chịu nổi. Nhà hai cháu nội chia nhau đem cơm nước cho ông bà, nhưng nấu nướng

rất không vừa miệng. Người làng thấy Giả mới về, ngày ngày còn mời đi uống rướu, chứ phu nhân thì

thường khơng ngày nào được ăn no. Ngơ thị vốn là con gái nhà sĩ nhân, được dạy dỗ có khn phép

nên còn kính trọng ơng bà, chứ nhà Tường thì việc cơm nước ngày càng tệ, có hơm còn gọi qua ăn

cùng.

Giả nổi giận dắt phu nhân đi, mở trường dạy học ở thơn Đơng, thường nói với phu nhân rằng "Ta

rất hối hận đã trở về, nhưng không kịp nữa. Nên bất đắc dĩ phải theo nghiệp cũ, nếu trong lòng khơng

có gì xấu hổ thì giàu sang cũng chẳng khó". Như thế hơn năm, Ngơ thị vẫn thường cung đốn tiền gạo

chứ cha con Tường thì bặt tăm. Năm ấy Giả thi đỗ vào trường huyện, quan huyện trọng văn tài nên

tặng cho rất hậu, nhờ vậy trong nhà cũng được dư dật. Tường mon men tới thăm, Giả gọi vào bảo tính

hết phí tổn cho mình trước đây, lấy tiền đưa trả rồi cấm cửa không cho gặp nữa. Kế mua nhà mới, gọi

Ngô thị về cùng ở. Ngơ thị có hai con trai, con lớn vẫn giữ nghề làm ruộng, con thứ là Quả rất thông

minh, Giả bảo theo học chung với học trò mình. Giả từ lúc trong núi về, đầu óc càng minh mẫn, không

bao lâu liên tiếp thi đỗ Cử nhân rồi Tiến sĩ. Vài năm sau được lấy hàm Thị ngự ra làm Tuần phủ Chiết

Giang, oai danh lừng lẫy, trong nhà lầu gác đài tạ, dưới thềm yến ẩm đàn ca, nổi tiếng một thời.

Giả là người cứng cỏi, không sợ kẻ quyền quý nên đụng chạm tới nhiều quan lón trong triều, bèn

dâng sớ xin về hưu nhưng chưa có chỉ dụ thì đã gặp tai họa. Ngun Tường có sáu con trai, đều là

hạng vơ lại, tuy Giả đã cấm cửa không cho lui tới nhưng vẫn mượn danh Giả tác oai tác phúc, chiếm

đoạt nhà cửa ruộng vườn của dân, người làng đều sợ. Có tên Ất vừa cưới vợ, bị con thứ của Tường

cướp làm thiếp. Ất vốn là người trí trá nên người làng giúp tiền cho y đi kiện, chuyện tới tai trlều

đình, các quan đểu dâng sớ hặc tội Giả. Giả khơng có cách nào biện hộ nên bị bắt giam. Được một

năm thì Tường và đứa con thứ chết trong ngục, Giả được chỉ sung quân ở huyện Liêu Dương (tỉnh

Liêu Ninh). Năm ấy Quả vào học trường tỉnh đã lâu, tính rất nhân hậu, nổi tiếng tài giỏi. Phu nhân sinh

được một con, năm ấy mười sáu tuổi, gởi gắm cho Giả rồi dắt một lão bộc, một bà già đi với chồng.

Giả nói "Giàu sang hơn mười năm cũng không lâu bằng một giấc mộng, nay mới biết trường vinh hoa



đều là một cõi địa nguc, hối hận vì Lưu Nguyễn lại gây ra thêm một cái án oan nghiệt vậy”.

Vàỉ hôm tới bờ biển xuống thuyền, thấy xa xa có một chiếc thuyền lớn chèo tới, đàn sáo rộn rã,

bọn người hầu đều như thần tiên. Thuyền tới gần thì có một ngừữi bước ra, tươi cười mời quan Thị

ngự qua trò chuyện một lúc Giả nhìn thấy người ấy vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, nhảy ln qua thuyền

lớn, bọn lính áp giải khơng dám ngăn cản. Phu nhân vội vàng bước theo nhưng thuyền lớn đã rời xa,

uất ức nhảy luôn xuống biển. Loi ngoi được vài bước thì có một người thả tấm lụa xuống cứu lên. Bọn

lính áp giải bảo nhà thuyền chèo mau đuổi theo, vừa đuổi vừa quát tháo. Chợt nghe có tiếng trống thúc

vang vang như sấm hòa vào với tiếng sóng ầm ầm, trong chớp mắt thì chiếc thuyền kia biến mất.

Người lão bộc của Giả nhận ra người trên thuyền, nói đó là Lang sinh.

[197]



Dị Sử thị nói: Nghe dồn Trần Đại Sĩ

đi thi, viết xong bài rồi, đọc đi đọc lại mấy lần, than

rằng “Ai cũng viết được thế này”, bèn bỏ đi viết bài khác nên không đủ mực viết bài thi. Giả sinh xấu

hổ bỏ trốn, cũng là có tiên cốt, nhưng lại quay về nhân gian rồi vì miếng cơm manh áo mà tự hạ mình,

thật là bần tiện làm sao!



170. Ba Kiếp (Tam Sinh)

Anh Mỗ ở Hồ Nam nhớ được chuyện ba kiếp trước. Kiếp đầu làm quan huyện, được cử làm khảo

quan kỳ thi hương. Có danh sĩ tên Hưng Vu Đường bị đánh rớt uất ức mà chết, cầm quyển thi tới âm ty

kiện. Đơn kiện vừa đưa lên, những sĩ tử thi rớt mà chết kéo tới hàng vạn người, tôn Hưng đứng đầu,

lúc tan lúc họp. Mỗ bị bắt tới đối chất với Hưng, Diêm Vương hỏi Mỗ coi việc cân nhắc văn chương,

tại sao lại đánh rớt người tài sĩ mà lấy đỗ kẻ tầm thường. Mỗ phân trần rằng ở trên còn có quan Chủ

khảo, mình chẳng qua chỉ là kẻ thừa lệnh mà thôi. Diêm Vương lập tức phát thẻ bài sai đi bắt viên Chủ

khảo, hồi lâu giải tới, Diêm Vương thuật lại lới Mỗ, viên Chủ khảo nói “Ta chẳng qua chỉ là người

xem lại lần cuối, nếu các quan Giám khảo không đưa bài lên thì làm sao ta đọc được?". Diêm Vương

nói “Không được đổ lỗi cho nhau như thế, hai ngươi đều khơng làm tròn phận sự như nhau thơi", vừa

sắp phạt đánh đòn hai người thì Hưng khơng vừa lòng bước ra gào lớn, đám ma đứng dưới thềm cũng

la hét phụ họa.

Hưng nói trừng phạt như vậy quá nhẹ, phải khoét cả hai mắt để trị tội không biết đọc văn. Diêm

Vương không chịu, đám ma càng la hét tợn, Diêm Vương nói "Tội của họ khơng phải là không muốn

được văn hay, chỉ là ngu dốt thôi". Đám ma lại xin mổ tim, Diêm Vương bất đắc dĩ sai lột áo hai

người, lấy dao bén rạch bụng, hai người đổ máu kêu la, đám ma vô cùng vui sướng, đều nói "Bọn ta

uất ức dưới suối vàng chưa lần nào được phát tiết nỗi hận, nay nhờ Hưng tiên sinh mới được hả giận”,

vui vẻ tan đi. Mỗ chịu tội mổ bụng xong, bị giải tới Thiểm Tây đầu thai làm con nhà thường dân. Năm

hai mươi tuổi thì trong vùng có bọn giặc lớn gây loạn, Mỗ bị ép theo. Quan quân đánh dẹp phá tan,

bắt được rất nhiều, Mỗ cũng bị bắt nhưng nghĩ mình bị ép chứ khơng phải thật lòng làm giặc, còn có

thể phân trần được.

Đến khi ra mắt quan trên, thấy cũng chỉ hơn hai mươi tuổi, Mỗ nhìn kỹ thì ra là Hưng, sợ hãi nói

"Chắc ta chết rồi". Kế đó Hưng cho tha hết những kẻ bị bắt, duy có Mỗ tới sau thì khơng cho phân trần

gì, sai đem xử chém. Mỗ tới âm ty đưa đơn kiện Hưng, Diêm Vương không cho bắt ngay để chờ Hưng

hướng hết lộc số. Ba mươi năm sau Hưng mới tới đối chất, Diêm Vương thấy coi thường mạng người

nên phạt làm súc vật. Lại xét lại việc làm của Mỗ thấy lúc trước từng đánh đập cha mẹ, cũng phạt như

Hưng. Mỗ sợ kiếp sau Hưng báo thù, nên xin làm con vật lớn. Diêm Vương bèn phạt Mỗ làm chó lớn,

Hưng làm chó nhỏ. Mỗ thác sinh ở chợ phủ Thuận Thiên (tỉnh Hà Bắc), một hôm đang nằm ở đầu

đường thấy có người khách từ Nam lên, dắt theo một con chó lơng vàng to bằng con mèo, nhìn lại thì

ra là Hưng. Mỗ khinh là nhỏ xơng vào cắn, bị con chó nhỏ táp vào cổ họng, đeo dính như cái lục lạc.

Con chó lớn rẫy ra rồi đè con chó nhỏ xuống cắn, người trong chợ xúm lại giằng ra không được. Lát

sau cả hai cùng chết, lại xuống âm ty tranh cãi với nhau. Diêm Vương nói "Oan oan tương báo đến

bao giờ mới thơi được, nay ta sẽ cởi mối thù oán cho các ngươi", rồi phán kiếp sau Hưng sẽ làm con

rể Mỗ.

Mỗ sinh ra tên Khánh Vân, năm hai mươi tám tuổi thi đỗ Cử nhân. Sinh được một gái đoan trang



đẹp đẽ, các nhà thế tộc tranh nhau nhờ người tới hỏi, Mỗ đều chối từ. Ngẫu nhiên qua chơi quận bên,

gặp lúc quan Học sứ xếp hạng các Chư sinh, người đứng đầu là họ Lý, thật ra là Hưng. Mỗ đưa về nơi

trọ, đối xử rất ân cần, hỏi tới gia đình thì chưa có vợ, bèn hứa gả con gái cho. Mọi người đều cho

rằng Mỗ quý kẻ có tài, chứ không biết thật ra là số phận. Kế đó Lý cưới con gái Mỗ, vợ chồng rất hòa

hợp nhưng chàng rể cậy tài coi thường cha vợ, cả năm không tới thăm một lần, cha vợ cũng nhịn. Sau

chàng rể trung niên lận đận, lao đao mãi vẫn khơng thi đỗ, Mỗ tìm đủ cách giúp đỡ cho mới được đắc

chí ở khoa danh, từ đó hai người thương yêu nhau như cha con ruột vậy.

Dị Sử thị nói: Bị đánh rớt một lần mà ba kiếp chưa hết thù oán, căm hận đến thế thật là quá

đáng. Diêm Vương thu xếp vốn rất hay, nhưng dưới thềm có hàng ngàn hàng vạn kẻ chen chúc như

Hưng, chẳng lẽ những rể hiền trong thiên hạ đều là con ma kêu gào khóc lóc dưới âm ty sao!



171. Trường Đình (Trường Đình)

Thạch Đại Phác người Thái Sơn (huyện Thái An tỉnh Sơn Đơng) thích thuật nhương quỷ trừ tà. Có

vị đạo sĩ gặp mặt khen là thơng minh, nhận làm đệ tử, mở tráp lấy hai quyển sách, quyển thượng dạy

trừ hồ, quyển hạ dạy trừ ma, đưa quyển hạ cho Thạch, nói “Cứ giữ kỹ sách này sẽ có cơm ngon vợ

đẹp". Thạch hỏi tên họ, đạo sĩ đáp "Ta là Vương Xích Thành ở quán Nguyên Đế thôn Bắc Biện Thành

(tỉnh thành Hà Nam)", rồi ở lại vài ngày dạy hết cho các ấn quyết. Thạch từ đó rất giỏi bùa phép,

những kẻ mang lễ vật nhờ trừ tà ếm quỷ nối nhau tới mời. Một hôm có ơng già tới, tự xưng là họ ơng,

bày đầy tiền lụa ra bàn nói có con gái bị bệnh ma làm gần chết, xin Thạch tới xem. Thạch nghe bệnh

đã nguy, chối từ không nhận lễ vật, chỉ tạm tới để xem ra sao. Đi hơn mười dặm vào thơn trong núi,

tới nhà thấy phòng ốc hành lang đều hoa lệ đẹp đẽ. Vào phòng thấy cơ gái nằm trong màn the, tỳ nữ

vén màn lên, Thạch nhìn thấy nàng khoảng mười bốn mười lăm tuổi, thoi thóp trên giường, hình dung

khơ héo. Tới gần xem, chợt nàng mở mắt ra nói "Thầy giỏi đã tới!"

Cả nhà mừng rỡ cho biết rằng nàng đã khơng nói năng gì đã mấy ngày rồi. Thạch ra ngồi hỏi bệnh

tình, ơng già đáp cứ tối đến lại thấy một thiếu niên vào ngủ chung với nàng, đuổi bắt thì biến mất, lát

sau lại xuất hiện, ngờ là ma. Thạch nói "Nếu là ma thì đuổi khơng khó, chỉ sợ là hồ thì thật khơng phải

chuyện ta dám biết”. Ơng già nói “Khơng phải đâu, không phải đâu”, Thạch bèn vẽ bùa đưa cho. Đêm

ấy Thạch ngủ lại đó khuya thấy một thiếu niên áo mũ chỉnh tề đi vào. Thạch nghĩ là người trong gia

đình chủ nhân, bước ra hỏi, thiếu niên đáp “Ta là ma đây, cả nhà họ ông đều là hồ, ta thích nàng Hồng

Đình nên tới đây. Ma mà ám hồ thì khơng hại gì tới âm đức, việc gì ơng phải giúp họ chia rẽ nhân

dun của ta? Chị nàng là Trường Đình còn đẹp hơn nhiều, ta xin kính cẩn để lại nguyên vẹn cho bậc

cao hiền. Nếu họ hứa gả cho ơng thì ơng hãy giúp họ, ông cưới xong ta sẽ không tới đây nữa”, Thạch

ưng thuận.

Đêm ấy thiếu niên không vào, cô gái hơi khỏe hơn. Sáng ra ông già mừng rỡ kể với Thạch, mời

Thạch vào xem bệnh. Thạch đốt lá bùa đi rồi ngồi thăm bệnh, thấy sau tấm màn thêu có một nữ lang

xinh đẹp như thiên tiên, biết đó là Trường Đình. Xem bệnh xong bèn đòi nước rửa phòng, nữ lang vội

xách nước vào lúc lui tới cùng dọn dẹp, Thạch ngây ngất ngẩn ngơ, chẳng còn nghĩ gì tới việc trừ tà

ếm quỷ cả. Thạch ra từ biệt ông già, lấy cớ về nhà chế thuốc, mấy ngày khơng trở lại. Ma càng lộng

hành, trừ Trường Đình ra thì cả nhà từ con dâu tới tỳ nữ đều bị hành dâm. ông già lại sai đầy tớ mang

ngựa tới đón, Thạch thác bệnh khơng đi. Hơm sau ông già tự tới, Thạch giả đau chân chống gậy bước

ra. ông già chào xong hỏi thăm, Thạch đáp "Đây là cái khổ của kẻ góa vợ đây. Đêm qua đứa tớ gái

dọn giường vấp ngã làm cái lò sưởi rơi vào chân ta". Ông già hỏi sao đã lâu mà không cưới vợ khác,

Thạch đáp “Chỉ hận là không gặp được nhà nào thanh cao như nhà ơng”.

Ơng già im lặng bước ra, Thạch theo tiễn chân, nói "Lúc nào đỡ bệnh sẽ tự tới, đừng nhọc cơng

dời gót ngọc tới đây làm gì". Vài hơm sau ơng già lại tới, Thạch khập khiễng ra đón. Ơng già hỏi han

đơi ba câu rồi nói "Vừa rồi ta bàn với chuyết thê, nếu ông đuổi được ma cho cả nhà n ổn, thì có tiểu



nữ Trường Đình được mười bảy tuổi, xin sai tới phụng sự bậc quân tử". Thạch mừng rỡ lạy phục ngay

xuống, rồi nói nếu ơng già có nhã ý như vậy thì đâu dám có bệnh mà chần chừ. Lập tức lên đường,

cùng cưỡi ngựa đi. Vào nhà xem qua hết những người bị ma làm rồi, lại sợ xong việc bị họ nuốt lời,

xin bàn rõ với vợ chồng ông già. Bà già bước ra nói “Tiên sinh còn ngờ sao?", lập tức lấy chiếc trâm

cài đầu của Trường Đình đưa Thạch làm tin. Thạch vái lạy xong liền tập hợp tất cả người nhà lại làm

phép nhương trừ, riêng Trường Đình khơng bị gì thì vẽ một tấm bùa sai người nhà đưa tặng cho nàng

đeo. Đêm ấy yên ắng, ma quỷ bặt tăm, chỉ có Hồng Đình còn rên rỉ khơng thơi. Thạch làm nước phép

vào rảy cho nàng, bệnh tật lập tức tiêu tan gần hết. Thạch định chào về, ông già níu kéo giữ lại, đến xế

chiều dọn rượu thịt lên la liệt, mời mọc rất ân cần, canh hai chủ nhân mới chào khách đi nghỉ.

Thạch vừa đi nằm thì nghe tiếng gõ của rất gấp, trở dậy mở cửa thì Trường Đình bước vào, dáng

vẻ hớt hãi, nói là nhà thiếp mài dao muốn giết chàng, nên trốn ngay đi, nói xong vội quay ra. Thạch

hoảng sợ khơng còn hồn vía nào, vội leo qua tường bỏ chạy, thấy xa xa có ánh lửa vội chạy tới, thì ra

là người làng đi săn đêm. Thạch chờ họ săn xong cùng về, trong lòng căm túc khơng biết trút vào đâù,

định tới đất Biện tìm Xích Thành nhưng nhà có cha già mắc bệnh đã lâu, nghĩ ngợi đêm ngày chưa biết

tính bề nào. Một hơm có hai chiếc kiệu tới dừng ở cửa, thì là bà vợ ơng già đưa Trường Đình tới, hỏi

Thạch rằng "Đêm trước về rồi sao khơng tính kế?”. Thạch thấy mặt Trường Đình thì nỗi căm tức đều

tiêu tan nên cũng khơng nói ra chuyện mình tính tốn. Bà già giục hai người làm lễ giao bái ngay tại

sân, xong rồi Thạch định làm cơm mời, bà nói "Ta đang bận rộn, khơng thể ngồi yên ăn ngon. Lão già

nhà ta đầu óc tối tăm, nếu có gì khơng phải xin chàng vì Trường Đình mà nghĩ tới già này một chút thì

may lắm", rồi lên kiệu đi.

Té ra ông già định giết con rể thì bà già khơng hay, đến lúc ơng ta đuổi theo Thạch khơng kịp trở

về thì bà mới biết, rất lấy làm bất bình, ngày nào cũng cãi vã với chồng. Trường Đình cũng khóc lóc

khơng chịu ăn uống, bà già bèn ép đưa con gái tới cho Thạch, chứ họ ơng khơng muốn. Trường Đình

vào nhà rồi, Thạch hỏi han mới rõ sự tình. Được hai ba tháng, họ ông gọi con gái về thăm nhà, nhưng

Thạch cho rằng nàng sẽ không được trở lại nên không cho đi, từ đó thỉnh thoảng Trường Đình lại rơi

lệ. Hơn một năm nàng sinh con trai, đặt tên là Tuệ Nhi, thuê vú nuôi cho bú nhưng đứa nhỏ hay khóc,

đêm nào cũng phải trả về ngủ với mẹ. Một hơm nhà họ ơng lại mang kiệú tới, nói bà già nhớ con gái

lắm. Trường Đình càng buồn bã, Thạch không nỡ giữ nên để nàng đi.

Nàng định bế con theo nhưng Thạch khơng cho, nàng bèn về một mình. Lúc ra đi hẹn một tháng sẽ

quay về, nhưng nửa năm liền vẫn khơng có tin tức gì, Thạch cho người đến hỏi dò tin túc thì nhà cũ bỏ

khơng khơng có ai ở. Được hai năm Thạch khơng mong đợi nữa, nhưng đứa con nhớ mẹ đêm nào cũng

khóc ngằn ngặt, lòng như dao cắt. Kế cha bệnh mất, Thạch càng thêm thương tâm nên thành bệnh nằm

liệt giường, việc tang lễ gác đó khơng sao tiếp đón khách khứa tới viếng. Đang lúc bối rối chợt nghe

tiếng đàn bà khóc lóc đi vào, nhìn ra thì là Trường Đình mặc tang phục. Thạch đau lòng q kêu lên

một tiếng rồi ngất đi, người hầu gáỉ hoảng sợ la lớn, Trường Đình mới nín khóc vào chăm sóc. Hồi lâu

Thạch mới tỉnh, nghĩ rằng mình đã chết, nói có lẽ đang gặp nhau ở suối vàng. Nàng nói “Khơng phải

đâu. Thiếp bất hiếu khơng được lòng cha, bị giữ lại ba năm, thành ra phụ lòng chàng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giả Phụng Trĩ (Giả Phụng Trĩ)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×