Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phu Nhân Nhà Họ Lưu (Lưu Phu Nhân)

Phu Nhân Nhà Họ Lưu (Lưu Phu Nhân)

Tải bản đầy đủ - 0trang

đàn bà cười nói "Sau này khơng cần làm thế nữa, ta đã biên chép từ lâu rồi". Rồi giở sổ cho sinh xem,

thấy ghi chép rất rành mạch, ngay cả khoản thưởng thêm cho Ngũ cũng thấy có trong đó, sinh kinh ngạc

nói "Phu nhân quả là người thần”. Qua mấy hôm, cho ăn ở rất chu tất, đãi sinh như con cháu trong nhà.

Một hôm bày tiệc trên sảnh, đặt một ghế chủ một ghế khách dưới thềm cũng bày một bàn, nói với sinh

rằng "Ngày mai là ngày Tài tinh lâm chiếu, đúng dịp nên lên đường, hôm nay ta bày tiệc tiễn chủ tớ

công tử cho thêm phần khởi sắc”. Ngũ cũng được gọi tới, cho ngồi ở bàn dưới thềm. Một lát thì ban

hát ra diễn, chiêng trống vang tai, người của ban hát bước lên trình danh sách các vở tuồng. Sinh bảo

[194]



diễn vở Đào Chu giàu có

, người đàn bà cười nói "Đó là điềm báo trước đấy, chắc công tử sẽ

được Tây Thi làm nội trợ”.

Tan tiệc lấy toàn bộ số vàng đưa sinh, nói "Lần này đi khơng kể ngày tháng, nếu không thu được

vạn lượng vàng xin đừng về. Ta với công tử nương dựa nhau do phúc mệnh, tin cậy nhau như gan ruột,

đừng nhọc công làm sổ sách làm gì. Việc bán bn lời lỗ ở phương xa thế nào tự ta có thể biết được”,

sinh vâng dạ lui về. Rồi lên đường tới đất Hoài Thương (huyện Hồi ân tỉnh Giang Tơ) xin làm thầu

bn muối, hơn một năm thì vốn đã tăng gấp mấy lần. Nhưng sinh ham học, ngồi những lúc tính tốn

bn bán vẫn không quên sách vở, bạn bè cùng giao du đều là kẻ văn sĩ. Lại thấy đã có nhiều tiền nên

thầm muốn nghỉ buôn bán, dần dần giao hết công việc cho Ngũ. Sinh chơi thân với Tiết sinh ở huyện

Đào Nguyên (tỉnh Hồ Nam), nhân đi ngang ghé thăm, nhưng cả nhà đều đang ở chỗ khác. Trời đã tối

không sao gọi về, người giữ cổng giữ sinh lại, dọn giường nấu cơm tiếp đãi. Sinh hỏi kỹ về chủ nhân,

thì ra đại để lúc ấy người ta đồn nhảm rằng triều đình muốn tuyển con gái nhà lương dân làm lễ vật

hoà thân để yên biên cuơng, dân gian náo động, nghe nói ai trẻ tuổi chưa vợ thì khơng cần mai mối, cứ

đưa con gái tới tận nhà gả cho, tới nỗi có người trong một đêm cưới luôn được hai vợ.

Tiết cũng vừa cưới một người vợ con nhà vọng tộc, nhưng sợ xe ngựa rầm rập quan huyện biết

được nên dời về ở trong làng. Gần hết canh một, sinh vừa đi nằm chợt nghe tiếng mấy người gọi cổng

vào nhà, không rõ người giữ cổng nói gì, chỉ nghe một người hỏi “Quan nhân đã khơng có nhà, vậy ai

thắp đèn trong kia?". Người giữ cổng đáp là Liêm công tử, khách từ xa tới. Giây lát người vừa hỏi

bước vào, áo mũ đẹp đẽ, vừa chào xong đã hỏi ngay tên họ quê quán. Sinh đáp xong, người ấy mừng

rỡ nói "Té ra là đồng hương với ta, vậy nhạc gia là ai thế”. Sinh đáp còn chưa có vợ, người ấy càng

vui mừng, rảo bước ra gọi một thiếu niên cùng vào, làm lễ chào hỏi rất cung kính rồi nói “Thưa thật

với công tử, bọn ta họ Mộ, đêm nay tới đây là đưa cô em tới gả cho Tiết quan nhân, gặp tình cảnh thế

này đang khơng biết làm sao, tiến lui đều khó, lại gặp được cơng tử há chẳng phải là số phận ư?".

Sinh vì chưa biết họ là ai nên còn ngần ngừ chưa dám ưng thuận, Mộ lại mặc kệ lời từ chối, cứ

gọi người đưa cơ dâu vào. Phút chốc có hai bà già đưa một cơ gái vào ngồi trên giường, sinh liếc nhìn

thấy khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, xinh đẹp không ai bằng. Sinh mừng rỡ, sửa mũ áo tạ ơn Mộ, lại

bảo ngươi giữ cổng dọn rượu tiếp đãi, cùng nhau trò chuyện rất vui vẻ. Mộ nói "Tổ tiên bọn ta vốn là

người huyện Chương Đức, dòng họ bên mẹ cũng là thế gia nhưng nay đã sa sút. Nghe nói ơng bà ngoại

còn có hai người cháu nội, khơng rõ tình cảnh ra sao". Sinh hỏi họ tên, Mộ đáp "Ông ngoại bọn ta họ

Lưu tên Huy Nhược, nghe nói cư ngụ cách huyện thành ba mươi dặm về phía bắc". Sinh nói “Nhà ta ở



phía đơng nam huyện thành, cách nơi ấy khá xa, lại tuổi còn nhỏ nên giao thiệp chưa nhiều, quen biết

cũng ít. Trong huyện có rất nhiều người họ ấy, nhưng nghe nói phía bắc huyện thành có Lưu Kinh

Khanh, cũng là bậc văn sĩ nhưng khơng rõ có đúng khơng, có điều nhà thì nghèo". Mộ nói "Mồ mả tổ

tiên bọn ta vẫn còn ở huyện Chương Đức, vẫn muốn đưa quan tài cha mẹ về ở quê cũ nhưng vì chưa lo

đủ tiền bạc nên còn lần lữa. Nay em gái bọn ta được theo công tử về, bọn ta càng quyết ý về quê".

Sinh nghe thế, khẳng khái nhận sẽ thu xếp. Hai người họ Mộ rất vui mừng, uống vài chén rượu rồi

chào về. Sinh bảo người hầu thay đèn đi ngủ, đêm ấy vợ chồng yêu thương nhau rất đằm thắm.

Hôm sau Tiết nghe tin vội trở vào thành, xây một dãy nhà riêng cho sinh ở. Sinh trở lại đất Hồi,

tính tốn tiền bạc xong, lưu Ngũ ở lại rồi mang hành trang tiền bạc về lại Đào Nguyên, cùng hai người

họ Mộ đưa quan tài cha mẹ và cả hai gia đình về quê. Về tới nhà, sinh thu xếp đâu đó xong, đem tiền

bạc tới chỗ chủ nhân thì thấy ngùoi đầy tớ dắt ngựa trước kia đã đứng đón trên đường đưa vào nhà.

Người đàn bà ra đón, vui vẻ nói "Đào Chu cơng đưa được Tây Thi về rồi. Hôm trước là khách, chứ

hôm nay là cháu rể của ta rồi đấy nhé". Rồi bày tiệc đón mừng, đối xử càng thêm thân thiết. Sinh khâm

phục là có tài biết trước, bèn hỏi phu nhân cùng mẹ vợ mình có họ hàng xa gần thế nào, bà đáp đừng

hỏi, về sau sẽ tự biết thôi. Rồi chất vàng lên bàn, chia làm năm phần, tự mình lấy hai phần, nói "Ta thì

chẳng dùng gì tới, chỉ giữ lại để cho cháu đích tơn thơi". Sinh thấy phần mình q nhiều, chối từ khơng

nhận. Bà buồn rầu nói "Nhà ta sa sút, cây cối trong sân bị người ta chặt làm củi, cháu nội lại ở xa quá,

cửa nẻo ngày càng tiêu điều, phiền công tử lo giùm". Sinh vâng dạ, nhưng xin chỉ nhận một nửa số

vàng. Bà ép cầm cả rồi tiễn sinh ra cổng, gạt lệ quay vào. Sinh lấy làm lạ lùng ngờ vực, ngoảnh lại

nhìn tồ phủ đệ thì là ngơi mộ lớn, mới hiểu ra rằng phu nhân chính là bà ngoại vợ mình. Về tới nhà

bèn xuất tiền mua một khoảnh ruộng quanh mộ, tu bổ dọn dẹp rất đẹp đẽ tươm tất.

Họ Lưu có hai cháu nội, lớn tức Kinh Khanh còn thứ tên Ngọc Khanh, là kẻ rượu chè cờ bạc lêu

lổng, cả hai đều nghèo. Hai anh em tới nhà sinh tạ ơn, sinh đều tặng cho rất hậu, từ đó thường qua lại

với nhau. Sinh kể đầu đi việc mình đi bn, Ngọc Khanh nghĩ thầm rằng trong mộ ắt có vàng, đêm

tối rủ mấy tên cờ bạc tới đào mộ tìm, phá vỡ quan tài phơi cả xương cốt ra nhưng không được chút gì,

thất vọng tan đi. Sinh được tin mộ bị phá, báo cho Kinh Khanh, Kinh Khanh tới gặp sinh rồi cùng đi

xem. Vào tới huyệt mộ thì thấy số vàng phu nhân giữ lại trước đây vẫn chồng chất trên án, Kinh Khanh

muốn chia đơi với sinh. Sinh nói "Phu nhân giữ số vàng này lại vốn là để chờ dịp cho huynh thôi mà",

Kinh Khanh bèn chở cả về. Kế báo lên huyện, quan tư lùng bắt rất gấp, sau bắt đước người bán một

chiếc trâm ngọc trong mộ, tra hỏi mới biết Ngọc Khanh là kẻ chủ mưu. Quan huyện muốn trị tội Ngọc

Khanh thật nặng, Kinh Khanh hết sức kêu xin cho mới được khỏi tội chết. Cả hai nhà cùng ra sức sửa

sang trong ngoài ngơi mộ, so ra còn bền chắc đẹp đẽ hơn lúc trước. Từ đó Liêm Lưu cùng giàu có,

duy Ngọc Khanh vẫn nghèo như cũ. Sinh và Kinh Khanh thường chu cấp cho, song rốt lại vẫn không

đủ cho y cờ bạc. Một đêm có bọn cướp vào nhà sinh trói người khảo của, sinh chơn vàng cứ một ngàn

năm trăm lượng vàng là một vò, bèn chỉ chỗ cho chúng đào, bọn cướp lấy được hai vò. Lúc ấy chỉ có

con ngựa ma trong tàu, chúng bèn thắng cương vào chở vàng đi, lại bắt sinh theo, ra tới ngồi đồng

mới thả cho về.



Người trong thơn thấy ánh đèn đuốc của bọn cướp còn chưa xa lắm, hò hét đuổi theo, chúng hoảng

hốt bỏ chạy. Mọi người đuổi tới chỗ ngơi mộ thì thấy vàng rơi tung t trên đường mà con ngựa thì

biến thành tro giấy, mới biết con ngựa cũng là ma. Đêm ấy nhà sinh chỉ mất có một chiếc vòng vàng

mà thơi. Vốn trước đó bọn cướp bắt vợ sinh, thấy nàng xinh đẹp toan cưỡng hiếp, nhưng có một tên

đeo mặt nạ quát thét bảo thơi, giọng nói giống như Ngọc Khanh. Bọn cướp bèn tha vợ sinh, chỉ lột

chiếc vòng vàng nàng đeo ở tay. Sinh vì vậy ngờ đó là Ngọc Khanh, nhưng cũng thầm cám ơn y. Sau

bọn cướp bán chiếc vòng vàng đánh bạc, bị cơng sai bắt được, tra hỏi bè đảng thì quả trong đó có

Ngọc Khanh. Quan huyện tức giận, dùng trọng hình trị tội. Kinh Khanh bàn với sinh định đem nhiều

tiền lo lót để cứu, nhung chưa kịp làm gì thì Ngọc Khanh đã chết trong ngục, từ đó sinh vẫn cấp dưỡng

cho vợ con y. Về sau sinh thi đỗ Cử nhân, con cháu mấy đời đều giàu có. Than ơi, tự dạng chữ “tham"

ngang sổ chấm phết rất giống chữ "bần", hạng người như Ngọc Khanh đủ để làm điều răn vậy.



160. Gái Thần (Thần Nữ)

Mễ sinh là ngươi đất Mân (tỉnh Phúc Kiến), người kể chuyện quên mất tự hiệu quận ấp. Vào quận

thành chơi, say đi ngoài phố, nghe trong một tòa nhà lớn có tiếng đàn sáo ầm ĩ, hỏi người ở quanh thì

họ đáp nhà ấy mở tiệc mừng thọ, song ngoài cổng trong sân lại rất vắng vẻ. Lắng tai nghe thấy tiếng

sênh phách vang lừng, sinh đang say lấy làm ưa thích, khơng hỏi là nhà ai, cứ ra đầu phố mua lễ vật

chúc mừng rồi đưa thiếp vào, xưng là vãn sinh. Có người thấy sinh ăn mặc tầm thường bèn hỏi có họ

hàng thế nào với ơng già kia, sinh đáp khơng có. Người ấy nói nhà ấy là người nơi khác tới đây ngụ

cư, khơng rõ là quan gì nhưng rất kiêu kỳ, khơng phải là họ hàng thì gặp làm gì? Sinh nghe thấy hối

hận, nhưng danh thiếp đã đưa vào rồi. Phút chốc có hai thiếu niên ra đón khách, trang phục rực rỡ,

dáng điệu phong nhã, vái chào sinh rồi mời vào. Thấy một ông già ngồi quay mặt về hướng nam, hai

bên bày mấy bàn tiệc, khách có sáu bảy người đều như bậc quý quan, thấy sinh vào đều đứng lên làm

lễ, ông già cũng chống gậy đứng dậy.

Sinh đứng hồi lâu đợi đón khách mà ơng vẫn khơng rời khỏi chỗ. Hai thiếu niên đỡ lời, nói "Phụ

thân già yếu, vái chào khó khăn, anh em bọn ta xin thay mặt tạ ơn bậc cao hiền hạ cố”. Sinh khiêm tốn

đáp tạ xong, họ mời vào một bàn phía trên, bên cạnh ơng già. Giây lát ban nhạc ra múa hát ở dưới, sau

tiệc bày bình phong lưu ly che đám phụ nữ trong nhà. Tiếng đàn sáo ầm ĩ, khách khứa khơng thể

chuyện trò gì nữa. Sắp tan tiệc, hai thiếu niên đứng lên, đều rót chén lớn mời khách, chén đựng khoảng

ba đấu. Sinh ngần ngại nhưng thấy khách nhận cũng nhận. Giây lát nhìn quanh thấy chủ khách đều đã

cạn chén, bất đắc dĩ cũng phải cố uống. Thiếu niên lại rót, sinh thấy mệt quá đứng lên cáo lui, thiếu

niên nắm áo giữ lại. Sinh say quá gục xuống đất, thấy có người lấy nước lạnh rưới vào mặt, chợt tỉnh

dậy nhìn thì khách khứa đã về hết, chỉ còn một thiếu niên xốc cánh tay đưa ra, bèn chào về. Sau đó lại

qua ngang cổng, thì thấy đã dời đi ở chỗ khác.

Sinh từ quận về, tới ngang chợ có một người trong qn bước ra mời vào uống rượu. Nhìn thì

khơng quen nhưng cũng theo vào, thấy trong bàn đã có người làng là Bão Trang ngồi trước. Hỏi người

đó thì là họ Chư, làm nghề mài gương trong chợ. Hỏi sao biết mình, Chư nói "Ơng có biết người khao

thọ hơm trước là ai khơng?". Sinh đáp khơng biết, Chư nói "Ta ra vào nhà ấy nhiều lần, ơng già họ

Phó, nhưng không rõ quê quán quan tước. Lúc tiên sinh vào mừng thọ, ta đang ở dưới thềm nên biết

mặt". Chiều tối tan tiệc chia tay về, đêm Bão Trang chết trên đường. Cha Bão không biết Chư, cứ tên

sinh mà kiện. Khám thấy xác Bão Trang có vết thương nặng, sinh bị kết án mưu sát, khép vào tội chết,

chịu đủ mùi gơng cùm nhưng vì chưa bắt được Chư, khơng đủ chứng cớ nên còn để đấy.

Hơn năm, quan Trực chỉ đi tuần tra các nơi, xét biết bị oan tha sinh ra. Nhà cửa ruộng vườn đã

mất hết mà mũ áo nho sinh cũng bị lột, nhưng sinh nghĩ có thể xin lấy lại được nên lại xách khăn gói

lên quận. Trời xế chân mỏi ngồi nghỉ cạnh đường, thấy một chiếc kiệu nhỏ từ xa đi tới, có hai tỳ nữ áo

xanh đi kèm hai bên. Kiệu đã đi qua bỗng dừng lại, không biết bên trong nói gì, giây lát một tỳ nữ áo

xanh tới hỏi sinh có phải chàng họ Mễ khơng? Sinh giật mình đứng dậy nói phải. Hỏi sao nghèo túng



tới mức này, sinh kể lại duyên do. Lại hỏi đi đâu, sinh lại trả lời. Tỳ nữ áo xanh quay về chiếc kiệu

nói chuyện với bên trong, lát sau trở lại mời sinh tới trước kiệu. Trong kiệu có một bàn tay búp măng

vén rèm lên, liếc nhìn thì là một giai nhân tuyệt thế. Nàng nói với sinh "Chàng khơng may gặp chuyện

rủi ro, nghe thấy mà buồn. Ngày nay dinh Học sứ không phải là nơi ra vào tay khơng được, nhưng giữa

đường khơng có gì tặng”. Bèn rút một cành hoa khảm ngọc cài trên tóc đưa sinh, nói "Vật này có thể

bán được một trăm đồng vàng, xin cầm lấy”. Sinh lạy tạ, toan hỏi lai lịch thì kiệu đi rất nhanh đã ra xa

rồi, khơng rõ là ai nữa. Cầm cành hoa ngắm nghía thấy trên khảm ngọc trai, không phải vật tầm

thường, liền cất kỹ rồi lên đường.

Tới quận đưa đơn, trên dưới vòi vĩnh hạch sách rất khổ, giở cành hoa ra ngắm, không nỡ bán bèn

quay về. Trở về khơng có nhà ở, phải nương tựa anh trai và chị dâu. May được anh hiền, lo lắng chăm

sóc cho nên nghèo mà vẫn không phải bỏ học. Năm sau sinh lên quận thi khoa Đồng tử, lầm đường lạc

vào núi sâu. Lúc ấy đang tiết Thanh minh, người du xn rất đơng, có mấy cơ gái cưỡi ngựa đi tới,

trong có một nàng, chính là người ngồi trong kiệu năm trước. Thấy sinh nàng dùng cương hỏi đi đâu,

sinh trả lời. Cô gái giật mình hỏi "Chàng vẫn chưa lấy lại được khăn áo nho sinh à?”. Sinh thẹn, rút

cành hoa khảm ngọc trong áo ra, nói "Khơng nỡ bỏ vật này nên vẫn còn là Đồng tử". Cơ gái đỏ bừng

cả mặt, dặn ngồi đợi ở góc đường, dong ngựa chậm rãi đi. Hồi lâu, một tỳ nữ ruổi ngựa tới đưa sinh

một cái gói, nói "Nương tử nói ngày nay cửa quan Học sứ như cái chợ, xin tặng hai trăm lượng bạc

làm vốn tiến thủ”. Sinh từ chối, nói "Nương tử làm ơn cho ta đã nhiều rồi! Tự nghĩ thi đỗ khơng phải

là khó, khơng dám nhận món tiền lớn này. Chỉ xin được biết họ tên để vẽ một bức hình, đốt hương

tưởng bái nương tử là đủ, Tỳ nữ khơng nghe, đặt gói tiền xuống đất rồi đi. Từ đó sinh chi dùng đầy đủ,

nhưng rốt lại vẫn không thèm cầu cạnh, sau đỗ đầu vào trường huyện. Đưa cả tiền cho anh, anh khéo

buôn bán nên trong ba năm khôi phục được hết cơ nghiệp cũ.

Lúc ấy Tuần phủ Phúc Kiến là học trò ơng nội sinh, giúp đỡ rất nhiều nên anh em trở nên giàu có.

Nhưng sinh vốn là ngươi trong sạch ngay thẳng nên tuy quen thân với quan lớn mà không lần nào tới

nhờ vả. Một hơm có khách mặc áo cừu cưỡi ngựa tới cổng, cả nhà đều không biết là ai. Sinh ra xem

thì là cơng tử họ Phó, bèn vái chào mời vào, thăm hỏi trò chuyện, bày rượu khoản đãi. Khách lấy cớ

bận từ chối, nhưng cũng không nói tới chuyện ra về. Khi cơm rượu bày lên, cơng tử đứng dậy xin nói

chuyện riêng, mời vào nhà trong thì lạy sụp xuống đất. Sinh kinh ngạc hỏi có chuyện gì, cơng tử buồn

bã nói "Phụ thân mắc vạ lớn có điều muốn nhờ quan Tuần phủ, khơng phải anh thì khơng ai nói giúp

được". Sinh từ chối, nói "Ơng ta tuy là chỗ quen biết lâu đời nhưng trước nay ta chưa bao giờ vì việc

riêng mà cầu cạnh xin xỏ ai cả". Công tử phục xuống đất khóc lóc năn nỉ, sinh nghiêm sắc mặt nói

"Tiểu sinh với công tử chẳng qua chỉ nhân một bữa tiệc mà quen nhau, sao lại đem chuyện mất danh

tiết ép buộc nhau thế?". Công tử thẹn quá, đứng dậy từ biệt rồi đi.

Hơm sau sinh đang ngồi một mình thì có một người áo xanh bước vào, nhìn ra thì là tỳ nữ đưa tiền

tặng trong núi trước kia. Sinh giật mình đúng dậy, người ấy hỏi "Chàng quên cành hoa khảm ngọc rồi

sao?”, sinh đáp ”Dạ dạ, không dám qn". Người ấy nói “Cơng tử hơm qua là anh ruột của nướng tử

đấy". Sinh nghe thế mừng thầm, vờ nói "Chuyện đó khó tin lắm, nếu được nương tử thân hành tới đây



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phu Nhân Nhà Họ Lưu (Lưu Phu Nhân)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×