Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Gái Thần (Thần Nữ)

Gái Thần (Thần Nữ)

Tải bản đầy đủ - 0trang

tới mức này, sinh kể lại duyên do. Lại hỏi đi đâu, sinh lại trả lời. Tỳ nữ áo xanh quay về chiếc kiệu

nói chuyện với bên trong, lát sau trở lại mời sinh tới trước kiệu. Trong kiệu có một bàn tay búp măng

vén rèm lên, liếc nhìn thì là một giai nhân tuyệt thế. Nàng nói với sinh "Chàng không may gặp chuyện

rủi ro, nghe thấy mà buồn. Ngày nay dinh Học sứ không phải là nơi ra vào tay khơng được, nhưng giữa

đường khơng có gì tặng”. Bèn rút một cành hoa khảm ngọc cài trên tóc đưa sinh, nói "Vật này có thể

bán được một trăm đồng vàng, xin cầm lấy”. Sinh lạy tạ, toan hỏi lai lịch thì kiệu đi rất nhanh đã ra xa

rồi, khơng rõ là ai nữa. Cầm cành hoa ngắm nghía thấy trên khảm ngọc trai, không phải vật tầm

thường, liền cất kỹ rồi lên đường.

Tới quận đưa đơn, trên dưới vòi vĩnh hạch sách rất khổ, giở cành hoa ra ngắm, khơng nỡ bán bèn

quay về. Trở về khơng có nhà ở, phải nương tựa anh trai và chị dâu. May được anh hiền, lo lắng chăm

sóc cho nên nghèo mà vẫn không phải bỏ học. Năm sau sinh lên quận thi khoa Đồng tử, lầm đường lạc

vào núi sâu. Lúc ấy đang tiết Thanh minh, người du xuân rất đơng, có mấy cơ gái cưỡi ngựa đi tới,

trong có một nàng, chính là người ngồi trong kiệu năm trước. Thấy sinh nàng dùng cương hỏi đi đâu,

sinh trả lời. Cơ gái giật mình hỏi "Chàng vẫn chưa lấy lại được khăn áo nho sinh à?”. Sinh thẹn, rút

cành hoa khảm ngọc trong áo ra, nói "Khơng nỡ bỏ vật này nên vẫn còn là Đồng tử". Cơ gái đỏ bừng

cả mặt, dặn ngồi đợi ở góc đường, dong ngựa chậm rãi đi. Hồi lâu, một tỳ nữ ruổi ngựa tới đưa sinh

một cái gói, nói "Nương tử nói ngày nay cửa quan Học sứ như cái chợ, xin tặng hai trăm lượng bạc

làm vốn tiến thủ”. Sinh từ chối, nói "Nương tử làm ơn cho ta đã nhiều rồi! Tự nghĩ thi đỗ khơng phải

là khó, khơng dám nhận món tiền lớn này. Chỉ xin được biết họ tên để vẽ một bức hình, đốt hương

tưởng bái nương tử là đủ, Tỳ nữ khơng nghe, đặt gói tiền xuống đất rồi đi. Từ đó sinh chi dùng đầy đủ,

nhưng rốt lại vẫn không thèm cầu cạnh, sau đỗ đầu vào trường huyện. Đưa cả tiền cho anh, anh khéo

buôn bán nên trong ba năm khôi phục được hết cơ nghiệp cũ.

Lúc ấy Tuần phủ Phúc Kiến là học trò ông nội sinh, giúp đỡ rất nhiều nên anh em trở nên giàu có.

Nhưng sinh vốn là ngươi trong sạch ngay thẳng nên tuy quen thân với quan lớn mà khơng lần nào tới

nhờ vả. Một hơm có khách mặc áo cừu cưỡi ngựa tới cổng, cả nhà đều không biết là ai. Sinh ra xem

thì là cơng tử họ Phó, bèn vái chào mời vào, thăm hỏi trò chuyện, bày rượu khoản đãi. Khách lấy cớ

bận từ chối, nhưng cũng khơng nói tới chuyện ra về. Khi cơm rượu bày lên, cơng tử đứng dậy xin nói

chuyện riêng, mời vào nhà trong thì lạy sụp xuống đất. Sinh kinh ngạc hỏi có chuyện gì, cơng tử buồn

bã nói "Phụ thân mắc vạ lớn có điều muốn nhờ quan Tuần phủ, khơng phải anh thì khơng ai nói giúp

được". Sinh từ chối, nói "Ơng ta tuy là chỗ quen biết lâu đời nhưng trước nay ta chưa bao giờ vì việc

riêng mà cầu cạnh xin xỏ ai cả". Công tử phục xuống đất khóc lóc năn nỉ, sinh nghiêm sắc mặt nói

"Tiểu sinh với cơng tử chẳng qua chỉ nhân một bữa tiệc mà quen nhau, sao lại đem chuyện mất danh

tiết ép buộc nhau thế?". Công tử thẹn quá, đứng dậy từ biệt rồi đi.

Hôm sau sinh đang ngồi một mình thì có một người áo xanh bước vào, nhìn ra thì là tỳ nữ đưa tiền

tặng trong núi trước kia. Sinh giật mình đúng dậy, người ấy hỏi "Chàng quên cành hoa khảm ngọc rồi

sao?”, sinh đáp ”Dạ dạ, khơng dám qn". Người ấy nói “Cơng tử hơm qua là anh ruột của nướng tử

đấy". Sinh nghe thế mừng thầm, vờ nói "Chuyện đó khó tin lắm, nếu được nương tử thân hành tới đây



nói cho một câu, thì dù là vạc dầu sơi cũng xin nhảy vào, nếu khơng thì thật khơng dám vâng lệnh". Tỳ

nữ ra lên ngựa đi, đến khuya trở lại gõ cửa bước vào nói “Nương tử tới rồi". Chưa dứt lời thì cô gái

rầu rĩ bước vào, ngoảnh mặt vào vách mà khóc, khơng nói một câu. Sinh vái lạy nói "Tiểu sinh khơng

có nàng thì làm sao có ngày nay, nếu có điều gì sai bảo, dám đâu khơng vâng lời?". Cơ gái nói "Kẻ

được cầu cạnh thường khinh người, kẻ đi cầu cạnh thường sợ người. Nửa đêm lặn lội, trước nay nào

biết tới cái khổ này, chỉ vì sợ người đấy thơi, còn nói gì nữa?". Sinh an ủi, nói "Sở dĩ tiểu sinh khơng

nhận lời ngay là vì sợ xong việc rồi khó được gặp nhau lần nữa thơi. Khiến nàng phải đêm hơm lặn lội

sương gió, ta biết tội rồi". Nhân cầm tay áo cô gái vuốt khẽ, nàng nói "Ơng thật là người tệ, khơng

nghĩ tới ơn nghĩa trước lại toan nhân lúc người ta nguy cấp. Ta lầm rồi, ta lầm rồi?", rồi tức giận bỏ

ra, lên kiệu toan đi. Sinh đuổi theo tạ lỗi quỳ xuống chặn đường. Người tỳ nữ cũng khuyên giải, nàng

như ngi giận, ngồi trong kiệu nói với sinh "Nói thật với chàng, thiếp không phải là người mà là thần

nữ. Phụ thân làm Đô lý ty ở Nam Nhạc, vơ tình thất lễ với địa quan, sắp bị tâu lên Thượng đế, nếu

khơng có ấn tín của quan đầu hạt đây thì khơng sao gỡ được. Nếu chàng khơng qn nghĩa cũ, thì lấy

một tờ giấy vàng xin đóng ấn cho thiếp", rồi giục kiệu đi.

Sinh quay vào run sợ mãi, rồi thác chuyện trừ ma lên xin. Tuần phủ cho là việc mê tín nhảm nhí

khơng cho, sinh đem nhiều tiền đút cho ngươi tâm phúc của ông ta, y nhận lời nhưng tìm được cơ hội.

Về nhà thì người tỳ nữ đã chờ ở cổng, sinh kể lại mọi chuyện, cô ta im lặng đi ra như giận sinh khơng

hết lòng. Sinh đuổi theo tiễn, nói "Xin về thưa với nương tử rằng nếu việc không xong thì ta sẽ liểu

mạng chết theo”. Quay vào trằn trọc cả đêm khơng nghĩ ra được kế gì, gặp lúc trong dinh có người

thiếp yêu của Tuần phủ muốn mua ngọc, bèn lấy cành hoa khảm ngọc lên biếu, nàng ta thích lắm, liền

trộm ấn đóng cho sinh. Mang về tới nhà thì người tỳ nữ cũng vừa tới. Sinh cười nói "May mà khơng

nhục mệnh, nhưng vật mấy năm nghèo khổ xin ăn không nỡ bán nay đã phải bỏ vì chủ nhân của nó

rồi!". Kế kể lại mọi chuyện, nói "Vàng ròng vứt đi ta cũng khơng tiếc, nhưng nhờ nhắn với nương tử

rằng cành hoa khảm ngọc thì phải đền đấy”. Qua mấy hơm, Phó cơng tử tới tạ ơn, biếu một trăm lượng

vàng. Sinh sầm mặt nói “Sở dĩ ta làm thế là vì lệnh muội đã ban ơn cho ta không cầu báo đáp thôi, nếu

khơng thì dù vạn lượng vàng cũng há đủ thay đổi danh tiết sao!". Cố ép thì sinh lời lẽ sắc mặt càng

giận dữ, công tử thẹn thùng ra về, nói "Chuyện này chưa xong được". Hơm sau người tỳ nữ vâng mệnh

cô gái đem biếu một trăm viên ngọc, hỏi “Bấy nhiêu đủ đền cành hoa khảm ngọc rồi chứ?”, sinh đáp

"Ta trọng cành hoa ấy khơng phải vì quý ngọc trai, nếu không vật báu vạn dật tặng cho ngày trước ta

đã bán đi để làm một anh nhà giàu rồi, còn nâng niu giữ gìn cam chịu nghèo khó làm gì? Nương tử là

người thần, tiểu sinh nào dám mong gì khác. Nay may đã báo đáp được chút ơn lớn, chết cũng không

ân hận". Người tỳ nữ đặt ngọc lên án, sinh vái tạ rồi trả lại.

Qua mấy hôm, công tử lại tới sinh cho bày tiệc khoản đãi, công tử cũng sai người hầu xuống nấu

nướng. Hai người đối diện cạn chén, vui vẻ như người nhà. Vừa gặp lúc có ngươi biếu rượu nếp

đắng, công tử khen ngon, uống luôn trăm chén, mặt đã hơi đỏ, nói với sinh rằng "Ơng ngay thẳng thanh

cao mà hai anh em ta đều mờ tối không biết sớm, thật vô cùng xấu hổ với kẻ quần thoa. Cha ta cảm

đức lớn, khơng biết lấy gì báo đáp, muốn cho em gái ta kết duyên với ông, chỉ sợ ông hiềm u minh



khác nẻo”. Sinh mừng mùng sợ sợ không biết trả lời thế nào. Công tử từ biệt ra về, nói “Đêm mai là

mồng chín tháng bảy, lúc trăng vừa lên, có cơ cháu gái Thiên tơn lấy chồng, đó là giờ tốt, nên sửa soạn

phòng hoa”. Đêm sau quả đưa cô gái đến, mọi cái không khác gì người thường.

Sau ba ngày, cơ gái đối với người trong nhà từ anh chị tới tôi tớ lớn nhỏ đều có quà tặng. Lại rất

hiền thục, thờ chị dâu như mẹ chồng. Mấy năm không sinh nở, khuyên chồng lấy vợ lẽ nhưng sinh

không nghe. Gặp lúc anh đi bn ở Giang Hồi mua về cho một người thiếp trẻ tuổi họ Cố tên Bác Sĩ,

dung mạo cũng xinh xắn, vợ chồng đều mừng. Chợt thấy trên tóc nàng có cài cành hoa khảm ngọc rất

giống vật cũ năm trước, rút xuống xem quả đúng, lấy làm lạ hỏi. Nàng đáp "Trước có người vợ của

quan Tuần phủ chết, tỳ nữ của bà ta ăn cắp đem bán ở chợ, cha thiếp mua luôn đem về, thiếp rất thích.

Cha thiếp khơng có con trai, chỉ sinh được một mình thiếp, nên xin gì cũng được. Sau cha thiếp mất,

nhà cửa sa sút, thiếp phải sống nhờ ở nhà bà họ Cố. Bà Cố là vai dì của thiếp, thấy ngọc trai nhiều lần

muốn đem bán, vì thiếp nhảy xuống giếng tự tử nên đến nay mới còn”. Vợ chồng mừng nói "Vật qua

mười năm lại về chủ cũ, chẳng phải là số sao?". Cô gái lấy ra một cành hoa khảm ngọc khác, nói "Vật

này khơng có đơi lâu lắm rồi!", nhân ban luôn cho ngươi thiếp, tự tay cài lên tóc cho.

Người thiếp lui ra, hỏi gia thế cô gái rất kỹ nhưng người nhà đều không dám nói, bèn lén nói với

sinh rằng "Thiếp trơng nương nữ không phải là người trần. Trong khoảng mắt và mày có thần khí, hơm

qua cài cành hoa cho, thiếp được nhìn gần, thấy vẻ đẹp từ trong da thịt tốt ra, khơng phải như người

thường chỉ hơn nhau ở chỗ xấu dẹp trắng đen thôi đâu”. Sinh cười, nàng nói "Xin chàng đừng nói gì để

thiếp thử xem. Nếu là thần thì mình muốn gì cứ nhân lúc vắng người thắp hương cầu khấn thì họ sẽ

biết". Cơ gái có đơi tất thêu rất đẹp, Bác Sĩ thích nhưng chưa dám nói, lập tức thắp hương cầu khấn

trong phòng. Sáng ra cô gái dậy sớm, chợt mở rương lấy đôi tất sai tỳ nữ đem cho Bác Sĩ. Sinh thấy

thế bật cười, cô gái hỏi duyên cớ, bèn kể lại chuyện, nàng nói “Con nhãi mới ranh làm sao!". Nhân

thấy Bác Sĩ thông minh càng yêu thưong, mà Bác Sĩ càng cung kính, cứ mờ sáng là tắm gội tới hầu.

Sau Bác Sĩ sinh một lần được hai trai, hai người chia nhau nuôi. Năm sinh tám mươi tuổi, diện mạo

cô gái vẫn như lúc chưa lấy chồng. Sinh mắc bệnh, nàng thuê thợ đóng quan tài, bảo làm to gấp đơi

bình thường. Lúc sinh chết nàng khơng khóc, các con vùa ra ngồi thì nàng nằm vào áo quan mà chết,

vì vậy cùng chơn chung, đến nay vẫn truyền tụng là Ngôi mộ quan tài to.

Dị Sử thị nói: Cơ gái là thần mà Bác Sĩ biết được, là dùng thuật gì vậy? Mà nàng biết được

người khác thơng minh, thật còn thiêng hơn cả thần nữa.



161. Tương Quần (Tương Quần)

Án Trọng là người huyện Diên An tỉnh Thiểm Tây, ở chung với anh là Bá, anh em rất thương yêu

nhau. Bá được ba mươi tuổi thì chết, kế đó vợ cũng chết. Trọng rất đau đớn, thường nghĩ nếu có hai

con trai sẽ để một đứa làm con nuôi lo việc hương hỏa cho anh. Nhưng vừa sinh được một trai thì vợ

Trọng chết. Trọng lo vợ kế khơng thương con mình nên chỉ định cưới thiếp. Thơn bên có người bán tỳ

nữ, Trọng qua xem mặt nhưng khơng vừa ý, trong lòng chán nản lại bị bạn bè giữ lại uống rượu nên

say khướt mới về. Dọc đường gặp bạn học cũ là Lương sinh, Lương nắm tay mời mọc về nhà bằng

được, Trọng say quá cũng quên bẵng bạn đã chết nên đi theo. Vào cổng thấy không phải là căn nhà

ngày trước, lấy làm lạ hỏi thì bạn đáp mới dời nhà về đây. Vào tới nhà, Lương định lấy rượu ra mời

thì rượu trong nhà đã hết, bèn dặn Trọng ngồi đợi rồi xách vò đi mua.

Trọng ra cổng đứng ngóng, thấy một người đàn bà cưỡi ngựa đi qua, có đứa nhỏ khoảng tám chín

tuổi theo sau, mặt mũi dáng vẻ giống hệt anh mình, thấy chạnh lòng bèn rảo bước theo. Hỏi đứa nhỏ họ

gì, nó đáp là họ Án. Trọng càng kinh ngạc, lại hỏi cha cháu tên gì, nó cười đáp là khơng biết. Trò

chuyện tới đó thì tới nhà, người đàn bà xuống ngựa vào trong. Trọng cầm tay đứa nhỏ hỏi "Vào xem

cha cháu có nhà khơng", nó dạ dạ rồi vào. Giây lát có một người đàn bà bước ra nhìn, thì đúng là chị

dâu Trọng. Chị dâu ngạc nhiên hỏi sao chú lạỉ tới đây, Trọng buồn bã theo vào, thấy nhà cửa cũng cao

ráo sạch sẽ. Hỏi anh đi đâu, chị dâu đáp "Đi đòi nợ chưa về", lại hỏi người đàn bà cưỡi ngựa là ai,

đáp "Đó là thiếp của anh chú, họ Cam, sinh được hai trai. Đứa lớn là A Đại, đi bán hàng chưa về, đứa

chú gặp là A Tiểu”. Trọng ngồi một lúc lâu, đỡ say mới biết rằng mình gặp đây tồn là ma, nhưng vì

anh em vốn thương u nhau nên cũng khơng sợ hãi gì.

Chị dâu hâm rượu dọn cơm, Trọng nóng ruột muốn gặp anh nên giục A Tiểu đi tìm. Lát sau nó

khóc lóc trở vể, nói “Nhà họ Lý thiếu nợ khơng chịu trả, lại đánh nhau với cha". Trọng nghe thế vội

cùng A Tiểu chạy tới nhà họ Lý, thấy hai người đang đè anh xuống đất đấm dá. Trọng tức giận xông

vào đánh túi bụi khiến bọn kia dạt cả ra, cứu được anh đứng dậy. Bọn kia đều bỏ chạy, Trọng đuổi

theo túm được một người, đánh cho bò lê bò càng. Rồi đứng lên cầm tay anh khóc ròng, anh cũng

khóc. Về tới nhà, mọi người kéo lên hỏi han, rồi bày rượu dọn cơm, anh em cùng uống với nhau. Lát

sau có một thiếu niên bước vào, khoảng mười sáu mười bảy tuổi, Bá gọi là A Đại, bảo tới chào chú.

Trọng kéo nó tới gần rồi nhìn anh khóc, nói "Đại ca dưới suối vàng có được hai trai nhưng phần mộ

trên kia không ai quét dọn, con em thì còn nhỏ lại mồ cơi mẹ, biết làm thế nào?”' Bá cũng bùi ngùi,

chị dâu Trọng bèn nói “Hay là cứ cho A Tiểu đi theo chú?". A Tiểu nghe thế cứ nép vào nách Trọng,

có vẻ quyến luyến khơng muốn rời ra. Trọng vỗ về nó, lòng càng thêm chua xót, hỏi có thích theo chú

khơng? Nó thưa là thích, Trọng nghĩ tuy nó là ma khơng phải người, nhưng có nó bên cạnh cũng được

an ủi hơn khơng, mới thấy vui vẻ.

Bá nói “Theo chú lên trần gian thì khơng được lười biếng, cứ ăn nhiều thịt vào, ban ngày phải ra

ngoài nắng đến trưa thì thơi. Con mới sáu bảy tuổi, qua xn sang hạ thì sẽ mọc xương thịt như người,



có thể lấy vợ sinh con, chỉ duy không được thọ thôi". Đang khi trò chuyện, thấy ngồi cửa có một cơ

gái đứng nghe, ý tứ rất đằm thắm. Trọng nghĩ là con gái anh bèn hỏi, anh đáp “Cô ấy tên Tương Quần,

là em gái người thiếp của anh, mồ côi cả cha mẹ, ở đây đã mười năm nay". Trọng hỏi có chồng chưa,

Bá đáp chưa, nhưng mới rồi có người mai mối tới hỏi cho một nhà làm ruộng ở thơn Đơng. Cơ gái nói

khe khẽ ngồi cửa “Ta khơng lấy chồng chăn trâu ở nhà quê đâu”. Trọng chợt thấy yêu mến, nhung

chưa tiện nói ra. Cơm xong Bá vào dọn giường trong phòng sách, giữ Trọng ngủ lại. Trọng vốn khơng

muốn ở lại nhưng có ý quyến luyến Tương Quần, định tìm cách dò ý anh, nên chào Bá rồi vào phòng.

Lúc ấy mới đầu mùa xn, khí trời còn lạnh, mà trong phòng chẳng có chút than lửa nào, Trọng

lạnh run cầm cập ngồi một mình trước đèn, thầm muốn có chút rượu uống. Bỗng A Tiểu đẩy cửa bước

vào, đặt một bát canh, một đấu rượu lên bàn. Trọng mừng quá, hỏi ai nấu, nó đáp là dì Tương. Trọng

uống rượu xong, nó lại bưng chậu than vào khơi tro thổi lửa đặt xuống dưới giùong. Trọng hỏi "Cha

mẹ cháu ngủ chưa?", nó đáp “Ngủ lâu rồi". Lại hỏi "Cháu ngủ ở đâu?", nó đáp “Ngủ chung với dì

Tương", rồi chờ chú nhắm mắt mới khép cửa đi. Trọng nghĩ Tương Quần thông minh hiểu ý mình,

càng thêm u mến, lại thấy nàng chăm sóc được A Tiểu, nên càng quyết ý cưới bằng được, trằn trọc

thâu đêm khơng hề chợp mắt. Sáng ra nói với anh rằng "Em lẻ loi khơng có vợ, phiền đại ca lưu ý

cho”. Bá nói "Nhà ta chẳng phải nghèo khó gì, có tiền thì cưới được vợ, chứ dưới cõi âm này dẫu có

ngươi đẹp cũng e chẳng ích lợi gì cho em". Trọng nói "Người xưa cũng có vợ ma, có hại gì đâu , Bá

có vẻ hiểu ý, liền nói "Tương Quần cũng đẹp, vả lại nếu lấy chiếc kim lớn đâm vào người mà máu

chảy không thơi thì cũng có thể làm vợ người sống, cần gì phải gấp?". Trọng nói “Có Tương Quần

chăm sóc cho A Tiểu thì cũng được”. Bá lại lắc đầu Trọng năn nĩ mãi. Chị dâu Trọng nói "Nếu thế thì

bắt lấy Tương Quần thử xem, nếu khơng được thì thơi”. Rồi cầm kim bước ra, gặp Tương Quần ngoài

cửa vội chụp lấy cổ tay nàng thì đã thấy có vết máu rõ ràng, té ra nàng nghe Bá nói đã tự đâm kim vào

tay để thử rồi, chị dâu Trọng phì cười bng tay nàng ra.

Người thiếp của Bá nghe thế nổi giận sấn tới trước mặt Tương Quần, dí tay vào trán nàng xỉa xói,

mắng "Con đĩ khơng biết thẹn, muốn trốn theo chú nó à? Ta nói cho ngươi biết là đừng có mơ”. Tương

Quần vừa thẹn vừa uất, chạy đi định tự tử cả nhà náo loạn. Trọng ngượng quá vội chào anh chị, dắt A

Tiểu đi. Anh dặn “Em cứ về đi, đùng đưa A Tiểu xuống đây nữa, sợ làm tổn hại sinh khí của nó”,

Trọng vâng dạ. Về tới nhà, nói dốỉ tăng tuổi của A Tiểu lên, bịa chuyện rằng anh có cưới người thiếp,

đứa nhỏ này là đứa con của anh, mồ cơi từ lúc còn trong bụng mẹ. Mọi người thấy nó giống Bá như

đúc, đều tin là thật. Trọng dạy A Tiểu học, bắt cứ mang sách ra nắng ngồi đọc, ban đầu nó khổ lắm,

sau dần dần quen. Đến giữa tháng sáu thì bàn ghế cũng nóng như thiêu mà đứa nhỏ vẫn nô đùa đọc

sách, không hề kêu ca. Đứa nhỏ lại rất thông minh, đêm đêm nằm với chú gác chân lên nhau, đọc bài

thuộc làu làu Trọng được an ủi rất nhiều, lại vì khơng qn được Tương Quần nên cũng khơng nghĩ gì

tới việc cưới thiếp nữa.

Một hơm có hai bà mối tới bàn chuyện hỏi vợ cho A Tiểu, nhưng trong nhà khơng có ai lo chuyện

cơm nước mời khách, Trọng ngồi mà lòng như lửa đốt. Chợt người chị dâu họ Cam từ ngồi đi vào

nói "Chú đừng trách, ta đưa Tương Quần tới cho chú đây. Hơm trước vì nó khơng biết thẹn nên ta mới



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Gái Thần (Thần Nữ)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×