Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mơ Thấy Chó Sói (Mộng Lang)

Mơ Thấy Chó Sói (Mộng Lang)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Năm sau, có tin báo Giáp được tiến cử về bộ Lại, người chúc mừng tới chật cổng. Ông chỉ than

thở nằm bẹp, thác bệnh không ra tiếp một ai. Không bao lâu nghe tin con trai về kinh gặp cướp, thầy tớ

đều bị giết. Ơng trở dậy nói với mọi người “Cơn giận của quỷ thần chỉ dành cho riêng nó, ơn che chở

cho nhà ta như vậy khơng phải không sâu nặng đâu”, rồi thắp hương lạy tạ. Người tới an ủi đều cho

rằng đó chỉ là tin đồn thất thiệt trên đường, riêng ông tin chắc không hề nghi ngờ, cứ định ngày xây mộ.

Nhưng Giáp vốn chưa chết. Trước là tháng tư Giáp thôi chức lên đường, vừa ra khỏi huyện liền gặp

cướp, dốc hết rương hòm ra nộp nhưng chúng nói "Bọn ta tới đây để rửa nỗi căm tức của dân cả một

huyện, đâu phải chỉ vì bấy nhiêu!", rồi chém đầu Giáp. Lại hỏi đám gia nhân rằng Tư Đại Thành là ai?

Tư vốn là tay chân tâm phúc của Giáp, giúp kẻ dữ làm điều ác. Đám gia nhân đều chỉ vào y, bọn cướp

cũng chém ln. Lại có bốn tên nha lại sâu mọt là tay sai vơ vét tiền bạc cho Giáp, được Giáp đưa

theo về kinh cũng bị lôi ra chém chết. Bấy giờ bọn cướp mới chia của cải, chất lên ngựa phóng đi.

Hồn Giáp nằm bên đường, thấy một vị quan lớn đi ngang hỏi người bị giết là ai, toán quân mở

đường bẩm “Là Tri huyện họ Bạch ở huyện mỗ". Vị quan nói "Đó là con họ Bạch, khơng nên để y cuối

đời phải nhìn thấy cảnh thảm khốc này, cứ chắp đầu lại cho hắn”. Lập tức có một người nhặt đầu Giáp

đặt lên cổ, nói "Kẻ gian tà khơng cần chắp cho ngay ngắn, cứ cho vai đỡ cằm là được", rồi bỏ đi. Lát

sau Giáp sống lại, vợ con tới nhặt xác thấy còn thoi thóp bèn chở về, từ từ đổ nước cháo cho, cũng

uống được nhưng phải sống nhờ ở qn trọ vì nghèo q khơng về được. Khoảng nửa năm, ơng Bạch

được tin đích xác, sai con thứ tới đón về. Giáp tuy sống lại nhưng mắt nhìn thấy lưng, không giống con

người nữa. Con trai người chị ông Bạch thì làm quan có tiếng tốt, năm ấy được tiến cử làm Ngự sử,

đều đúng như ông mơ thấy.

Dị Sử thị nói: Trộm than rằng trong thiên hạ quan là cọp mà lại là sói, ở đâu cũng vậy. Cho dù

quan khơng phải là cọp thì nha lại cũng sẽ là sói, huống hồ kẻ làm quan còn dữ hơn cả cọp sao?

Phàm điều người ta lo là không thể nhìn thấy phía sau mà thơi, đây cho sống lại mà lại còn làm

cho nhìn thấy được phía sau, bài học của quỷ thần mới sâu xa làm sao!



157. Cung Trời (Thiên Cung)

Quách sinh là người kinh đô, tuổi ngoài hai mươi, dung mạo đẹp đẽ. Một buổi chiều có bà già

mang cho một bình rượu, lấy làm lạ vì khơng biết dun cớ. Bà già cười nói "Khơng cần hỏi, cứ uống

vào sẽ có chuyện hay", rồi bỏ đi. Sinh mở bình ngửi thử, thấy thơm lừng bèn uống. Chọt say lịm khơng

biết gì nữa, khi tỉnh dậy thì thấy đang nằm chung với một người, sờ thấy da thịt mềm mại, mùi hương

sực nức, té ra là con gái, hỏi thì khơng đáp, Qch, bèn làm ln. Kế lấy tay mò lên vách thấy tồn

bằng đá, khơng khí ẩm thấp đầy hơi đất như trong mồ, cả sợ ngờ là bị ma dụ. Nhân hỏi cô gái “Nàng

là thần gì?", nàng đáp “Ta khơng phải là thần mà là tiên, đây là động phủ. Ta cùng ngươi vốn có túc

duyên, xin chớ ngờ vực, cứ ở lại đây. Qua một lần cửa nữa, chỗ có ánh sáng lọt vào là nơi đại tiểu

tiện". Nói rồi trở dậy đóng cửa đi mất. Hồi lâu Quách thấy đói, có nữ đồng mang bánh bao, miến vịt

vào, cứ cho ăn mò trong bóng tối, tối đen như mục khơng biết ngày hay đêm. Không bao lâu cô gái

vào ngủ mới biết đã là đêm, Qch nói "Ngày khơng ánh mặt trời, đêm không ánh đèn lửa, ăn uống

không biết mồm ở đâu nếu cứ thế này thì Hằng Nga khác gì La Sát, thiên đường khác gì địa ngục?". Cơ

gái cười nói "Vì ngươi là người trần tục, nhiều lời dễ lộ nên ta không muốn ra mặt gặp nhau. Vả lại

mò mẫm trong bóng tối thì xấu đẹp cũng có thể biết, cần gì đèn đuốc?".

Ở vài hơm, Qch vô cùng buồn chán, mấy lần xin về. Cô gái nói “Đêm mai cùng chàng lên Thiên

cung chơi một lần rồi sẽ chia tay". Hơm sau chợt có a hồn nhỏ cầm đèn lồng vào nói "Nương tử chờ

chàng đã lâu”. Quách theo ra, dưới ánh sao đêm vằng vặc chỉ thấy vô số lầu gác. Qua mấy đoạn hành

lang chạm vẽ tới một nơi trên thềm treo rèm châu, đèn đuốc sáng rực như ban ngày. Bước vào thì thấy

một mỹ nhân trang điểm lộng lẫy ngồi quay mặt về hướng nam, tuổi khoảng hai mươi, áo gấm lóa mắt,

đầu đính minh châu rủ xuống bốn phía, dưới đất bày đầy đuốc ngắn soi rõ cả gấu quần, đúng là người

trời. Quách hoang mang váng vất, bất giác quỳ xuống, cơ gái sai tỳ nữ đỡ dậy dìu vào ghế. Phút chốc

các món bát trân bày lên la liệt cơ gái rót rượu nói "Uống chén này để đưa chàng về”. Quách khom

người thưa “Trước giáp mặt mà không biết người tiên, thật rất thẹn thùng, nếu cho chuộc lỗi, xin làm

kẻ bầy tôi trung thành suốt đời". Cô gái quay nhìn tỳ nữ mỉm cười rồi sai dọn tiệc vào phòng ngủ.

Trong phòng cũng màn gấm tua thêu, chăn là thơm phức, nàng bảo Quách ngồi lên giường. Uống thêm

một lúc, mấy lần nói "Chàng xa nhà đã lâu, nay tạm về cũng không sao". Hết canh một Quách vẫn chưa

cáo từ, cô gái gọi tỳ nữ cầm đèn lổng tiễn ra. Quách im lặng, giả say lăn ra giường, lay gọi gì cũng

khơng động, nàng bèn sai các tỳ nữ đỡ dậy cỡi quần áo ra, một nàng vuốt chỗ kín của Qch nói “Gã

trai này mặt mũi ơn nhã mà sao cái này chẳng có chút gì văn vẻ!", đặt Quách xuống giường rồi cùng

cười rộ đi ra.

Cơ gái cũng lên nằm, Qch trở mình, nàng hỏi "Say lắm khơng?", Qch đáp "Tiểu sinh có say

đâu! Chỉ là mới nhìn thấy người tiên tâm thần đã điên đảo đó thơi”. Cơ gái nói "Đây là Thiên cung,

trời chưa sáng đã phải ra, nếu vào động phủ thấy buồn chán thì chẳng bằng sớm từ biệt”, Quách nói

“Nay có người ban đêm nhặt được đóa hoa, mò cánh ngửi mùi mà khơng có đèn đuốc, tình cảnh ấy



làm sao chịu được?". Nàng cười, sai lấy thêm đèn đuốc. Vừa sang canh tư đã gọi tỳ nữ cầm đèn ôm

áo đưa Quách ra. Vào động phủ thấy trần thiết tinh xảo, chỗ ngủ lót nệm da, trải thảm lơng dày cả tấc.

Qch đã cởi giày khốc chăn mà người tỳ nữ còn bịn rịn chưa đi, để ý nhìn kỹ thấy dung mạo xinh

xắn bèn đùa hỏi "Người chê ta không văn vẻ là nàng phải không?". Cô ta cười đá vào cái gối nói

"Chàng cứ nằm uỡn ra đi, đừng có lắm lời" Nhìn chiếc giày của cơ ta thấy đính viên ngọc trai to bằng

hạt đậu lớn, Qch nắm lấy kéo cơ ta vào lòng, ơm ấp vuốt ve, cơ ta khơng kìm được cứ rên lên.

Quách hỏi bao nhiêu tuổi, đáp mười bảy. Hỏi "Xử nữ cũng biết tình sao?”, đáp “Thiếp khơng còn là

xử nữ, nhưng hoang vắng đã ba năm rồi". Quách hỏi dò tên họ q qn thứ bậc người tiên, cơ ta nói

"Đừng hỏi! Đây dù khơng phải thượng giới cũng là cõi trần hiếm có, nếu cứ muốn biết rõ e khơng có

đất mà chơn đâu”, Qch nghe thế khơng dám hỏi nữa.

Đêm sau cô gái quả mang đèn tới cùng nhau ăn ngủ, ngày nào cũng vậy. Một đêm nàng vào nói

“Vẫn mong cùng nhau vui vầy mãi mãi, khơng ngờ tình người ngăn trở, nay phải qt dọn thiên cung,

không thể lưu chàng ở đây được nữa, xin cùng chuốc chén từ biệt”. Quách rơi nước mắt, xin cho chiếc

áo lót làm kỷ vật. Cơ gái khơng cho, chỉ tặng một cân vàng ròng, trăm hạt ngọc châu. Uống cạn ba

chén, Quách bỗng say lịm. Khi tỉnh dậy thấy tay chân như bị trói chặt, khơng duỗi chân được, cũng

khơng ngóc đầu lên được. Gắng sức lăn lộn thì nhào xuống giường, mò mẫm thấy mình bị nhét vào cái

túi gấm, ngồi có dây buộc chặt. Ngồi lên ngẫm nghĩ, thấy cái giường mờ mờ mới biết đang trong

phòng sách nhà mình. Lúc ấy Qch rời nhà đã ba tháng, người nhà đều cho là đã chết. Quách lúc đầu

không dám kể rõ chuyện, sợ bị tiên trừng phạt, nhưng lòng vẫn lạ lùng ngờ vực, thỉnh thoảng lại lén kể

cho bạn bè, nhưng không ai biết duyên cớ do đâu. Cái túi chăn vẫn để ở đầu giường, mùi hương ngát

phòng, xem kỹ thì là loại vải Hồ Châu tẩm hương liệu, trân trọng cất đi.

[189]



Sau có quan lớn Mỗ nghe chuyện, hỏi kỹ rồi cười nói "Đó là người quen của Giả hậu

, chứ

người tiên nào lại làm thế. Nhưng nên giữ kín chuyện này, lộ ra thì chết cả họ đấy". Có người thầy

đồng vẫn ra vào các nhà quyền q nói rằng hình dáng lầu gác như thế thì rất giống dinh Nghiêm

[190]



Đơng . Quách nghe thế khiếp đảm, đưa cả gia đình đi biệt xứ, không bao lâu Nghiêm bị giết mới

trở về.

Dị Sử thị nói: Gác cao sáng rỡ, hương nức màn thêu, tỳ nữ trẻ đẹp, giày đính minh châu, nếu

khơng phải nhà quyền gian phóng túng, hào quý kiêu xa thì sao được như vậy? Thẻ tính dâm vừa

[191]



ném, nhà vàng biến thành lãnh cung, ống nhổ thơm chưa khô, ruộng tình đã tràn cỏ dại

.

Giường khơng não ruột, đuốc tắt tiêu hồn, mày cau trước đài vàng, mắt mờ trong trướng gấm. Khiến

cho kẻ kia nhân nhờ chén rượu, thẳng lối cung tiên, giữa làng ôn nhu, ngỡ người tiên tử. Mắng kẻ sang

[192]



dâm loạn, chẳng đủ thẹn người nhưng ruộng tốt bỏ hoang



, cũng đủ tự răn vậy.



158. Bản Án Oan Khuất (Oan Ngục)

Chu sinh người huyện Dương Cốc (tỉnh Sơn Đơng), tuổi trẻ tính hời hợt, ưa đùa cợt. Vì vợ chết

nên tới gặp bà mối, nhân thấy vợ người láng giềng của bà ta xinh đẹp bèn nói đùa “Quý hàng xóm đẹp

quá, nếu ta cưới được thì hay lắm”. Bà mối cũng đùa rằng "Cứ giết chồng người ta đi, thì ta sẽ tính

giùm cho". Sinh cười nói "Được thơi”. Hơn tháng sau, chồng người ấy đi đòi nợ bị giết ngồi đồng.

Quan huyện sai bắt chức dịch trong làng, đánh đập tóe máu nhưng rốt lại vẫn khơng có manh mối gì.

Chỉ có bà mối kể lại chuyện sinh nói đùa, quan vì thế nghi là Chu sinh, sai bắt tới hỏi thì nhất quyết

không nhận. Quan huyện lại ngờ rằng người đàn bà tư thông với sinh, sai bắt luôn, tra tấn rất tàn khốc,

người đàn bà không chịu nổi bèn nhận bừa. Quan lại tra hỏi Chu, Chu nói "Đàn bà yếu ớt khơng chịu

đau nổi nên nhận bừa, có điều đã chết oan còn mang thêm tiếng xấu bất trinh, giả như quỷ thần vơ tri

thì ta cũng khơng nỡ. Thơi để ta khai thật, đúng đấy, ta muốn giết chồng để lấy người vợ, chuyện này

đều do ta làm, nàng ta khơng biết gì đâu”.

Hỏi có chứng cớ gì khơng, sinh đáp là có chiếc áo vấy máu làm bằng. Quan sai tới nhà lục sốt thì

khơng thấy, lại tra tấn, Chu chết đi sống lại mấy lần bèn nói "Đây là vì mẹ ta khơng nỡ đưa ra để ta

phải chết thôi, để ta tự đi lấy". Quan cho giải về nhà, sinh nói với mẹ "Đưa áo con ra thì con phải

chết, mà khơng đưa ra thì con cũng chết. Đàng nào con cũng chết, thôi mẹ đưa ngay ra đây đi". Bà mẹ

khóc đi vào phòng, lát sau cầm tấm áo đưa ra. Quan khám nghiệm thấy đúng là có vết máu, kết án xử

chém sinh, bàn đi xét lại nhiều lần khơng ai nói gì khác, được hơn một năm thì định ngày hành quyết.

Hơm ấy quan huyện vừa mới điểm danh phạm nhân chợt có một người đi thẳng vào cơng đường, trợn

mắt nhìn quan huyện mắng lớn "Ngươi mù mờ như thế làm sao coi việc dân?”. Bọn nha dịch mấy

mươi người xúm vào bắt, người ấy gạt tay một cái, cả đám ngã dúi dụi. Quan huyện khiếp sợ toan

[193]



chạy, người ấy nói lớn "Ta là Chu Tướng quân dưới trướng Quan Đế

đây! Tên quan ngu xuẩn kia

mà nhúc nhích thì ta giết chết tươi đấy!". Quan huyện run sợ đứng im, người ấy nói "Kẻ giết người là

Cung Tiêu, chứ họ Chu có dính líu gì tới?". Nói xong ngã lăn xuống đất ngất đi, lát sau tỉnh lại, mặt

khơng còn chút máu, hỏi tên họ thì là Cung Tiêu.

Bắt lấy tra hỏi thì y nhận hết tội. Té ra Cung vốn là kẻ liều lĩnh, biết là người kia đi đòi nợ về,

cho rằng có mang nhiều tiền trong người bèn giết chết, nhưng chẳng được đồng nào. Nghe Chu sinh

nhận tội bừa, trong lòng ngầm lấy làm may mắn, nhưng hôm ấy bỗng tự đi vào công đường mà không

biết gì cả. Quan huyện hỏi Chu lấy chiếc áo vấy máu ở đâu ra, Chu cũng không rõ, gọi mẹ Chu lên hỏi,

thì ra là bà cắt cánh tay lấy máu bôi vào, khám tới cánh tay trái của bà thì thấy có vết dao cắt vào còn

chưa lành hẳn. Quan huyện cũng kinh ngạc, sau đó bị hặc tội vì vụ này, kế bị cách chức giam cầm rồi

chết. Hơn năm sau mẹ người đàn bà muốn gả chồng cho con, nàng cảm nghĩa của Chu, bèn lấy Chu.

Dị Sử thị nói: Xét án là phận sự hàng đầu của kẻ làm quan, vun bồi âm đức hay vùi lấp lẽ trời

đều là ở đó nên khơng thể khơng cẩn thận vậy. Nóng nảy dữ tợn, làm trái đức hòa thì khơng những

làm việc xét án kéo dài mà còn khiến cho sinh dân thương tổn. Một kẻ đi kiện thì mấy người bỏ



ruộng nương, một vụ xử xong thì mười nhà tan cơ nghiệp, há lại coi là chuyện nhỏ sao! Ta thường

nói kẻ làm quan khơng nhận xử kiện nhiều tức là có đức tốt mà khơng phải chuyện trọng đại thì

chẳng cần tra xét, khơng phải việc khó khăn thì bất tất lưu tâm. Như có bọn dân quê trên núi trong

làng, vì ngẫu nhiên tranh nhau con vịt con gà mà đi thưa đi kiện, thì chẳng qua chỉ cần một câu

nói của quan trên là đủ thu xếp yên chuyện thôi. Thế mà không chịu chu tồn cho người ta, đòi cả

bên ngun bên bị tới, lập tức đánh đập tra khảo, tới nỗi roi hèo gãy hết, như vậy đâu phải là

quan huyện thần minh? Vẫn thấy có ơng quan huyện xử kiện vừa phát trát đòi đi thì hầu như đã

qn bẵng, mà kẻ sai dịch đi bắt người túi chưa đầy thì khơng cho thấy trát quan, kẻ thư lại xếp

lịch xử tiền chưa cầm thì khơng chịu trình án kiện, che giấu dằng dai, kéo dài ngày tháng, dân đen

chưa kịp ra tới cơng đường thì xương thịt đã tan nát cả rồi.

Thế mà kẻ nghiễm nhiên làm cha mẹ dân cứ ngủ kỹ trên giường như là vô sự, nào biết rằng

trong chốn ngục tù nguy ngập có vơ số oan hồn đang thoi thóp dài cổ trơng chờ được cứu ra đâu?

Nếu đúng kẻ gian ác bất lương, thật không đáng tiếc, nhưng là người thiện lương vô tội, chịu vậy

sao kham? Huống chi trong những kẻ bị liên can thì thường kẻ gian ác ít, người lương thiện nhiều,

mà người lương thiện lại thường bị hại nhiều gấp bội kẻ gian ác. Tại sao lại như thế? Vì kẻ gian

ác thì khó hành hạ, mà người lương thiện thì dễ khinh khi vậy. Cho nên sai dịch chửi mắng, thư lại

vòi tiền, đều nhằm vào người lương thiện mà trút lòng tham bạo. Thường dân đen bước vào cửa

công như đi trên lửa đỏ, xử án sớm được một ngày là sống yên sớm được một ngày, nên có chuyện

gì lớn thì nhìn lên cơng đường thẫn thờ như người chết rồi, chỉ lo không đủ tiền để lấp đầy túi

tham, đành nghĩ muốn yên thân còn phải nhiều ngày tháng. Như thế thì tuy quan trên khơng tàn

bạo nhưng thật ra cũng có tội ngang bọn sai dịch thư lại vậy. Thường thấy trong các đơn kiện thì

kẻ cần phải đòi tới chẳng qua chỉ có vài ba người, còn lại đều là dân đen vơ tội bị thêu dệt vu cáo

mà thơi. Có khi vì ngày thường hiềm khích nên thành ốn thù, có khi là trong nhà có của nên bị

ghen ghét, bên nguyên đối với kẻ bị kiện chính thì mới ra sức làm sao cho bị khép tội, chứ đối với

số còn lại thì chỉ là để trả thù vặt. Nhưng người bị thưa kiện thì tựa hồ bị ung nhọt trong xương,

chịu đủ tội ở cửa công cũng phải muôn ngàn đau đớn, người ta quỳ cũng quỳ, tựa chim theo lũ,

người ta bước cũng bước, như khỉ bị xiềng. Nhưng xét lại thì quan trên khơng hỏi, thư lại khơng

tra, thật ra đều hồn tồn vơ dụng trong việc xét xử, có điều bấy nhiêu cũng đủ khuynh gia bại sản

mà nuôi béo lũ thư lại tham lam, bán vợ đợ con để thỏa dạ bọn tiểu nhân thù vặt rồi. Rất mong

nhũng người làm quan gặp việc kiện tụng thì xét sơ qua một lượt đã, kẻ cần bắt thì ra lệnh bắt, kẻ

khơng cần bắt thì thơi. Chẳng qua chỉ rung quản bút, động cổ tay mà đã là bảo tồn cho ít nhiều

gia đình, bồi bổ vào ít nhiều nguyên khí trong thiên hạ rồi. Người làm chính sự đã khơng nghĩ tới

việc ấy, lại còn chăm chăm dùng gông cùm đao kiếm, để giết người sao?



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mơ Thấy Chó Sói (Mộng Lang)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×